LỜI MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tháng 12 năm 2008, thế giới tài chính toàn cầu sững sốt khi nghe tin
Lehmon Brother, một trong những ngân hàng đầu tư hàng đầu của Mỹ tuyên bố
phá sản. Điều này đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái
kinh tế tệ hại nhất kể từ cuộc đại suy thoái trong thập niên 30 của thế kỷ 19. Sự
sụp đổ của các tổ chức tài chính toàn cầu một thời là niềm kêu hãnh của quốc
gia có nền tài chính hùng mạnh nhất thế giới đem đến nhiều thắc mắc cho các
nhà kinh tế thế giới. Hàng loạt các câu hỏi, giả thuyết được đặt nhằm tìm hiểu
những lý do. Tuy nhiên, khi căn bệnh còn chưa kịp chuẩn đoán thì mức độ lây
lan càng thêm nghiêm trọng, khi mà chính phủ các nước giàu và nghèo cùng
nhau can thiệp bằng nhiều cách khác nhau để tránh một sự đổ vỡ mang tính dây
chuyền xảy ra.
Đến đây các nhà kinh tế cũng như những người dân nộp thuế tự hỏi rằng:
sự kiểm soát tính hiệu quả của việc sử dụng những đồng vốn tại các tổ chức tài
chính trong quá khứ như thế nào? Các chính sách kiểm soát độ an toàn hoạt
động, mức độ rủi ro kinh doanh và đầu tư đã được theo dõi khoa học, chặt chẽ
hay chưa?…Rất nhiều các câu hỏi được đặt ra trong các kỳ họp của hội đồng
kinh tế quốc gia hoặc khi Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) điều trần trước Quốc
hội.
Tại Việt Nam, mặc dù ảnh hưởng không nhiều từ cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu (do chúng ta chưa đầu tư vào các sản phẩm tài chính phức tạp
của thế giới) nhưng nền kinh tế nói chung và các tổ chức tài chính trong nước
nói riêng cũng bị ảnh hưởng theo từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới. Do đó việc
nhìn nhận lại các cơ chế hay chính sách quản lý rủi ro, quản lý vốn tại các ngân
hàng thương mại cổ phần là việc cần phải làm và nên làm trong giai đoạn hiện
nay khi mà cả thế giới đã có những thay đổi trong quan điểm về tái cơ cấu nền
tài chính toàn cầu cũng như các phương pháp quản lý, điều hành kinh tế.
Và đây cũng là một trong những lý do mà tôi chọn đề tài này: “ Bảo toàn và
phát triển vốn tự có tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam ”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
gian giữa hai hay nhiều bên trong một hoạt động tài chính nhất định. Cũng có
thể hiểu theo một cách định nghĩa khác, trung gian tài chính là một tổ chức hỗ
trợ các kênh luân chuyển vốn giữa người cho vay và người đi vay theo phương
thức gián tiếp. Những tổ chức trung gian tài chính mà ta thường nghe nhắc đến
bao gồm: ngân hàng, tổ chức công nghiệp/ hiệp hội, tổ chức tín dụng nghiệp
đoàn, đơn vị tư vấn/cố vấn tài chính và môi giới, các hình thức công ty bảo
hiểm, quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí. Ngân hàng có thể định nghĩa đơn giản là tổ
chức hoạt động kinh doanh cung cấp các dịch vụ ngân hàng để tìm kiếm lợi
nhuận. Ngân hàng phát triển qua nhiều hình thái, theo xu thế ngày càng mở
rộng. Sự mở rộng thể hiện ở lượng dịch vụ, quy mô dịch vụ và ở sự lan rộng
vượt ra ngoài mọi biên giới địa lý. Ngày nay người ta nhắc đến những khái
niệm là ngân hàng bán lẻ, ngân hàng bán buôn, ngân hàng đầu tư…Ngân hàng
bán lẻ chỉ những hệ thống ngân hàng lớn, nhiều chi nhánh mà đối tượng phục
vụ thường là các khách hàng cá nhân, đơn vị riêng lẻ và tập trung và các dịch
vụ là tiết kiệm, tạo tài khoản giao dịch, thanh toán, thế chấp , cho vay các các
nhân, các loại thẻ tín dụng…Ngân hàng bán buôn là loại ngân hàng chỉ cung
cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp, làm vai trò trung gian cho các doanh nghiệp.
