Quản lý tài chính chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty ĐTXD và PTKT hạ tầng Sơn Vũ. - Pdf 32

Hội đồng thành viên
Giám đốc
Phó Giám đốc
Phó Giám đốc
Phòng
Kế toán
Phòng
Nghiệp vụ
Phòng Tổ chức hành chính
Phòng
Kinh doanh
Các đội sản xuất
Báo cáo quản lý
LỜI MỞ ĐẦU
Từ cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường
có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng XHCN đã mở ra những hướng
đi mới cho các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất nói riêng. Tuy
nhiên với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
các doanh nghiệp phải cạnh tranh gay gắt với nhau để tồn tại và phát triển. Đứng
trước vấn đề này bản thân các doanh nghiệp phải đặt công tác quản lý lên hàng đầu.
Muốn quản lý có hiệu quả các doanh nghiệp cần phải sử dụng kết hợp các công cụ
quản lý khác nhau. Sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường phụ thuộc và rất nhiều yếu tố như: môi trường kinh doanh, trình độ quản
lý của các nhà doanh nghiệp đặc biệt là trình độ quản lý tài chính - đây là một công
cụ quan trọng.
Muốn sản phẩm của mình chiếm lĩnh được thị trường và thực sự có lợi nhuận
trong sản xuất kinh doanh thì công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm phải giữ một vị trí hết sức quan trọng trong quản lý tài chính. Xác định chính
xác chi phí sản xuất, tính đúng, tính đủ giá thành sản xuất giúp các nhà quản lý
doanh nghiệp đưa ra được phương án tối ưu cho sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản
phẩm. Do đó việc tổ chức công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là

Em rất mong được tiếp thu những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo trong
trường và các bạn để có điều kiện nâng cao kiến thức của mình phục vụ tốt hơn cho
quá trình học tập và thực tiễn sau này.
Em xin chân thành cảm ơn.
2
Báo cáo quản lý
PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh của
mình đều nhằm mục đích cuối cùng là tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở
hữu. Để thực hiện các mục tiêu đó, doanh nghiệp phải bỏ ra những khoản chi
phí nhất định trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, tức là
doanh nghiệp phải xác định được giá thành sản phẩm. Tuỳ thuộc vào loại hình
kinh doanh của doanh nghiệp mà tỷ trọng cán bộ chi phí có thể không giống
nhau và tuỳ thuộc các cách tiếp cận khác nhau.
Người ta có thể xét các loại chi phí dưới các giác độ khác nhau nhằm
phục vụ cho yêu cầu quản lý, tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm của
doanh nghiệp.
I. CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm: Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn
bộ chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm và các khoản tiền thuế gián
thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất trong một
thời kỳ nhất định.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra trên các lĩnh
vực sản xuất, xây dựng cơ bản, thương mại dịch vụ… là để sản xuất và cung
cấp hàng hoá - dịch vụ cho người tiêu dùng nhằm thu được lợi nhuận. Để đạt
được mục tiêu kinh doanh đó nhất thiết các doanh nghiệp phải bỏ ra những
chi phí nhất định.
- Chi phí cho việc sản xuất sản phẩm: là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ

* Ngành thương mại dịch vụ: (chi phí phát sinh gồm)
- Trị giá mua ngoài của hàng hoá tiêu thụ.
- Chi phí lưu thông hàng hoá
4
Báo cáo quản lý
- Chi phí liên quan đến việc đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp.
* Đối với doanh nghiệp thương mại: Chu kỳ dài hơn do phải trải qua
nhiều công đoạn như: mua, kiểm nhận, bốc xếp…
* Đối với doanh nghiệp vận tải, bưu điện, may mặc… các khoản chi phí
về lương, khấu hao nhiên liệu chiếm tỷ trọng cao.
2. Phân loại kết cấu chi phí
2.1. Phân loại chi phí
a. Chi phí sản xuất sản phẩm: Căn cứ vào tiêu chuẩn khác nhau, chi phí
sản xuất của doanh nghiệp có thể phân ra làm nhiều loại khác nhau.
* Theo yếu tố chi phí sản xuất gồm:
- NVL: gồm vật liệu chính và vật liệu phụ
- Nhiên liệu, động lực
- Tiền lương
- Các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ)
- Khấu hao TSCĐ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài.
Việc phân loại theo cách này thấy rõ mức chi phí về lao động vật hoávà
lao động sống trong toàn bộ chi phí sản xuất. Điều này rất cần thiết để xác
định trọng điểm quản lý chi phí và kiểm tra sự cân đối với các kế hoạch khác
như: kế hoạch cung cấp vật tư, lao động tiền lương, kế hoạch khấu hao…
* Theo khoản mục tính giá thành gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
- Chi phí QLDN

