Bảo toàn và phát triển vốn tự có tại các ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam - Pdf 84

LỜI  MỞ ĐẦU 
1. SỰ  CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 
Tháng  12  năm  2008,  thế giới  tài  chính  toàn  cầu  sững  sốt  khi  nghe  tin 
Lehmon Brother, một trong những ngân hàng đầu tư hàng đầu của Mỹ tuyên bố 
phá sản. Điều này đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái 
kinh tế tệ hại nhất kể từ cuộc đại suy thoái trong thập niên 30 của thế kỷ 19. Sự 
sụp đổ của các tổ chức tài chính toàn cầu một thời là niềm kêu hãnh của quốc 
gia có nền tài chính hùng mạnh nhất thế giới đem đến nhiều thắc mắc cho các 
nhà kinh tế thế giới. Hàng loạt các câu hỏi, giả thuyết được đặt nhằm tìm hiểu 
những lý do. Tuy nhiên, khi căn bệnh còn chưa kịp chuẩn đoán thì mức độ lây 
lan càng thêm nghiêm trọng, khi mà chính phủ các nước giàu và nghèo cùng 
nhau can thiệp bằng nhiều cách khác nhau để tránh một sự đổ vỡ mang tính dây 
chuyền xảy ra. 
Đến đây các nhà kinh tế cũng như những người dân nộp thuế tự hỏi rằng: 
sự kiểm soát tính hiệu quả của việc sử dụng những đồng vốn tại các tổ chức tài 
chính trong quá  khứ như thế  nào? Các chính sách kiểm  soát độ  an  toàn hoạt 
động, mức độ rủi ro kinh doanh và đầu tư đã được theo dõi khoa học, chặt chẽ 
hay chưa?…Rất nhiều các câu hỏi được đặt ra trong các kỳ họp của hội đồng 
kinh tế quốc gia hoặc khi Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) điều trần trước Quốc 
hội. 
Tại  Việt Nam,  mặc  dù  ảnh  hưởng  không  nhiều  từ  cuộc  khủng  hoảng  tài 
chính toàn cầu (do chúng ta chưa đầu tư vào các sản phẩm tài chính phức tạp 
của thế giới) nhưng nền kinh tế nói chung và các tổ chức tài chính trong nước 
nói riêng cũng bị ảnh hưởng theo từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới. Do đó việc 
nhìn nhận lại các cơ chế hay chính sách quản lý rủi ro, quản lý vốn tại các ngân 
hàng thương mại cổ phần là việc cần phải làm và nên làm trong giai đoạn hiện 
nay khi mà cả thế giới đã có những thay đổi trong quan điểm về tái cơ cấu nền 
tài chính toàn cầu cũng như các phương pháp quản lý, điều hành kinh tế.
Và  đây cũng là một trong những lý do mà tôi chọn đề tài này: “ Bảo toàn và 
phát triển vốn tự có tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam ”. 
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 

gian giữa hai hay nhiều bên trong một hoạt động tài chính nhất định. Cũng có 
thể hiểu theo một cách định nghĩa khác, trung gian tài chính là một tổ chức hỗ 
trợ các kênh luân chuyển vốn giữa người cho vay và người đi vay theo phương 
thức gián tiếp. Những tổ chức trung gian tài chính mà ta thường nghe nhắc đến 
bao gồm: ngân hàng, tổ chức công nghiệp/ hiệp hội, tổ chức  tín dụng nghiệp 
đoàn, đơn  vị  tư  vấn/cố vấn  tài  chính  và môi giới,  các hình thức  công  ty bảo 
hiểm, quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí. Ngân hàng có thể định nghĩa đơn giản là tổ 
chức hoạt động  kinh doanh cung  cấp  các dịch  vụ ngân hàng  để tìm  kiếm  lợi 
nhuận. Ngân  hàng  phát  triển qua nhiều  hình  thái,  theo  xu  thế  ngày càng  mở 
rộng. Sự mở rộng thể hiện ở lượng dịch vụ, quy mô dịch vụ và ở sự lan rộng 
vượt  ra ngoài  mọi  biên  giới  địa  lý.  Ngày  nay  người  ta nhắc  đến những  khái 
niệm là ngân hàng bán lẻ, ngân hàng bán buôn, ngân hàng đầu tư…Ngân hàng 
bán lẻ chỉ những hệ thống ngân hàng lớn, nhiều chi nhánh mà đối tượng phục 
vụ thường là các khách hàng cá nhân, đơn vị riêng lẻ và tập trung và các dịch 
vụ là tiết kiệm, tạo tài khoản giao dịch, thanh toán, thế chấp , cho vay các các 
nhân, các loại thẻ tín dụng…Ngân hàng bán buôn là loại ngân hàng chỉ cung 
cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp, làm vai trò trung gian cho các doanh nghiệp. 