1.1.2 Khái niệm ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng thương mại cổ phần là các ngân hàng hoạt động kinh doanh,
thương mại theo mô hình cổ phần và tuân theo các luật riêng của Chính phủ và
các quy chế, quy định của Ngân hàng nhà nước khi hoạt động. Ngân hàng
thương mại cổ phần có những đặc thù khác biệt với các ngân hàng thương mại
nhà nước và ngân hàng thương mại liên doanh và chi nhánh ngân hàng thương
mại nước ngoài.
1.1.3 Chức năng của NHTMCP
Chức năng tập trung vốn của nền kinh tế: Trong nền kinh tế có những chủ
thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng một cách triệt để (ví dụ như
vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra lưu thông) nhưng họ cũng muốn
tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và có những chủ thể cần tiền
để hoạt động kinh doanh. Nhưng những chủ thể này không quen biết nhau và
hiện chuyển vốn từ tài khoản người này sang người khác một cách nhanh
chóng.
Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp:
Vào cuối thế kỷ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàng
không còn họat động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng
trung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân
hàng. Các ngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống
các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt.
1.2 KHÁI NIỆM, CHỨC NĂNG VÀ PHÂN LOẠI VỐN TỰ
CÓ NHTMCP
1.2.1. Khái niệm vốn tự có: vốn tự có là nguồn vốn ban đầu để một doanh
nghiệp bắt đầu tiến hành quá trình hoạt động. Hay nói các khác vốn tự có là
nguồn vốn riệng của ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra
trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại. Nguồn vốn này quyết
định quy mô hoạt động của một ngân hàng cũng như các khả năng bảo vệ chính
tổ chức sinh ra nguồn vốn này trong suốt quá trình hoạt động.
1.2.2. Chức năng của vốn tự có
Trong hoạt động của một ngân hàng, nguồn vốn có vai trò hết sức quan
trọng. Ngoài việc giúp duy trì hoạt động kinh doanh hằng ngày của ngân hàng,
một ngân hàng với nguồn vốn phong phú giúp tạo nên tính thanh khoản cho
toàn hệ thống tài chính thông qua các kênh phân phối vốn lại trên thị trường,
thực hiện các chỉ tiêu kinh tế của chính phủ trong từng thời kỳ cụ thể cũng như
các chiến lược kinh tế cơ bản của Nhà nước.
Trong tương quan so sách quy mô hoạt động của các ngân hàng trong nước
và các ngân hàng trong khu vực, nguồn vốn là chỉ tiêu so sánh cơ bản giúp
phản ánh sức mạnh, tiềm lực của từng ngân hàng cũng như khả năng chống đỡ
các cú sốc tài chính nếu xảy ra. Từ đó, giúp phân loại, xếp hạng các ngân hàng
với nhau để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các chuyên gia kinh tế, các nhà
quản lý…đánh giá, lựa chọn, tìm cơ hội đầu tư và giám sát tốt hơn nền tài
chính của quốc gia.
được lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của các tổ chức tín dụng như
quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư
phát triển. Theo Quyết Định 457/2005/QĐNHNN ngày 19/4/2005 của
Ngân hàng Nhà nước, vốn cấp 1 được dung để xác định giới hạn mua,
đầu tư vào tài sản cố định của tổ chức tín dụng ( theo quy định hiện hành
là không quá 50%).
