NGHIÊN CỨU NUÔI VỖ BÉO CUA GẠCH (Scylla paramamosain) TRÊN BỂ VỚI CÁC LOẠI THỨC ĂN VÀ MẬT ĐỘ KHÁC NHAU - Pdf 11

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

TRỊNH VĂN THĂM

NGHIÊN CỨU NUÔI VỖ BÉO CUA GẠCH
(Scylla paramamosain) TRÊN BỂ VỚI CÁC LOẠI THỨC ĂN
VÀ MẬT ĐỘ KHÁC NHAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HOC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HOC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Cán bộ hướng dẫn:

PGs. Ts. Trần Ngọc Hải

PGs. Ts. Trần Thị Thanh Hiền 2010
3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến
Ban Giám Hiệu, Ban Chủ
Nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu trong thời gian
học
tập ở trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến PGs.T
4

Tóm tắt
Ba thí nghiệm nuôi nuôi vỗ béo cua gạch (Scylla paramamosain) trên bể
với
các loại thức ăn và mật độ khác nhau được tiến hành ở Hòa Bình -
Bạc Liêu. Ở thí
nghiệm nuôi vỗ cua với các loại thức ăn khác nhau được bố trí các loại thức ăn gồm
cá Rô phi (Oreochromis niloticus)
, thức ăn viên 35% đạm, Sò voi, Tôm bạc
(Metapeneus tenuipes) và Ba khía (Sesarma mederi). Sau 15 ngày nuôi nghiệ
m thức
thức ăn viên cua chết hoàn toàn
do cua không ăn thức ăn viên, còn các nghiệm thức
khác cua bắt đầu lên gạch đầy. Đến 30 ngày tỷ lệ sống và tỷ lệ gạch đầy
lần lượt ở
các nghiệm thức thức ăn cá rô phi là 75% và 63%; thức ăn sò voi là 100% và 100%
;
nghiệm thức tôm bạc là 91% và 75%; và thức ăn ba khía
là 91% và 73%. Tăng trọng
(22,78 - 29,44 g). DWG (0,93 - 1,28 g/ngày), SGR (0,32 -
0,54 %/ngày) giữa các

khác hiệt không có ý nghĩa
thống kê (p>0.05).
Từ kết quả các nghiên cứu rất có ý nghĩa trong việc xây dựng mô
hình nuôi cua gạch trong lồng trên bể . Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho thấy,
việc
nuôi cua gạch trên bể xi măng nhìn chung cũng rất ti
ện lợi trong việc quản lý và
chăm sóc. 5

ABSTRACT
Three experiments on fattering female crabs (Scylla paramamosain)
from
immature to full mature stage with different feeding types and densities in tanks
were conducted in Hoa Binh district – Bac Lieu province.
In the first experiment, there were 5 treatments using tilapia (
Oreochromis
niloticus), pellet feed (35% protein), clam (Fulvi mutica), shrimp (
Metapeneus
tenuipes), and sesamar crab (Sesarma mederi) to feed mud crabs. After 15 days
of
culture, in the treatment with pellet feed, all of crab
s died because they could not
accept this food while other treatments gave good results. After one
month,
6
Lời cam kết

Tôi xin cam kết luận văn nầy được hoàn thành dựa trên các kết quả
nghiên cứu của tôi và kết quả nghiên cứu nầy chưa được dùng cho bất cứ luận
văn cùng cấp nào khác .