1.1.2 Khái niệm ngân hàng thương mại cổ  phần 
Ngân  hàng  thương  mại  cổ phần  là  các  ngân  hàng  hoạt  động  kinh doanh, 
thương mại theo mô hình cổ phần và tuân theo các luật riêng của Chính phủ và 
các  quy  chế,  quy  định  của  Ngân  hàng  nhà  nước  khi  hoạt  động.  Ngân  hàng 
thương mại cổ phần có những đặc thù khác biệt với các ngân hàng thương mại
nhà nước và ngân hàng thương mại liên doanh và chi nhánh ngân hàng thương 
mại nước ngoài. 
1.1.3 Chức năng của NHTMCP 
Chức năng tập trung vốn của nền kinh tế: Trong nền kinh tế có những chủ 
thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng một cách triệt để (ví dụ như 
vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra lưu thông) nhưng họ cũng muốn 
tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và có những chủ thể cần tiền 
để hoạt động kinh doanh. Nhưng những chủ thể này không quen biết nhau và 

hiện  chuyển  vốn  từ  tài  khoản  người  này  sang  người  khác  một  cách  nhanh 
chóng. 
Chức  năng  tạo  ra  tiền  ngân  hàng  trong  hệ  thống  ngân  hàng  hai  cấp: 
Vào cuối thế kỷ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàng 
không còn họat động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng 
trung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân 
hàng. Các ngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống 
các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt. 
1.2  KHÁI  NIỆM,  CHỨC  NĂNG  VÀ PHÂN  LOẠI  VỐN  TỰ 
CÓ NHTMCP 
1.2.1. Khái  niệm vốn tự có: vốn tự  có  là nguồn  vốn ban đầu để một doanh 
nghiệp bắt đầu tiến hành quá trình hoạt động. Hay nói các khác vốn tự có là 
nguồn vốn riệng của ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra 
trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại. Nguồn vốn này quyết 
định quy mô hoạt động của một ngân hàng cũng như các khả năng bảo vệ chính 
tổ chức sinh ra nguồn vốn này trong suốt quá trình hoạt động.
1.2.2.  Chức năng của vốn tự có 
Trong  hoạt động  của  một  ngân  hàng,  nguồn  vốn  có  vai  trò hết  sức  quan 
trọng. Ngoài việc giúp duy trì hoạt động kinh doanh hằng ngày của ngân hàng, 
một ngân  hàng với nguồn vốn phong  phú giúp  tạo nên  tính thanh khoản  cho 
toàn hệ thống tài chính thông qua các kênh phân phối vốn lại trên thị trường, 
thực hiện các chỉ tiêu kinh tế của chính phủ trong từng thời kỳ cụ thể cũng như 
các chiến lược kinh tế cơ bản của Nhà nước. 
Trong tương quan so sách quy mô hoạt động của các ngân hàng trong nước 
và các  ngân  hàng  trong  khu  vực,  nguồn  vốn  là chỉ tiêu  so  sánh  cơ bản  giúp 
phản  ánh sức mạnh, tiềm lực của từng ngân hàng cũng như khả năng chống đỡ 
các cú sốc tài chính nếu xảy ra. Từ đó, giúp phân loại, xếp hạng các ngân hàng 
với nhau để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các chuyên gia kinh tế, các nhà 
quản  lý…đánh  giá,  lựa  chọn,  tìm  cơ  hội  đầu  tư  và  giám  sát  tốt  hơn  nền  tài 
chính của quốc gia. 

được lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của các tổ chức tín dụng như 
quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư 
phát triển. Theo Quyết Định 457/2005/QĐ­NHNN ngày 19/4/2005  của 
Ngân hàng Nhà nước, vốn cấp 1 được dung để xác định giới hạn mua, 
đầu tư vào tài sản cố định của tổ chức tín dụng ( theo quy định hiện hành 
là không quá 50%).
·  Vốn cấp 2 là các nguồn vốn tự bổ sung hoặc có nguồn gốc từ bên ngoài 
của tổ chức tín dụng. Ở VN, vốn cấp 2 về cơ bản bao gồm (i) phần giá 
trị tăng thêm do định giá lại tài sản của tổ chức tín dụng ( bao gồm 50% 
giá trị tăng thêm đối với tài sản cố định, 40% giá trị tăng thêm đối với 
các loại  chứng khoán đầu tư), (ii) nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ 
bên ngoài (bao  gồm trái phiếu  chuyển  đổi, cổ  phiếu  ưu đãi  và một  số 
công cụ nợ thứ cấp nhất định) và  (iii) dự phòng chung cho  rủi ro tính
dụng  (tối  đa  bằng 1,25% tổng  tài  sản  “Có”  rủi ro). Tuy  nhiên,  Quyết 
Định  457/2005/QĐ­NHNN  ngày  19/4/2005  của  Ngân  hàng  Nhà  nước 
đưa ra một số hạn chế về vốn cấp 2. Ngoài một số điều kiện khác, tổng 
giá trị vốn cấp 2 tối đa bằng 100% tổng giá trị vốn cấp 1 và tổng gía trị 
trái  phiếu chuyển  đổi,  cổ phiếu  ưu đãi  và  các  công  cụ nợ  khác  tối  đa 
bằng 50% vốn cấp 1. 
Việc xác định vốn tự có theo hai cấp theo Quyết  định 457/2005/QĐ­NHNN 
ngày 19/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước sẽ cho phép các ngân hàng thương 
mại trong nước tính toán cụ thể và nâng cao được mức vốn tự có của mình vốn 
dĩ trước đây phần lớn chỉ được tính trên cơ sở vốn cấp 1. Do đó, hiện nay các 
tổ chức tín dụng cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc tuân thủ các tỷ lệ an toàn tính 
trên cơ sở vốn tự có. 
Ngoài ra một điều đáng lưu ý là: các tổ chức tín dụng phải trừ ra khỏi vốn 
tự có của mình (i) toàn bộ phần giá trị giảm đi của các tài sản cố định hay các 
chứng khoán đầu tư do định giá lại, (ii) tổng số vốn góp hoặc cổ phần trong tổ 
chức tín dụng khác, (iii) phần góp vốn, liên doanh, mua cổ phần của quỹ đầu 
tư,  doanh  nghiệp  vượt mức  15%  vốn  tự  có, và  (iv)  lỗ  kinh  doanh  kể  cả  các 

và không phải hoàn trả. Phương pháp này giúp ngân hàng không phụ thuộc vào 
thị trường vốn nên tránh được chi phí huy động vốn.
Nhược điểm: Chỉ áp dụng với các ngân hàng lớn, làm ăn có lãi liên tục và đều 
đặn. Hình thức này không thể áp dụng thường xuyên vì nó làm ảnh hưởng đến 
quyền lợi của cổ đông. 
Phương pháp này phụ thuộc vào:
·  Chính sách cổ  tức  của  ngân hàng: Chính  sách này cho biết ngân hàng 
cần phải giữ lại bao nhiêu thu nhập để tăng vốn phục vụ  cho mở rộng 
kinh doanh và bao nhiêu thu nhập sẽ được chia cho các cổ đông. 