· Vốn cấp 2 là các nguồn vốn tự bổ sung hoặc có nguồn gốc từ bên ngoài
của tổ chức tín dụng. Ở VN, vốn cấp 2 về cơ bản bao gồm (i) phần giá
trị tăng thêm do định giá lại tài sản của tổ chức tín dụng ( bao gồm 50%
giá trị tăng thêm đối với tài sản cố định, 40% giá trị tăng thêm đối với
các loại chứng khoán đầu tư), (ii) nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ
bên ngoài (bao gồm trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và một số
công cụ nợ thứ cấp nhất định) và (iii) dự phòng chung cho rủi ro tính
dụng (tối đa bằng 1,25% tổng tài sản “Có” rủi ro). Tuy nhiên, Quyết
Định 457/2005/QĐNHNN ngày 19/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước
đưa ra một số hạn chế về vốn cấp 2. Ngoài một số điều kiện khác, tổng
giá trị vốn cấp 2 tối đa bằng 100% tổng giá trị vốn cấp 1 và tổng gía trị
trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và các công cụ nợ khác tối đa
bằng 50% vốn cấp 1.
Việc xác định vốn tự có theo hai cấp theo Quyết định 457/2005/QĐNHNN
ngày 19/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước sẽ cho phép các ngân hàng thương
mại trong nước tính toán cụ thể và nâng cao được mức vốn tự có của mình vốn
dĩ trước đây phần lớn chỉ được tính trên cơ sở vốn cấp 1. Do đó, hiện nay các
tổ chức tín dụng cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc tuân thủ các tỷ lệ an toàn tính
trên cơ sở vốn tự có.
Ngoài ra một điều đáng lưu ý là: các tổ chức tín dụng phải trừ ra khỏi vốn
tự có của mình (i) toàn bộ phần giá trị giảm đi của các tài sản cố định hay các
chứng khoán đầu tư do định giá lại, (ii) tổng số vốn góp hoặc cổ phần trong tổ
chức tín dụng khác, (iii) phần góp vốn, liên doanh, mua cổ phần của quỹ đầu
tư, doanh nghiệp vượt mức 15% vốn tự có, và (iv) lỗ kinh doanh kể cả các
và không phải hoàn trả. Phương pháp này giúp ngân hàng không phụ thuộc vào
thị trường vốn nên tránh được chi phí huy động vốn.
Nhược điểm: Chỉ áp dụng với các ngân hàng lớn, làm ăn có lãi liên tục và đều
đặn. Hình thức này không thể áp dụng thường xuyên vì nó làm ảnh hưởng đến
quyền lợi của cổ đông.
Phương pháp này phụ thuộc vào:
· Chính sách cổ tức của ngân hàng: Chính sách này cho biết ngân hàng
cần phải giữ lại bao nhiêu thu nhập để tăng vốn phục vụ cho mở rộng
kinh doanh và bao nhiêu thu nhập sẽ được chia cho các cổ đông.
Ta có:
Mức thu nhập giữ
lại
Tỷ lệ thu nhập
giữ lại
(Lợi nhuận không
chia)
=
Thu nhập sau thuế
Tổng giá trị
cổ tức Tỷ lệ chi
trả cổ tức =
Thu nhập sau
thuế
Tỷ lệ thu nhập giữ lại quá thấp sẽ làm cho mức tăng trưởng vốn ngân hàng sẽ
chậm, dẫn đến giảm khả năng mở rộng tài sản sinh lời, tăng rủi ro phá sản.
Ngược lại, nếu tỷ lệ thu nhập giữ lại quá lớn sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông
dẫn đến thị giá cổ phiếu của ngân hàng bị giảm.