Ngày 24 tháng 09 năm 2010
Tác giả
Trịnh Văn Thăm

TÓM TẮC…………………………………………………… ………… ii
ABSTRACT……………………………………………………… … iii
LỜI CAM KẾT ………………………………………………… …… …iv
MỤC LỤC………………………………………………… …… … v
DANH SÁCH HÌNH…………………………………………… …vii
DANH SÁCH BẢNG…………………………………………… ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT………………………………………… …x
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Nội dung của đề tài 2
1.4 Thời gian thực hiện đề tài : 2
Chương 2 : LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU…………………………………… ………….…3
2.1 Sơ lược về đặc điểm sinh học của cua biển…………………… …………… 3
2.1.1 Đặc điểm phân loại………………………………………… ………… 3
2.1.2 Đặc điểm phân bố…………………………………………… 4
2.1.3 Tập tính sống cua biển……………………………………… …… …4
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng………………………………………… …… …6
2.1.5 Lột xác và sinh trưởng………………………………………………… …6
2.1.6 Đặt điểm sinh sản…………………………………………………… … 7
2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sống của cua biển………… … 8
3 Tình hình nghiên cứu nuôi cua biển………………………………………… … 9
2.3.1 Nghiên cứu nuôi cua biển trên thế giới……………………………… 9
2.3.2 Nuôi cua biển ở Việt Nam……………………………………….… … 11
2.3.2.1 Tình hình nuôi cua biển………………………………………… … 11
8

2.3.2.2 Nghiên cứu về cua biển ở Việt Nam……………………………………12
Chương 3 : VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…………… 16
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài………………………………………. 16

4.2.4 Hiệu quả kinh tế trong nghiên cứu nuôi vỗ béo cua gạch với các
kích cỡ lồng khác nhau trong bể ………………………… …………………… 35
4.3 Thí nghiệm nghiên cứu nuôi vỗ béo cua gạch với mật độ khác nhau ……….36
4.3.1 Các yếu tố môi trường…………………………………………………….36
4.3.2 Kết quả tăng trưởng, tỷ lệ sống, tỷ lệ đạt gạch ở các nghiệm thức nuôi
vỗ béo cua gạch với mật độ khác nhau ………………………… ………… …37
4.3.3 Trọng lượng, kích cỡ và tăng trọng của cua trước và sau thí nghiệm … 37
4.3.4 Kết quả tỷ lệ sống và đầy gạch của cua sau khi kết thúc thí nghiệm… … 38
4.3.5 Lượng thức ăn cần thiết để thu được 1kg cua gạch sau 30 ngày nuôi……39
4.3.6 Hiệu quả kinh tế trong nghiên cứu nuôi vỗ béo cua gạch với mật độ khác
nhau trên bể xi măng ……………………………………… …………….39
4.4 Thảo luận …………………………………………………………………….41
4.4.1 Các yếu tố môi trường……………………………………………………41
4.4.2 Tăng trưởng, tỷ lệ sống, tỷ lệ đạt gạch ………………………………… 42
4.4.3 Hiệu quả kinh tế, cơ cấu chi phí của các thí nghiệm 46
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT…………………… ………………… …47
5.1 Kết luận……………………………………………… ……………….…….47
5.2. Đề xuất ……………………………………………………… ……….……47
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………… ……… … ….48
PHỤ LỤC ………………………………………………………………….……… 52 10

DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Thành phần và dinh dưỡng của thức ăn 18



Bảng 4.14: trọng lượng, rộng mai và tăng trọng của cua trước và sau thí nghiệm 37

Bảng 4.15: Tỷ lệ sống và đạt gạch 38

Bảng 4.16: lượng thức ăn để thu 1kg cua 39

Bảng 4.17: hiệu quả kinh tế 39

11

DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: hình thái của loài cua biển Sscylla paramamosain theo phân loại của
Estampador (1949)…………………………………………………………… 3
Hình 2.2: Vòng đời cua biển theo NIOT……………………………………… 5
Hình 2.3: lồng tre nuôi cua 1 con/lồng theo Cholik và Hanafi (1991………… 9
Hình 2.4: lồng tre nuôi cua 1 con/lồng ở Ấn Độ theo NIOT………………… 10
Hình 2.5: Xuất khẩu cua biển của Việt Nam năm 2001-2004 …………… 12
Hình 2.6: Lồng nuôi cua bằng tre và nhựa PP…………………………….… 14
Hình 3.1: Cua dùng để bố trí thí nghiệm……………………………………….17
Hình 3.2: Ảnh bố trí thí nghiệm nuôi vớ các loại thức ăn khác nhau……… 18
Hình 3.3 : Kiểm tra gạch cua ………………………………………………….19
Hình 3.4 : Thu hoạch cua………………………………………………………20
Hình 3.6 : Ảnh bố trí thí nghiệm nuôi với với các mật độ khác nhau …… 21