Ta có: 
Mức  thu  nhập  giữ 
lại 
Tỷ  lệ thu  nhập 
giữ lại 
(Lợi  nhuận  không 
chia) 

Thu nhập sau thuế 
Tổng  giá trị 
cổ tức Tỷ lệ chi 
trả cổ tức  = 
Thu  nhập  sau 
thuế 
Tỷ lệ  thu nhập giữ lại quá thấp sẽ làm cho mức tăng trưởng vốn ngân hàng sẽ 
chậm,  dẫn  đến  giảm  khả  năng mở  rộng  tài  sản  sinh  lời,  tăng rủi  ro  phá  sản. 
Ngược lại, nếu tỷ lệ thu nhập giữ lại quá lớn sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông 
dẫn đến thị giá cổ phiếu của ngân hàng bị giảm.
·  Tốc độ tăng vốn  từ nguồn nội bộ: Một tỷ lệ tăng trưởng vốn  từ nguồn 
nội  bộ  lý  tưởng phải đáp ứng cả  hai  yêu  cầu: Một  là, ngân hàng  tăng 
trưởng được tài sản có (đặc biệt là các khoản cho vay); hai là, không làm 

hoạt động ngân  hàng sang hạch  toán  kinh tế và  kinh  doanh Xã hộ chủ  nghĩa 
HCN (làm thử đầu tiên tại TP.HCM từ tháng 7.1987, Hà Nội, Gia Lai...), sau 
đó tổng kết và Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng đã ban hành Nghị định 53/HĐBT 
ngày 26.3.1988 đổi mới mô hình tổ chức bộ máy ngân hàng Việt Nam, với sự 
ra đời của hệ thống ngân hàng chuyên doanh. Đến năm 1990, cơ chế đổi mới 
ngân hàng được hoàn thiện thông qua việc công bố hai Pháp  lệnh ngân hàng 
vào ngày 24.5.1990 (Pháp  lệnh Ngân  hàng Nhà nước VN và  Pháp  lệnh ngân 
hàng, hợp  tác xã  tín dụng và  công ty tài chính) đã chính  thức chuyển cơ chế 
hoạt động  của  hệ  thống  Ngân  Hàng  Việt  Nam  từ  “một cấp”  sang  “hai  cấp”. 
Theo đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về 
tiền tệ,  tín dụng, thanh toán, ngoại hối  và  ngân hàng,  là ngân hàng duy nhất 
được  phát  hành,  là  ngân  hàng  của  các  ngân  hàng,  là  ngân  hàng  của  Nhà 
nước…, còn hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng do các 
tổ chức tín dụng thực hiện. Các tổ chức tín dụng bao gồm: ngân hàng thương 
mại  quốc  doanh,  ngân hàng thương  mại  cổ phần, ngân  hàng  liên  doanh,  chi 
nhánh ngân  hàng  nước ngoài, hợp  tác  xã  tín  dụng,  công  ty  tài  chính.  Tháng 
12.1997 trước yêu cầu cao của thực tiễn hai Pháp lệnh ngân hàng đã được Quốc 
hội nâng lên thành hai luật về ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 1.10.1998) và sau 
đó  Luật  NHNN  và  Luật  các TCTD được  sửa  đổi  và bổ sung  vào năm 2003,
2004.  Như  vậy, hệ thống ngân hàng thương mại VN đã chính thức đánh dấu 
sự ra đời và phát triển khoảng trên 20 năm (từ 1990 đến nay). Trải qua chặng 
đường trên, hệ thống NHTM VN  đã không ngừng phát triển về quy mô (vốn 
điều lệ không ngừng gia tăng, mạng lưới chi nhánh…), chất lượng hoạt động và 
hiệu  quả  trong  kinh  doanh.  Mạng  lưới ngân  hàng  thương  mại  VN  đến  cuối 
năm  2009 đã  có  những buớc  phát  triển  mạnh phủ  khắp  quận  huyện  và  hình 
thành cả trong các trường học. Hệ thống NHTM ở nước ta bao gồm: 5 NHTM 
nhà nước (Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng đầu tư và phát triển VN, 
Ngân  hàng  phát  triển  VN,  Ngân  hàng  nông  nghiệp  và  phát  triển  nông  thôn, 
Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long), 39 NHTM cổ phần đô 
thị và nông thôn, 24 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 05 ngân hàng liên doanh, 

ngân hàng nước ngoài vượt khá xa về trình độ công nghệ ngân hàng với các hệ 
thống  máy  móc  thiết  bị  cũng  như  các  ứng  dụng  công  nghệ  thông  tin  trong 
nghiệp vụ ngân hàng. Và thứ tư là trình độ quản lý. Yếu tố này liên quan đến 
vấn đề nhân sự. Việt Nam còn thiếu rất nhiều các chuyên gia cao cấp trong lĩnh 
vực ngân hàng. Điều này không những đáng lo ngại cho các ngân hàng nội địa 
trong vấn đề quản lý ngân hàng mà còn là nguy cơ cạnh  tranh nhân lực giữa 
các ngân hàng sẽ đẩy chi phí tiền lương, tiền công lao động lên cao. Các ngân 
hàng trong nước sẽ gặp khó khăn và phải đối mặt với sự chảy máu chất xám. 
Bên cạnh những điểm hạn chế hay còn gọi là những nguy cơ tiềm ẩn nêu trên, 
các ngân hàng trong nước còn gặp phải vấn đề đáng lo ngại nữa là thị phần co 
hẹp. 
2.2.2 Động thái của các NHTMCP VN:
·  Thứ  nhất,  các  ngân  hàng  nội  địa  đã  tăng  vốn  điều  lệ.  Giải  pháp  này 
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm rủi ro, nâng cao tiềm lực tài 
chính. Theo dự báo của các chuyên gia, trong năm 2007, các ngân hàng 
TMCP  có  vốn  điều  lệ  1.000  tỉ  đồng  sẽ  chiếm  trên 80%  tổng  số  ngân
hàng đang hoạt động. Bên cạnh giải pháp tăng vốn điều lệ, một số ngân 
hàng thương mại cổ phần nông thôn trong năm 2006 đã được Ngân hàng 
Nhà nước cho phép chuyển đổi mô hình hoạt động từ ngân hàng thương 
mại cổ phần nông thôn sang ngân hàng thương mại cổ phần đô thị. Tuy 
nhiên, giải pháp tăng vốn điều lệ không tránh khỏi tình trạng các ngân 
hàng tận dụng cơ hội để phát hành cổ phiếu ồ ạt. Việc này có thể không 
tốt nếu tỉ lệ an toàn vốn quá cao (được tính bằng tỉ lệ vốn điều lệ trên 
tổng tài sản).
·  Thứ  hai,  các  NHTMCP  đua  nhau  bán  lại  cổ  phần  cho  các  ngân  hàng 
nước ngoài. Đứng trước một sân chơi lớn với sự cạnh tranh khốc liệt khi 
hội  nhập  vào  WTO  và  tận dụng  giai  đoạn  chứng  khoán  bùng nổ  cuối 
năm 2007, các ngân hàng TMCP Việt Nam tranh thủ phát hành cổ phiếu 
để  tăng  vốn  để  thu  về  sự  chênh  lệch  giá  trị  lớn  và  học  hỏi  các  kinh 
nhiệm quản lý tiên tiến, chuyên nghiệp từ các cổ đông nước ngoài trong 

động ngoại tệ quy đổi đạt 114.294 tỷ đồng, chiếm 26,1%. Dự báo đến hết năm 
2007,  tổng  nguồn  vốn  huy  động  trên  địa  bàn  thành  phố  Hồ  Chí  Minh  đạt 
460.000  ­ 465.000  tỷ  đồng, tăng 62­65% so với cuối năm 2006.  Tại Hà Nội, 
tính  đến  hết  tháng  10­2007,  tổng  nguồn  vốn  huy  động  của  các  Ngân  hàng 
thương mại và tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội đạt 326.624 tỷ 
đồng, tăng 34,54% so với cuối năm 2006, đây là mức tăng lớn nhất trong nhiều 
năm. Cũng tính đến hết tháng 10­2007, tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng 
thương mại và tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ước tính 
đạt 345.000 tỷ đồng, tăng 50% so với cuối năm 2006 và tăng 63% so với cùng 
kỳ này năm trước. 