· Tốc độ tăng vốn từ nguồn nội bộ: Một tỷ lệ tăng trưởng vốn từ nguồn
nội bộ lý tưởng phải đáp ứng cả hai yêu cầu: Một là, ngân hàng tăng
trưởng được tài sản có (đặc biệt là các khoản cho vay); hai là, không làm
hoạt động ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinh doanh Xã hộ chủ nghĩa
HCN (làm thử đầu tiên tại TP.HCM từ tháng 7.1987, Hà Nội, Gia Lai...), sau
đó tổng kết và Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng đã ban hành Nghị định 53/HĐBT
ngày 26.3.1988 đổi mới mô hình tổ chức bộ máy ngân hàng Việt Nam, với sự
ra đời của hệ thống ngân hàng chuyên doanh. Đến năm 1990, cơ chế đổi mới
ngân hàng được hoàn thiện thông qua việc công bố hai Pháp lệnh ngân hàng
vào ngày 24.5.1990 (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước VN và Pháp lệnh ngân
hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính thức chuyển cơ chế
hoạt động của hệ thống Ngân Hàng Việt Nam từ “một cấp” sang “hai cấp”.
Theo đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về
tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng, là ngân hàng duy nhất
được phát hành, là ngân hàng của các ngân hàng, là ngân hàng của Nhà
nước…, còn hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng do các
tổ chức tín dụng thực hiện. Các tổ chức tín dụng bao gồm: ngân hàng thương
mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính. Tháng
12.1997 trước yêu cầu cao của thực tiễn hai Pháp lệnh ngân hàng đã được Quốc
hội nâng lên thành hai luật về ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 1.10.1998) và sau
đó Luật NHNN và Luật các TCTD được sửa đổi và bổ sung vào năm 2003,
2004. Như vậy, hệ thống ngân hàng thương mại VN đã chính thức đánh dấu
sự ra đời và phát triển khoảng trên 20 năm (từ 1990 đến nay). Trải qua chặng
đường trên, hệ thống NHTM VN đã không ngừng phát triển về quy mô (vốn
điều lệ không ngừng gia tăng, mạng lưới chi nhánh…), chất lượng hoạt động và
hiệu quả trong kinh doanh. Mạng lưới ngân hàng thương mại VN đến cuối
năm 2009 đã có những buớc phát triển mạnh phủ khắp quận huyện và hình
thành cả trong các trường học. Hệ thống NHTM ở nước ta bao gồm: 5 NHTM
nhà nước (Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng đầu tư và phát triển VN,
Ngân hàng phát triển VN, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn,
Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long), 39 NHTM cổ phần đô
thị và nông thôn, 24 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 05 ngân hàng liên doanh,
ngân hàng nước ngoài vượt khá xa về trình độ công nghệ ngân hàng với các hệ
thống máy móc thiết bị cũng như các ứng dụng công nghệ thông tin trong
nghiệp vụ ngân hàng. Và thứ tư là trình độ quản lý. Yếu tố này liên quan đến
vấn đề nhân sự. Việt Nam còn thiếu rất nhiều các chuyên gia cao cấp trong lĩnh
vực ngân hàng. Điều này không những đáng lo ngại cho các ngân hàng nội địa
trong vấn đề quản lý ngân hàng mà còn là nguy cơ cạnh tranh nhân lực giữa
các ngân hàng sẽ đẩy chi phí tiền lương, tiền công lao động lên cao. Các ngân
hàng trong nước sẽ gặp khó khăn và phải đối mặt với sự chảy máu chất xám.
Bên cạnh những điểm hạn chế hay còn gọi là những nguy cơ tiềm ẩn nêu trên,
các ngân hàng trong nước còn gặp phải vấn đề đáng lo ngại nữa là thị phần co
hẹp.