gạch non lên gạch đầy để bán ra thị trường với giá chênh lệch khá cao được người
nuôi thực hiện với nhiều cách nuôi như nuôi trong lồng, nuôi trong ao đất với nguồn
thức ăn tự nhiện sẳn có của địa phương.
Tuy nhiên, nuôi cua gạch hiện nay đôi lúc mang lại hiệu quả chưa cao do nuôi
trong ao đất và trong lồng nhiều con nên khó chăm sóc và kiểm soát tỷ lệ sống, thời
gian nuôi kéo dài không lên gạch hoặc khi lên gạch đầy thì màu sắc gạch không đẹp
(không đỏ như cua ngoài tự nhiên ) nên giá trị kinh tế trong các hình thức này từ
trước đến nay là không cao và làm lảng phí nguồn thủy sản có giá trị.
Trên cơ sở đó, đề tài “Nghiên cứu nuôi vỗ cua gạch (Scylla paramamosain)
trên bể với các loại thức ăn và mật độ khác nhau ’’ được tiến hành.
14

1.2 Mục tiêu đề tài
Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn
khác nhau, kích cỡ lồng khác nhau và mật độ nuôi khác nhau trên bể xi măng ảnh
hưởng lên tỷ lệ sống, khả năng thành thục và màu sắc của gạch cua nhằm tìm ra loại
thức ăn tốt nhất, kích cỡ lồng và mật độ nuôi thích hợp nhất cho nuôi cua gạch trong
lồng trên bể xi mặng có thay nước .

1.3 Nội dung của đề tài
Nội dung nghiên cứu đề tài gồm 3 nội dung :
- Nuôi vỗ béo cua gạch với các loại thức ăn tươi sống
- Nuôi vỗ béo cua gạch với các kích cỡ lồng khác nhau.
- Nuôi vỗ béo cua gạch với các mật độ khác nhau

1.4 Thời gian thực hiện đề tài :
Từ tháng 02 năm 2010 đến tháng 08 năm 2010

Lớp Malacostraca
Bộ Decapoda
Họ Portunidae
Giống Scylla
Loài Scylla. paramamosain Hình 2.1: hình thái của loài cua biển Sscylla paramamosain theo phân loại của
Estampador (1949)
16

2.1.2 Đặc điểm phân bố
Theo Keenan et al. (1998), Gopurenko et al (1999loài Scylla paramamosain
được phân bố khắp khu vực biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, từ Nam Phi
đến Biển Đỏ, từ Okinnawa đến Tahiti và xuống tận miền Bắc nước Úc, Nhật Bản,
Nam Trung Quốc Xiamen, Hong Kong, Singapore, Cambodia…; ở Trung Java
Indonesia và ở Việt Nam Cua biển Scylla serrata (Porskal), phân bố khắp ở các
vùng biển nước ta trong đầm lầy rừng ngập nước lợ và vùng ven biển cửa sông .
Cua biển ở vùng sông Ông Đốc – Cà Mau, Rạch Giá – Hà Tiên …màu sắc mai cua
đậm, chân càng đỏ khác cua vùng Cần Giờ -TP . Hồ Chí Minh, Cần Guộc, Cần
Đước – Long An, Gò Công - Tiền Giang, Duyên Hải – Trà Vinh và Bình Đại Bến

Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, chu kỳ lột xác ngắn hơn và số lượng
cua lột ở mỗi lần lột xác cao hơn ở độ mặn 15-25 ‰. Độ mặn thích hợp nhất cho
sinh trưởng và phát triển của cua là từ 15-25‰, trong đó 20-25 ‰ được xem là độ
mặn tối ưu. Cua không thể tồn tại ở 0 ‰ quá 3 ngày trong điều kiện thí nghiệm mặc
dù ngoài tự nhiên cua con vẫn xuất hiện ở vùng cửa sông trong mùa mưa khi độ
mặn giảm xuống 0 ‰. ( Vũ Ngọc Út , 2006)
Theo báo cáo của Hyland,1984 ( trích dẫn bởi Trần Ngọc Hải, 1999) sự phân
bố của cua trong tự nhiên có liên quan đến dòng chảy, trong đó, vận tốc nước thích
hợp 0,06-1,6 m/giây.