Nếu  phân  theo  tiền  tệ thì dư nợ cho  vay  bằng  nội  tệ đạt  241.155  tỷ đồng, 
dư nợ  cho  vay  bằng  ngoại  tệ đạt  103.445  tỷ đồng.  Phân  theo  kỳ hạn 
thì dư nợ cho  vay  ngắn  hạn  đạt 209.647  tỷ đồng, dư nợ trung  và  dài  hạn đạt 
135.353 tỷ đồng. Do tỷ giá  ổn định, lãi suất cho vay ngoại tệ chỉ bằng 50% ­ 
60% mức lãi suất cho vay nội tệ nên nhiều doanh nghiệp thích vay vốn ngoại tệ
hơn, ngược lại người gửi tiền thì thích gửi bằng nội tệ hơn vì lãi suất tiền gửi 
cùng kỳ hạn của nội tệ cao gấp 2 lần tiền gửi ngoại tệ. Tại Hà Nội, dư nợ cho 
vay cũng tăng với tốc độ rất lớn. Tính đến hết tháng 10­2007, tổng dư nợ cho 
vay đạt 163.838 tỷ đồng, tăng 37,44% so với cuối năm 2006. Dự báo đến hết 
năm 2007, dư nợ cho vay sẽ đạt 171.000 ­ 174.000 tỷ đồng, tăng 45% ­ 48% so 
với cuối năm trước. Đây cũng là mức tăng cao nhất từ trước đến nay và vượt xa 
nhiều so với dự báo từ đầu năm của các ngân hàng. Một số ngân hàng thương 
mại cổ phần sẽ có mức tăng trưởng dư nợ tới 55% đến 65%. 
Về  cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn, cho vay ngắn hạn đạt 100.089 tỷ đồng, 
tăng 33,50% và dư  nợ cho vay trung dài hạn đạt 63.749 tỷ đồng, tăng 44,10%. 
Tín dụng trung dài hạn  tăng  cao hơn ngắn hạn chứng  tỏ nhu  cầu  vốn  đầu tư 
chiều sâu, đầu tư cho mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng nhà xưởng, lắp 
đặt trang thiết bị mới và hiện đại tăng lên. 
Một nguyên nhân khác, vốn đầu tư cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, 
khu đô thị mới, dự án nhà  ở, vốn cho vay mua nhà chung cư, mua ô tô, phương 

12% ­ 13% thì đến nay chiếm 15,85%. Các Ngân hàng liên doanh chỉ chiếm 
2,48%; tỷ trọng thị phần còn lại các Công ty tài chính, Công ty tài chính và quỹ 
tín dụng nhân dân. 
Trong  khi  đó  tính  đến hết  năm 2006, tổng nguồn  vốn huy động  của khối 
NHTM Nhà nước đạt 112.947 tỷ đồng, chiếm 43,49% so với tổng nguồn vốn 
huy động của ngành ngân hàng trên địa bàn, giảm khoảng 4% so với năm 2005. 
Khối NHTM cổ phần đạt 99.013 tỷ đồng, chiếm 38,13% và tăng thêm tỷ trọng 
thị phần 4,21% so với năm 2005 và tăng trên 10%so với năm 2004. Khối Ngân 
hàng liên  doanh đạt 6.655  tỷ đồng, chiếm 2,56%; khối chi nhánh  Ngân hàng 
nước  ngoài đạt 39.560  tỷ  đồng,  chiếm 15,23%; các công  ty tài chính và cho 
thuê tài chính đạt 1.530 tỷ đồng, chiếm 0.59%.
