Quản lý tài chính: chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty ĐTXD và PTKT hạ tầng Sơn Vũ - Pdf 11

Báo cáo quản lý
LỜI MỞ ĐẦU
Từ cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường
có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng XHCN đã mở ra những hướng
đi mới cho các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất nói riêng. Tuy
nhiên với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
các doanh nghiệp phải cạnh tranh gay gắt với nhau để tồn tại và phát triển. Đứng
trước vấn đề này bản thân các doanh nghiệp phải đặt công tác quản lý lên hàng đầu.
Muốn quản lý có hiệu quả các doanh nghiệp cần phải sử dụng kết hợp các công cụ
quản lý khác nhau. Sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường phụ thuộc và rất nhiều yếu tố như: môi trường kinh doanh, trình độ quản
lý của các nhà doanh nghiệp đặc biệt là trình độ quản lý tài chính - đây là một công
cụ quan trọng.
Muốn sản phẩm của mình chiếm lĩnh được thị trường và thực sự có lợi nhuận
trong sản xuất kinh doanh thì công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm phải giữ một vị trí hết sức quan trọng trong quản lý tài chính. Xác định chính
xác chi phí sản xuất, tính đúng, tính đủ giá thành sản xuất giúp các nhà quản lý
doanh nghiệp đưa ra được phương án tối ưu cho sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản
phẩm. Do đó việc tổ chức công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là
một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Xuất phát từ thực tiễn
đó với mong muốn góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm, em đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu và lựa chọn đề tài: "Quản lý tài
chính: chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty ĐTXD và PTKT hạ
tầng Sơn Vũ".
Mục đích của việc nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn về quá trình tập hợp
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là xác định được một phương pháp quản lý
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phù hựp với Công ty ĐTXD và PTKT hạ tầng
Sơn Vũ.
Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức quản lý chi phí sản xuất - giá thành sản phẩm
tại Công ty ĐTXD và PTKT hạ tầng Sơn Vũ.
Số liệu sử dụng để minh hoạ cho việc nghiên cứu là: (2003

phí nhất định trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, tức là
doanh nghiệp phải xác định được giá thành sản phẩm. Tuỳ thuộc vào loại hình
kinh doanh của doanh nghiệp mà tỷ trọng cán bộ chi phí có thể không giống
nhau và tuỳ thuộc các cách tiếp cận khác nhau.
Người ta có thể xét các loại chi phí dưới các giác độ khác nhau nhằm
phục vụ cho yêu cầu quản lý, tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm của
doanh nghiệp.
I. CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm: Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ
chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm và các khoản tiền thuế gián thu mà
doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất trong một thời kỳ
nhất định.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra trên các lĩnh
vực sản xuất, xây dựng cơ bản, thương mại dịch vụ… là để sản xuất và cung
cấp hàng hoá - dịch vụ cho người tiêu dùng nhằm thu được lợi nhuận. Để đạt
được mục tiêu kinh doanh đó nhất thiết các doanh nghiệp phải bỏ ra những
chi phí nhất định.
- Chi phí cho việc sản xuất sản phẩm: là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
hao phí về vật chất và lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất sản
phẩm trong một thời kỳ nhất định: NVL, hao mòn, công cụ dụng cụ, lương…
3 3
Báo cáo quản lý
- Chi phí việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm: Tất cả các chi phí liên quan
đến việc tiêu thụ sản phẩm bao gồm: bao bì đóng gói, vận chuyển, bảo quản
điều tra thị trường, quảng cáo…
- Ngoài những chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong kinh doanh.
Doanh nghiệp cần phải nộp những khoản thuế gián thu cho Nhà nước theo
luật thuế đã quy định. Đối với doanh nghiệp những khoản thuế phải nộp trên
là những chi phí mà doanh nghiệp phải ứng trước cho người tiêu dùng hàng
hoá và chỉ được thu hồi khi các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp

a. Chi phí sản xuất sản phẩm: Căn cứ vào tiêu chuẩn khác nhau, chi phí
sản xuất của doanh nghiệp có thể phân ra làm nhiều loại khác nhau.
* Theo yếu tố chi phí sản xuất gồm:
- NVL: gồm vật liệu chính và vật liệu phụ
- Nhiên liệu, động lực
- Tiền lương
- Các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ)
- Khấu hao TSCĐ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài.
Việc phân loại theo cách này thấy rõ mức chi phí về lao động vật hoávà
lao động sống trong toàn bộ chi phí sản xuất. Điều này rất cần thiết để xác
định trọng điểm quản lý chi phí và kiểm tra sự cân đối với các kế hoạch khác
như: kế hoạch cung cấp vật tư, lao động tiền lương, kế hoạch khấu hao…
* Theo khoản mục tính giá thành gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
- Chi phí QLDN
- Chi phí bán hàng
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp tính được giá thành sản
phẩm, đồng thời xác định ảnh hưởng sự biến động từng khoản mục đối với
5 5
Báo cáo quản lý
toàn bộ giá thành sản phẩm nhằm khai thác khả năng tiềm tàng trong nội bộ
doanh nghiệp.
* Theo mối quan hệ chi phí và sản lượng
- Chi phí biến đổi: là những chi phí biến động trực tiếp theo sự thay đổi
(tăng hay giảm) của sản lượng hàng hoá như: NVL, Tiền lương, tiền hoa
hồng.
- Chi phí cố định: Là những chi phí không bị biến động trực tiếp theo sự

phẩm…
c. Một số điểm cần lưu ý về quản lý chi phí
- Đối với các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của hoạt động kinh doanh,
hoạt động tài chính, hoạt động bất thường thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia
tăng nên:
+ Xác định số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ thì chi
phí không bao gồm tiền thuế GTGT đầu vào.
+ Xác định số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp thì chi
phí bao gồm cả tiền thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp doanh nghiệp đồng thời có 2 loại kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì phải hạch toán riêng
thuế GTGT đầu vào, chi phí sản xuất kinh doanh theo quy định nói trên. Nếu
không hạch toán riêng được thì hạch toán chung toàn bộ thuế GTGT đầu vào
và phân bổ GTGT được khấu trừ và không được khấu trừ theo quy định hiện
hành. Số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ phải tính vào chi phí sản
xuất kinh doanh.
2.2. Kết cấu chi phí
a) Khái niệm: Kết cấu chi phí là tỷ trọng các yếu tố chi phí trong tổng số
chi phí sản xuất kinh doanh tại một thời điểm nhất định.
b) Ý nghĩa của việc nghiên cứu kết cấu chi phí
Giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành sản xuất có kết cấu sản
xuất kinh doanh không giống nhau. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu
chi phí như: đặc điểm sản xuất, trình độ kỹ thuật, loại hình, quy mô…
7 7
Báo cáo quản lý
Việc nghiên cứu kết cấu chi phí sản xuất - kinh doanh có ý nghĩa rất
lớn:
- Cho biết tỷ trọng của các chi phí về nhân công và chi phí vật chất
chiếm trong tổng số chi phí từ đó thấy được đặc điểm sản xuất của từng ngành
sản xuất, đồng thời phản ánh trình độ phát triển kỹ thuật của từng ngành.

quan đến sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất.
+ Giá thành tiêu thụ: là những chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí
phát sinh liên quan đến sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng.
+ Giá thành tiêu thụ: là những chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi
phí phát sinh liên quan đến sản xuất tiêu thụ sản phẩm:
Giá thành tiêu thụ (còn gọi là giá thành toàn bộ) được tính theo công thức:
=
nphÈms
nxuÊtthµnhsGi

¶¸
+ +
Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh
(lãi, lỗ) của từng mặt hàng mà doanh nghiệp kinh doanh.
3. Đặc điểm
+ Giá thành sản phẩm của một doanh nghiệp là biểu hiện chi phí cá biệt
của doanh nghiệp để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Cùng một loại sản phẩm
có thể có nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất nhưng do trình độ quản lý khác
nhau nên giá thành sản phẩm cũng khác nhau.
+ Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có thể phân biệt giữa giá
thành sản phẩm và giá thành toàn bộ các sản phẩm dịch vụ đã tiêu thụ.
4. Vai trò của giá thành trong công tác quản lý các hoạt động kinh doanh
+ Giá thành là thước đo mức hao phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là
căn cứ để xác định hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Giá thành là công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát tình
hình lao động xem xét hiệu quả các biện pháp tổ chức.
+ Giá thành là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng chính xác
giá cả đối với từng loại sản phẩm.
5. Phương pháp tính giá thành
9 9