Hình 2.2: Vòng đời cua biển theo NIOT
Cua cái
Cua

Trứng Zoea

( Phạm Thị Tuyết Ngân, và ctv 2005).
2.1.5 Lột xác và sinh trưởng
Từ ấu trùng đến trưởng thành cua phải qua nhiều lần lột xác và qua mỗi lần
lột xác vừa để sinh trưởng vừa để biến thái, thay đổi về kích thước và hình thái cấu
tạo để đạt được hình dạng và cấu tạo thực thụ của cua. Ở giai đoạn ấu trùng và cua
bột thời gian giữa các lần lột xác thường ngắn, từ 2-3 ngày hoặc 3-5 ngày. Cua bột 3
ngày tuổi lột xác lần thứ nhất có chiều rộng mai đạt 5 mm và chiều dài mai 3,5 mm.
Ở cua giống và trưởng thành thời gian lột xác dài hơn thường lột xác vào chu kỳ của
thuỷ triều (Hoàng Đức Đạt, 1995; Nguyễn chung, 2006) Cua biển là loài sinh trưởng
không liên tục, được đặc trưng bởi sự gia tăng đột ngột về kích thước và trọng lượng.
Cua lột xác để tăng kích thước và quá trình này phụ thuộc rất lớn vào điều kiện dinh
dưỡng, môi truờng và giai đoạn phát triển của cơ thể. Theo Triño et al (1999), khi
nuôi chung cua đực và cua cái thì cua đực tăng trưởng tốt hơn cua cái. Khatun et al
19

(2008) nuôi cua S.olivacea đơn tính (cua đực hoặc cua cái) và cả 2 giới tính (cua cái
+ cua đực) thì cua đực cũng tăng trưởng tốt hơn cua cái.
Cua biển trải qua 12 lần lột xác, khi tuyến sinh dục bắt đầu phát triển, cua
lột xác lần thứ 13 trước khi giao phối (Trung tâm khuyến ngư Quốc Gia-Bộ Thủy
Sản, 2006). Cua trưởng thành có khoảng cách giữa 2 lần lột xác từ 20-28 ngày
(Khoa Sinh – Trường Đại Học Tổng Hợp Huế, 1994). Quá trình lột xác của cua
mang tính đặc trưng riêng biệt từng loài. Cua càng lớn thì chu kỳ lột xác càng kéo
dài. Ðặc biệt, trong quá trình lột xác, cơ thể của chúng có thể tái sinh những phần
phụ bộ đã mất. Ðối với những con cua bị tổn thương, khi mất phần phụ bộ thì cua
có khuynh hướng lột xác sớm hơn (Trần Ngọc Hải và ctv, 1999).
Tuổi thọ trung bình của cua từ 2-4 năm, qua mỗi lần lột xác trọng lượng cua
tăng trung bình 20-50%. Kích thước tối đa của cua biển có thể từ 19-28 cm với
trọng lượng từ 1-3 kg/con. Thông thường trong tự nhiên cua có kích cỡ trong
khoảng 7,5-10,5 cm. Với kích cỡ tương đương nhau về chiều dài hay chiều rộng thì
cua đực nặng hơn cua cái.

cần quản lý pH ở mức 7,5-8,5.
Độ mặn: trong tự nhiên, từ giai đoạn cua con trở đi, cua có thể chịu đựng
được độ mặn 2-60
o
/
oo
(Trần Ngọc Hải và ctv, 1999). Theo Hoàng Đức Đạt (1995),
Trần Ngọc Hải và ctv (1999), Nguyễn Chung (2006) cua có khả năng thích ứng cao
với sự thay đổi độ mặn của nước. Cua có thể sống trong vùng nước gần như ngọt
cho đến độ mặn trên 33
o
/
oo
. Nhưng trong thời kỳ đẻ trứng, ấp trứng và thời kỳ ấu
trùng, cua đòi hỏi độ mặn từ 28 – 32%o. Tuy nhiên, theo Trung tâm Khuyến ngư
Quốc Gia-Bộ Thủy Sản (2006) cua biển sống, sinh trưởng và phát triển tốt trong độ
mặn từ 5-33,2
o
/
oo
và phù hợp nhất 13,7-26,9
o
/
oo
. DANIDA-Bộ Thủy Sản (2003) cho
rằng giới hạn độ mặn để cua sống và phát triển từ 2-35
o
/
oo
.