Thị  phần  huy  động  vốn  trong  năm  2007  của  các  NHTM  CP  tăng  lên 
nguyên nhân hàng đầu là lãi suất và chính sách khuyến mại hấp dẫn hơn, mạng 
lưới được mở rộng, hoạt động quảng bá thương hiệu được triển khai hiệu quả. 
Đặc biệt là uy tín, lòng tin của người dân, của khách hàng đối với các NHTM 
CP tăng lên. Nguyên  nhân là  cho  thị phần  tín dụng của các  NHTM  CP  tăng 
mạnh trong năm 2007 đó là cùng với lợi thế nói trên đã phân tích ở phần huy 
động vốn của các NHTM CP, thì sự năng động tìm kiếm khách hàng. Đặc biệt 
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, linh hoạt trong cho vay, đa dạng hoạt động tín 
dụng tiêu dùng, đổi mới quản trị điều hành tín dụng,…là những nguyên nhân 
quan trọng làm cho thị phần cho vay của khối ngân hàng này tăng vững chắc. 
Trong  khi  đó  các  NHTM  Nhà nước  thì kém  linh hoạt, bị  khống  chế tăng 
trưởng  dư nợ,  một  số chi  nhánh  có nợ xấu  cao  tập  trung  cho  nâng  cao  chất 
lượng tín dụng, cơ chế tiền lương và thu nhập không có tính chất khuyến khích 
cho  vay,…đang  làm  cho  khối  ngân  hàng  này  dường  như  “bị  hụt  hơi”  trong 
cạnh tranh trên thị trường tín dụng. 
Như  là kết qủa tất yếu, khối ngân hàng thương mại cổ phần chiếm gần 50% 
thị phần lợi nhuận trên cơ sở nhiều lợi thế cạnh tranh. Tạm thời lấy số liệu đến 
hết tháng 9­2007, tổng lợi nhuận trước thuế của các Ngân hàng trên địa bàn TP 
HCM đạt 9.013 tỷ đồng, bằng 142,6% so với năm 2006. Trong đó khối NHTM 

doanh.  Bộ  máy  cồng  kềnh,  chất  lượng  nguồn  nhân  lực  hạn  chế…  Đó  cũng 
chính là điểm yếu, điểm bất lợi của các ngân hàng thương mại Nhà nước trong 
cạnh tranh. 
Với xu hướng nói trên trong năm 2008 và một số năm tới, các NHTM CP 
tiếp  tục  có sự bứt  phá,  vươn  lên  mạnh  mẽ trong  cạnh  tranh,  còn  các  NHTM 
Nhà nước tiếp tục bận bịu quá nhiều với việc cổ phần hoá cũng như những lực 
cản khác, nên sẽ  tiếp tục bị "hụt hơi" trong cuộc đua trên thị trường tài chính – 
tiền tệ, ít nhất là ở địa bàn TP.HCM.
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BÀO TOÀN VÀ PHÁT TRIỂN VỐN TỰ 
CÓ CỦA CÁC NHTMCP VN 
2.3.1  Sự  cần  thiết và nội  dung  của  công tác  bảo  toàn  và  phát  triển  vốn 
tự có 
Công  tác  bảo  toàn  vốn  tự có của  các ngân  hàng  thương mại  cổ phần  Việt 
Nam hiện nay chủ yếu dựa vào các Quyết định, Công văn điều chỉnh của Ngân 
hàng  nhà nước  và Thủ tướng  chính  phủ.  Việc  bảo  toàn  và phát  triển  vốn 
tự có là  việc đảm bảo  an toàn  cho nguồn vốn tự  có trong suốt quá trình hoạt 
động và ngày càng được bổ sung thêm vào nguồn  vốn ban đầu.  Theo đó các 
ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn tự có của mình sao cho hiệu quả và ngày 
càng mở rộng thêm nguồn  vốn này để đáp ứng cho các yêu  cầu của cơ quan 
quản lý trong quá trình hội nhập. 