- Tình hình thực tế của doanh nghiệp.
10 10
Báo cáo quản lý
- Căn cứ vào kế hoạch sản xuất: kế hoạch cung cấp vật tư, kế hoạch
khấu hao.
2. Phương pháp lập kế hoạch
- Một trong những nội dung quan trọng của việc quản lý chi phí kinh
doanh là phải lập được kế hoạch chi phí hàng năm của doanh nghiệp.
- Xây dựng giá thành kế hoạch theo khoản mục trước hết phải xây dựng
giá thành đơn vị sản phẩm.
PHẦN II
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHI PHÍ SẢN XUẤT GIÁ THÀNH CỦA
CÔNG TY ĐTXD VÀ PTKT HẠ TẦNG SƠN VŨ
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY ĐTXD VÀ PTKT HẠ TẦNG SƠN VŨ
1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của công ty
Thực hiện chủ trương và nghị quyết của Đảng về phát triển nền kinh tế
đa thành phần trong cả nước nói chung và Hà Giang nói riêng. Công ty
ĐTXD và PTKT hạ tầng Sơn Vũ (trước đây là Công ty TNHH Sơn Vũ) được
thành lập tại quyết định số 1379QĐ/UB ngày 08/09/1998. Giấy phép đăng ký
kinh doanh số 004978 do Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Hà Giang cấp ngày
29/09/19998 nay đổi lại giấy đăng ký kinh doanh số 044978 do Sở Kế hoạch
Đầu tư Hà Giang cấp ngày 11/01/2003.
Là một công ty ngoài quốc doanh hoạt động trên các lĩnh vực:
- Xây dựng công trình giao thông
- Xây dựng dân dụng nhà ở
- Xây dựng thuỷ lợi, thuỷ điện nhỏ đến cấp IV
- Đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng đô thị và kinh doanh nhà.
- Xây dựng điện dân dụng đến 35KV.
- Sản xuất gỗ chế biến nông lâm sản.
Kể từ khi thành lập, Công ty ĐTXD và PTKT hạ tầng Sơn Vũ đã tích

Năm 1998 do mới thành lập nên công ty đã chủ yếu tập trung vào các
công trình nhỏ như thuỷ lợi, thủy điện, xây dựng dân dụng, đường dân sinh
12 12
Báo cáo quản lý
trực thuộc nguồn vốn 135 và dự án HPM với tổng doanh thu: 24,36 tỷ đồng.
Đến năm 2002, tổng sản lượng công trình đã đi vào thi công, nghiệm thu đưa
vào sử dụng 125,5 tỷ đồng. Đến tháng 8 năm 2003, công ty đã ký được một
số hợp đồng với sản lượng đạt 66,2 tỷ đồng. Ngoài ra Ban giám đốc Công ty
còn phấn đấu đưa công ty trở thành một tổng công ty lớn mạnh về các ngành
nghề đăng ký kinh doanh trong nước mà còn mở rộng ngành nghề, địa bàn ra
thị trường nước ngoài.
2. Chức năng nhiệm vụ hiện nay của Công ty
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch nâng cao hiệu quả, mở rộng sản xuất
kinh doanh để tự bù đắp kinh phí và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.
- Thực hiện phân công theo lao động, tổ chức tốt đời sống và chế độ
cho người lao động theo quy định.
- Chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty thực
hiện quyền hạn và nghĩa vụ của công ty theo quy định hiện hành.
- Sản xuất gỗ, chế biến nông, lâm sản đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng
theo quy định.
- Đảm bảo thi công các công trình đảm bảo kỹ thuật, mỹ thuật thực hiện
việc bảo hành các công trình theo quy định.
Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
3. Nhiệm vụ của công ty
Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành nghề đăng ký.
Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ kế toán thống kê, chế độ báo cáo.
Nghiêm chỉnh thực hiện đăng ký, kê khai nộp thuế và các nghĩa vụ tài
chính khác theo quy định của pháp luật.
Đảm bảo chất lượng hàng hoá sản phẩm theo tiêu chuẩn quy định.
Ưu tiên sử dụng lao động của địa phương trong nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status