độ nước lên đến 39
0
C, mai cua xuất hiện những chấm đỏ xám, cua yếu dần rồi chết.
Nhu cầu oxy hoà tan: hàm lượng oxy hoà tan lớn hơn 2 mg/l, cua bắt mồi
rất nhiều. Khi hàm lượng oxy hoà tan nhỏ hơn 1 mg/l, cua phản ứng chậm chạp,
không bắt mồi, xuất hiện nổi đầu, thậm chí chết. Khi cua lột xác, yêu cầu hàm lượng
21

oxy hòa tan rất cao, nếu không đủ oxy việc lột xác không thuận lợi, cua sẽ chết
(Trung tâm khuyến ngư Quốc Gia-Bộ Thủy Sản, 2006).
Ðịch hại của cua: theo Hoàng Ðức Ðạt (1995) cua có nhiều địch thủ lợi
hại, cua ăn thịt lẫn nhau. Ngoài ra, còn có rất nhiều loài dịch hại khác gây hại
đến cua, tùy mỗi giai đoạn cua sẽ có từng loại dịch hại khác nhau bao gồm nhiều
loài động vật sống trong nước, trên cạn như các loài cá dữ, chim ăn thịt, chuột,
rắn,… ăn thịt lẩn nhau một trong những nguyên nhân của sự hao hụt chính trong
nuôi các loài cua biển nhất là giai đoạn cua con (Vũ Ngọc Ut và ctv, 2007)
2.3 Tình hình nghiên cứu nuôi cua biển
2.3.1 Nghiên cứu nuôi cua biển trên thế giới
Trên thế giới, nuôi cua biển đã phát triển ở Trung Quốc từ hơn 100 năm và
hơn 30 năm tại các nước Châu Á khác (Keenan, 1999).
Rất nhiều báo cáo về nuôi cua được đề cập tại hội thảo về nuôi và thương
mại cua biển tổ chức tại Swat Thani, Thái Lan năm 1991 như Báo cáo về nuôi,
thương mại và định hướng phát triển cua biển ở vịnh Bengal của Sivasubramaniam
và Angell; Báo cáo về sinh học và nuôi cua biển ở Queensland của Lee; nuôi cua
biển ở Philippines của Jericardo và Mondgagon; về nuôi vỗ béo cua ở Sri Lanka
(Silva), ở Thái Lan (Rattanachote và Dangwatanakul), ở Malaysia (Liong); nuôi cua
biển trong ao ở Sri Lanka của Samarasinghe et al…Đặt biệt báo cáo về khai thác và
nuôi cua biển ở Indonesia của Cholik và Hanafi. Trong đó ý tưởng nuôi vỗ béo cua
1 con/lồng 0,025 m
3

lượng tăng thêm 110 g sau 15-30 ngày nuôi. Nghiên cứu của Silva (1991) ở Sri
Slanka nuôi vỗ trong bể ximăng (4m x 4m x 1m) trọng lượng cua tăng 62,83% sau
62 ngày nuôi và 96 g sau 35 ngày nuôi trong ao nuôi tôm 0,4 ha.
Nuôi cua thịt trong ao: Tại Ấn Độ, Munawar et al (1998) nuôi cua S.
tranquebarica trọng lượng 80-100 g/con, mật độ 1-5 con/m
2
nuôi 4 tháng đạt 400-
500 g/con, nuôi 7 tháng đạt 800-1.000 g/con. Tỷ lệ sống đạt 70-80%. Christensen et
al (2004) nuôi cua trong ao ở ĐBSCL, Việt Nam từ 120-186 ngày đạt kích cở 200-
300 g/con. Tại Indonesia, Cholik (1999) thí nghiệm nuôi cua với 3 mật độ 1 con/m
2
,
3 con/m
2
và 5 con/m
2
trong 6 ao 96 m
2
sau 90 ngày cua đạt kết quả tương ứng 146,
159 và 158 g/con với tỷ lệ sống 81,2%, 43,1% và 32,9%.
23