2.2.2 Động thái của các NHTMCP VN:
· Thứ nhất, các ngân hàng nội địa đã tăng vốn điều lệ. Giải pháp này
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm rủi ro, nâng cao tiềm lực tài
chính. Theo dự báo của các chuyên gia, trong năm 2007, các ngân hàng
TMCP có vốn điều lệ 1.000 tỉ đồng sẽ chiếm trên 80% tổng số ngân
hàng đang hoạt động. Bên cạnh giải pháp tăng vốn điều lệ, một số ngân
hàng thương mại cổ phần nông thôn trong năm 2006 đã được Ngân hàng
Nhà nước cho phép chuyển đổi mô hình hoạt động từ ngân hàng thương
mại cổ phần nông thôn sang ngân hàng thương mại cổ phần đô thị. Tuy
nhiên, giải pháp tăng vốn điều lệ không tránh khỏi tình trạng các ngân
hàng tận dụng cơ hội để phát hành cổ phiếu ồ ạt. Việc này có thể không
tốt nếu tỉ lệ an toàn vốn quá cao (được tính bằng tỉ lệ vốn điều lệ trên
tổng tài sản).
· Thứ hai, các NHTMCP đua nhau bán lại cổ phần cho các ngân hàng
nước ngoài. Đứng trước một sân chơi lớn với sự cạnh tranh khốc liệt khi
hội nhập vào WTO và tận dụng giai đoạn chứng khoán bùng nổ cuối
năm 2007, các ngân hàng TMCP Việt Nam tranh thủ phát hành cổ phiếu
để tăng vốn để thu về sự chênh lệch giá trị lớn và học hỏi các kinh
nhiệm quản lý tiên tiến, chuyên nghiệp từ các cổ đông nước ngoài trong
động ngoại tệ quy đổi đạt 114.294 tỷ đồng, chiếm 26,1%. Dự báo đến hết năm
2007, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đạt
460.000 465.000 tỷ đồng, tăng 6265% so với cuối năm 2006. Tại Hà Nội,
tính đến hết tháng 102007, tổng nguồn vốn huy động của các Ngân hàng
thương mại và tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội đạt 326.624 tỷ
đồng, tăng 34,54% so với cuối năm 2006, đây là mức tăng lớn nhất trong nhiều
năm. Cũng tính đến hết tháng 102007, tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng
thương mại và tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ước tính
đạt 345.000 tỷ đồng, tăng 50% so với cuối năm 2006 và tăng 63% so với cùng
kỳ này năm trước.
Nếu phân theo tiền tệ thì dư nợ cho vay bằng nội tệ đạt 241.155 tỷ đồng,
dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 103.445 tỷ đồng. Phân theo kỳ hạn
thì dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 209.647 tỷ đồng, dư nợ trung và dài hạn đạt
135.353 tỷ đồng. Do tỷ giá ổn định, lãi suất cho vay ngoại tệ chỉ bằng 50%
60% mức lãi suất cho vay nội tệ nên nhiều doanh nghiệp thích vay vốn ngoại tệ
hơn, ngược lại người gửi tiền thì thích gửi bằng nội tệ hơn vì lãi suất tiền gửi
cùng kỳ hạn của nội tệ cao gấp 2 lần tiền gửi ngoại tệ. Tại Hà Nội, dư nợ cho
vay cũng tăng với tốc độ rất lớn. Tính đến hết tháng 102007, tổng dư nợ cho
vay đạt 163.838 tỷ đồng, tăng 37,44% so với cuối năm 2006. Dự báo đến hết
năm 2007, dư nợ cho vay sẽ đạt 171.000 174.000 tỷ đồng, tăng 45% 48% so
với cuối năm trước. Đây cũng là mức tăng cao nhất từ trước đến nay và vượt xa
nhiều so với dự báo từ đầu năm của các ngân hàng. Một số ngân hàng thương
mại cổ phần sẽ có mức tăng trưởng dư nợ tới 55% đến 65%.
Về cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn, cho vay ngắn hạn đạt 100.089 tỷ đồng,
tăng 33,50% và dư nợ cho vay trung dài hạn đạt 63.749 tỷ đồng, tăng 44,10%.
Tín dụng trung dài hạn tăng cao hơn ngắn hạn chứng tỏ nhu cầu vốn đầu tư
chiều sâu, đầu tư cho mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng nhà xưởng, lắp
đặt trang thiết bị mới và hiện đại tăng lên.