Các ngân hàng TMCP Việt Nam bảo toàn và phát triển vốn tự có của mình 
dựa vào  Quyết định 457/2005­NHNN  ngày 19/04/2005 về việc ban  hành quy 
định  về các  tỷ lệ bảo đảm  an  toàn  trong  hoạt động  của  Tổ chức  tín  dụng  và 
Quyết  định  số 03/2007/QĐ­NHNN  (dưới đây gọi  tắt là Quyết định 03) ngày 
19/01/2007 của  Thống đốc  NHNN  về  việc sửa đổi, bổ sung một  số điều của 
Quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD ban hành kèm 
theo Quyết định số 457/2005/QĐ­NHNN. 
Theo đó các tổ  chức tín dụng  (trừ chi nhánh ngân hàng  nước ngoài) phải 
duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” nội bảng (bao 
gồm, ngoài những khoản mục khác, tiền mặt, vàng, tiền gửi, các khoản cho vay 

dụng.  Theo  đó,  chậm  nhất  vào  ngày  31/12/2008  và  31/12/2010,  tổ  chức  tín 
dụng được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải có biện pháp bảo đảm có 
số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp 
định. Đối với loại hình: Ngân hàng thương mại cổ phần, liên doanh, Ngân hàng 
100% vốn nước ngoài, Quỹ tín dụng nhân dân TW phải có mức vốn pháp định 
áp dụng cho đến năm 2008 là 1.000 tỷ đồng, đến năm 2010 là 3.000 tỷ đồng.
Ngân  hàng  thương  mại  Nhà  nước,  Ngân  hàng  đầu  tư:  3.000  tỷ  đồng... 
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 15 triệu USD. Đối với loại hình Công ty tài 
chính đến năm 2008 là 300 tỷ đồng, năm 2010 là 500 tỷ đồng… 
Cụ  thể, đối với các tổ chức tín dụng được cấp phép thành lập và hoạt động 
sau ngày Nghị định 141/2006/NĐ­CP có hiệu lực và trước ngày 31/12/2008, thì 
phải đảm bảo có ngay số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương 
đương mức vốn pháp định quy định cho năm 2008. Các tổ chức tín dụng được 
cấp giấy  phép thành  lập  và  hoạt động sau ngày 31/12/2008  phải đảm bảo  có 
ngay vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp 
định quy định cho năm 2010. Chính phủ giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước 
quyết định xử lý, kể cả việc thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động đối với 
tổ chức tín dụng có số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp thấp hơn mức vốn 
pháp định tương ứng đối với từng loại hình tổ chức tín dụng quy định cho từng 
thời kỳ. 
Về  tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn dùng để cho vay trung dài hạn, theo Nghị định 
457/2005QĐ  ngày  19  tháng  04  năm  2005,  các  ngân  hàng  thương  mại  được 
phép sử dụng  là 40% và  các  tổ  chức tín dụng  khác  là  30%. Tuy nhiên đứng 
trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ Mỹ tháng 12 năm 2008 
và những tín hiệu tăng trưởng nóng của tín dụng trong nước sau gói hỗ trợ lãi 
suất  của chính phủ,  ngày  10 tháng 08  năm 2009,  Thống đốc Ngân  hàng nhà 
nước ban hành thông tư 15/2009/TT­NHNN quy định về tỷ lệ tối đa sử dụng 
vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn của các tổ chức tín dụng hoạt động tại 
Việt nam trừ các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. theo đó, tỷ lệ này được quy định 
tại Thông tư cụ thể như sau: 

dụng(có  hiệu  lực  từ  ngày  01.10.1998)  và  sau  đó  Luật  NHNN  và  Luật  các 
TCTD được sửa đổi và bổ sung vào năm 2003, năm 2004.

Trích đoạn  Quản trị điều hành vốn của nhiều ngân hàng thương mại cổ phần chưa phù hợp và chưa hiệu quả: Tuân thủ các chuẩn mực kiểm soát an toàn vốn: Hiện nay, các tỷ lệ  Phát triển thị trường vốn: thị trường vốn ở nước ta đang ở giai đoạn 
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status