Nuôi cua lột: Trên thế giới chưa có nhiều báo cáo về nuôi cua lột. Tại Việt
Nam, năm 1994, Khoa Sinh-Trường Đại học Tổng Hợp Huế đã đề cập đến kỹ thuật
này. Năm 1995, Hoàng Đức Đạt đề cập đến trong sách “Kỹ thuật nuôi cua
biển”. Năm 1999, trong báo cáo tại Hội nghị Sinh học và nuôi cua biển tại
Australia, Hoang Duc Dat mô tả: sử dụng cua 30-60 g, bẻ càng và chân bò chỉ chừa
2 chân chèo. Cho cua vào lồng tre (1,5m x 1m x 0,25m) hoặc ao, sau 11-20 ngày có
thể thu sản phẩm cua lột. Trước đó, kỹ thuật này được Doan Van Dau et al báo cáo
tại Hội nghị quốc tế về nuôi cua tại Philippine năm 1998 nhưng với cỡ cua 50-100 g

An. Ở Tiền Giang, phong trào nuôi cua còn rất kém phát triển, chỉ rải rác ở huyện
Gò Công. Trong khi đó, Long An là địa phương duy nhất có mô hình nuôi cua lột
rất phát triển ở huyện Cần Giuộc. Sóc Trăng, Kiên Giang và Bến Tre là các địa bàn
có hình thức nuôi cua đơn trong ao phổ biến và một số hình thức nuôi kết hợp cua-
tôm và cua-tôm-rừng. Cà Mau và Bạc Liêu phổ biến nhất với các mô hình (ngoại trừ
nuôi cua lột), trong đó kết hợp cua-tôm và cua-tôm-rừng là chủ lực.
2.3.2.2 Nghiên cứu về cua biển ở Việt Nam
Nguồn giống cung cấp cho nghề nuôi cua biển ở nước ta chủ yếu là bắt từ tự
nhiên (Nguyễn Cơ Thạch và ctv; Vũ Ngọc Út, 2005). Cua giống tự nhiên thường
được vận chuyển xa từ địa bàn nuôi và qua nhiều thương lái nên khi về đến ao nuôi
thường yếu và có tỉ lệ tỷ lệ sống không cao (Vũ Ngọc Út, 2005). Tuy nhiên, cua sản
xuất nhân tạo cũng đã được nuôi thử nghiệm thành công. Theo Trung tâm Khuyến
Nông Quốc Gia (2008) cua bột có kích thước 0,5-0,7 cm được ương trong giai đặt
trong ao đất lên giống 2-3 cm. Sau đó thả nuôi trong ao với mật độ thả 1 con/m
2
.
Sau gần 6 tháng nuôi, cua đạt tỷ lệ sống trên 60%, năng suất đem lại gần 1,2 tấn
cua/ha, giá bán 80.000 đồng/kg cua thương phẩm 250-350g/con, sau khi trừ các
khoản chi phí, lợi nhuận hơn 30 triệu đồng/ha.
Hình thức nuôi: theo Doan Van Dau et al (1998), Hoang Duc Dat (1999)
gồm có nuôi cua thịt, nuôi cua vỗ béo và nuôi cua lột. Tuy nhiên, theo Vũ Ngọc Út
25

(2005) nuôi cua được phát triển dưới các hình thức như nuôi cua đơn (trong ao),
nuôi cua kết hợp với tôm (cua-tôm) hoặc cua kết hợp với tôm trong rừng (cua-tôm-
rừng). Với hình thức nuôi cua đơn thì có các mô hình nuôi cua thịt (từ con giống lên
kích thước thương phẩm), nuôi cua gạch và nuôi cua lột. Ý tưởng nuôi cua trong
hộp nhựa PP tại Việt Nam được Nguyễn Chung (2006) đề cập đến trong sách “Kỹ
thuật sản xuất giống và nuôi ghẹ xanh, cua biển” trên cơ sở tài liệu kỹ thuật nuôi
ghẹ xanh của Thái Lan và nuôi cua lột của Việt Nam.

phục vụ cho Chương trình Quốc tế EC về tái hòa nhập người Việt Nam hồi hương.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status