Một nguyên nhân khác, vốn đầu tư cho các khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu đô thị mới, dự án nhà ở, vốn cho vay mua nhà chung cư, mua ô tô, phương
12% 13% thì đến nay chiếm 15,85%. Các Ngân hàng liên doanh chỉ chiếm
2,48%; tỷ trọng thị phần còn lại các Công ty tài chính, Công ty tài chính và quỹ
tín dụng nhân dân.
Trong khi đó tính đến hết năm 2006, tổng nguồn vốn huy động của khối
NHTM Nhà nước đạt 112.947 tỷ đồng, chiếm 43,49% so với tổng nguồn vốn
huy động của ngành ngân hàng trên địa bàn, giảm khoảng 4% so với năm 2005.
Khối NHTM cổ phần đạt 99.013 tỷ đồng, chiếm 38,13% và tăng thêm tỷ trọng
thị phần 4,21% so với năm 2005 và tăng trên 10%so với năm 2004. Khối Ngân
hàng liên doanh đạt 6.655 tỷ đồng, chiếm 2,56%; khối chi nhánh Ngân hàng
nước ngoài đạt 39.560 tỷ đồng, chiếm 15,23%; các công ty tài chính và cho
thuê tài chính đạt 1.530 tỷ đồng, chiếm 0.59%.
Thị phần huy động vốn trong năm 2007 của các NHTM CP tăng lên
nguyên nhân hàng đầu là lãi suất và chính sách khuyến mại hấp dẫn hơn, mạng
lưới được mở rộng, hoạt động quảng bá thương hiệu được triển khai hiệu quả.
Đặc biệt là uy tín, lòng tin của người dân, của khách hàng đối với các NHTM
CP tăng lên. Nguyên nhân là cho thị phần tín dụng của các NHTM CP tăng
mạnh trong năm 2007 đó là cùng với lợi thế nói trên đã phân tích ở phần huy
động vốn của các NHTM CP, thì sự năng động tìm kiếm khách hàng. Đặc biệt
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, linh hoạt trong cho vay, đa dạng hoạt động tín
dụng tiêu dùng, đổi mới quản trị điều hành tín dụng,…là những nguyên nhân
quan trọng làm cho thị phần cho vay của khối ngân hàng này tăng vững chắc.
Trong khi đó các NHTM Nhà nước thì kém linh hoạt, bị khống chế tăng
trưởng dư nợ, một số chi nhánh có nợ xấu cao tập trung cho nâng cao chất
lượng tín dụng, cơ chế tiền lương và thu nhập không có tính chất khuyến khích
cho vay,…đang làm cho khối ngân hàng này dường như “bị hụt hơi” trong
cạnh tranh trên thị trường tín dụng.
Như là kết qủa tất yếu, khối ngân hàng thương mại cổ phần chiếm gần 50%
thị phần lợi nhuận trên cơ sở nhiều lợi thế cạnh tranh. Tạm thời lấy số liệu đến
hết tháng 92007, tổng lợi nhuận trước thuế của các Ngân hàng trên địa bàn TP
HCM đạt 9.013 tỷ đồng, bằng 142,6% so với năm 2006. Trong đó khối NHTM
doanh. Bộ máy cồng kềnh, chất lượng nguồn nhân lực hạn chế… Đó cũng
chính là điểm yếu, điểm bất lợi của các ngân hàng thương mại Nhà nước trong
cạnh tranh.
Với xu hướng nói trên trong năm 2008 và một số năm tới, các NHTM CP
tiếp tục có sự bứt phá, vươn lên mạnh mẽ trong cạnh tranh, còn các NHTM
Nhà nước tiếp tục bận bịu quá nhiều với việc cổ phần hoá cũng như những lực
cản khác, nên sẽ tiếp tục bị "hụt hơi" trong cuộc đua trên thị trường tài chính –
tiền tệ, ít nhất là ở địa bàn TP.HCM.
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BÀO TOÀN VÀ PHÁT TRIỂN VỐN TỰ
CÓ CỦA CÁC NHTMCP VN
2.3.1 Sự cần thiết và nội dung của công tác bảo toàn và phát triển vốn
tự có
Công tác bảo toàn vốn tự có của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt
Nam hiện nay chủ yếu dựa vào các Quyết định, Công văn điều chỉnh của Ngân
hàng nhà nước và Thủ tướng chính phủ. Việc bảo toàn và phát triển vốn
tự có là việc đảm bảo an toàn cho nguồn vốn tự có trong suốt quá trình hoạt
động và ngày càng được bổ sung thêm vào nguồn vốn ban đầu. Theo đó các
ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn tự có của mình sao cho hiệu quả và ngày
càng mở rộng thêm nguồn vốn này để đáp ứng cho các yêu cầu của cơ quan
quản lý trong quá trình hội nhập.
Các ngân hàng TMCP Việt Nam bảo toàn và phát triển vốn tự có của mình
dựa vào Quyết định 457/2005NHNN ngày 19/04/2005 về việc ban hành quy
định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng và
Quyết định số 03/2007/QĐNHNN (dưới đây gọi tắt là Quyết định 03) ngày
19/01/2007 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của
Quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD ban hành kèm
theo Quyết định số 457/2005/QĐNHNN.
Theo đó các tổ chức tín dụng (trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài) phải
duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” nội bảng (bao
gồm, ngoài những khoản mục khác, tiền mặt, vàng, tiền gửi, các khoản cho vay
dụng. Theo đó, chậm nhất vào ngày 31/12/2008 và 31/12/2010, tổ chức tín
dụng được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải có biện pháp bảo đảm có
số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp
định. Đối với loại hình: Ngân hàng thương mại cổ phần, liên doanh, Ngân hàng
100% vốn nước ngoài, Quỹ tín dụng nhân dân TW phải có mức vốn pháp định
áp dụng cho đến năm 2008 là 1.000 tỷ đồng, đến năm 2010 là 3.000 tỷ đồng.
Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng đầu tư: 3.000 tỷ đồng...
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 15 triệu USD. Đối với loại hình Công ty tài
chính đến năm 2008 là 300 tỷ đồng, năm 2010 là 500 tỷ đồng…
Cụ thể, đối với các tổ chức tín dụng được cấp phép thành lập và hoạt động
sau ngày Nghị định 141/2006/NĐCP có hiệu lực và trước ngày 31/12/2008, thì
phải đảm bảo có ngay số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương
đương mức vốn pháp định quy định cho năm 2008. Các tổ chức tín dụng được
cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày 31/12/2008 phải đảm bảo có
ngay vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp
định quy định cho năm 2010. Chính phủ giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
quyết định xử lý, kể cả việc thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động đối với
tổ chức tín dụng có số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp thấp hơn mức vốn
pháp định tương ứng đối với từng loại hình tổ chức tín dụng quy định cho từng
thời kỳ.
Về tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn dùng để cho vay trung dài hạn, theo Nghị định
457/2005QĐ ngày 19 tháng 04 năm 2005, các ngân hàng thương mại được
phép sử dụng là 40% và các tổ chức tín dụng khác là 30%. Tuy nhiên đứng
trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ Mỹ tháng 12 năm 2008
và những tín hiệu tăng trưởng nóng của tín dụng trong nước sau gói hỗ trợ lãi
suất của chính phủ, ngày 10 tháng 08 năm 2009, Thống đốc Ngân hàng nhà
nước ban hành thông tư 15/2009/TTNHNN quy định về tỷ lệ tối đa sử dụng
vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn của các tổ chức tín dụng hoạt động tại
Việt nam trừ các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. theo đó, tỷ lệ này được quy định
tại Thông tư cụ thể như sau:
dụng(có hiệu lực từ ngày 01.10.1998) và sau đó Luật NHNN và Luật các
TCTD được sửa đổi và bổ sung vào năm 2003, năm 2004.