đối với doanh nghiệp là hết sức quan trọng. Khối lưỡng hàng hoá tiêu thụlà
một trong nhiều nhân tố ảnh hưởng có tính quyết định đến quy mô sản xuất
của một doanh nghiệp. Để thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm và mở rộng thị
trường tiêu thụ doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí cần thiết gồm:
6
Báo cáo quản lý
- Chi phí trực tiếp cho việc tiêu thụ sản phẩm: đây là những chi phí liên
quan trực tiếp đến việc tiêu thụ sản phẩm phát sinh trong quá trình chuyển sản
phẩm từ người sản xuất đến người mua như: chi phí đóng gói, vận chuyển,
bốc dỡ, bảo quản…
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí chẳng có liên quan đến việc mở
rộng thị trường như: chi phí tiếp thị, chi phí điều tra, quảng cáo, bảo hành sản
phẩm…
c. Một số điểm cần lưu ý về quản lý chi phí
- Đối với các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của hoạt động kinh doanh,
hoạt động tài chính, hoạt động bất thường thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia
tăng nên:
+ Xác định số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ thì chi
phí không bao gồm tiền thuế GTGT đầu vào.
+ Xác định số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp thì chi
phí bao gồm cả tiền thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp doanh nghiệp đồng thời có 2 loại kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì phải hạch toán riêng
thuế GTGT đầu vào, chi phí sản xuất kinh doanh theo quy định nói trên. Nếu
không hạch toán riêng được thì hạch toán chung toàn bộ thuế GTGT đầu vào
và phân bổ GTGT được khấu trừ và không được khấu trừ theo quy định hiện
hành. Số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ phải tính vào chi phí sản
xuất kinh doanh.
2.2. Kết cấu chi phí
a) Khái niệm: Kết cấu chi phí là tỷ trọng các yếu tố chi phí trong tổng số

+ GTKH được xác định khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành
thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch.
+ GTĐM: cũng như GTKH chỉ khác là được xác định trên cơ sở định
mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch.
+ GTTT được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm
dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.
8
Báo cáo quản lý
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí.
Xác định được các nguyên nhân vượt, hụt định mức chi phí trong kỳ kế toán.
Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
+ Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả chi phí phát sinh liên
quan đến sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất.
+ Giá thành tiêu thụ: là những chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí
phát sinh liên quan đến sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng.
+ Giá thành tiêu thụ: là những chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi
phí phát sinh liên quan đến sản xuất tiêu thụ sản phẩm:
Giá thành tiêu thụ (còn gọi là giá thành toàn bộ) được tính theo công thức:
= + +
Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh
(lãi, lỗ) của từng mặt hàng mà doanh nghiệp kinh doanh.
3. Đặc điểm
+ Giá thành sản phẩm của một doanh nghiệp là biểu hiện chi phí cá biệt
của doanh nghiệp để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Cùng một loại sản phẩm
có thể có nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất nhưng do trình độ quản lý khác
nhau nên giá thành sản phẩm cũng khác nhau.
+ Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có thể phân biệt giữa giá
thành sản phẩm và giá thành toàn bộ các sản phẩm dịch vụ đã tiêu thụ.
4. Vai trò của giá thành trong công tác quản lý các hoạt động kinh doanh
+ Giá thành là thước đo mức hao phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là

+ Loại trừ giá trị sản phẩm phụ
+ Tỷ lệ chi phí
III. LẬP KẾ HOẠCH GIÁ THÀNH ĐƠN VỊ SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
Để quản lý giá thành mỗi doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch giá thành.
Nhiệm vụ chủ yếu của xây dựng kế hoạch giá thành là phát hiện và khai thác
mọi khả năng tiềm tàng để giảm bớt chi phí sản xuất tiêu thụ sản phẩm.
1. Căn cứ lập kế hoạch
Khi lập kế hoạch giá thành có thể căn cứ vào:
- Tình hình thực tế của doanh nghiệp.
10
Báo cáo quản lý
- Căn cứ vào kế hoạch sản xuất: kế hoạch cung cấp vật tư, kế hoạch
khấu hao.
2. Phương pháp lập kế hoạch
- Một trong những nội dung quan trọng của việc quản lý chi phí kinh
doanh là phải lập được kế hoạch chi phí hàng năm của doanh nghiệp.
- Xây dựng giá thành kế hoạch theo khoản mục trước hết phải xây dựng
giá thành đơn vị sản phẩm.
PHẦN II
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHI PHÍ SẢN XUẤT GIÁ THÀNH CỦA
CÔNG TY ĐTXD VÀ PTKT HẠ TẦNG SƠN VŨ
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY ĐTXD VÀ PTKT HẠ TẦNG SƠN VŨ
1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của công ty
Thực hiện chủ trương và nghị quyết của Đảng về phát triển nền kinh tế
đa thành phần trong cả nước nói chung và Hà Giang nói riêng. Công ty
ĐTXD và PTKT hạ tầng Sơn Vũ (trước đây là Công ty TNHH Sơn Vũ) được
thành lập tại quyết định số 1379QĐ/UB ngày 08/09/1998. Giấy phép đăng ký
kinh doanh số 004978 do Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Hà Giang cấp ngày
29/09/19998 nay đổi lại giấy đăng ký kinh doanh số 044978 do Sở Kế hoạch
Đầu tư Hà Giang cấp ngày 11/01/2003.

anh em công nhân về các lĩnh vực: BHXH, BHYT, KPCĐ. Trang thiết bị bảo
hiểm lao động, thể thao, văn hoá, xã hội BCH công đoàn còn đề xuất với lãnh
đạo công ty được nhận bằng khen của Liên đoàn Lao động tỉnh Hà Giang.
Tháng 12-2002 BCH Công đoàn công ty đã đề nghị với thường trực huyện uỷ
và được thường trực huyện uỷ cho phép thành lập chi bộ Đảng, mọi thủ tục đã
và đang hoàn tất để chi bộ sớm ra mắt trong thời gian gần, BCH Công đoàn
đã bầu được 5 đoàn viên ưu tú đi học đối tượng Đảng, tháng 1 năm 2003 đến
tháng 4/2003 công ty đã kết nạp thêm 03 đồng chí Đảng viên mới.
Năm 1998 do mới thành lập nên công ty đã chủ yếu tập trung vào các
công trình nhỏ như thuỷ lợi, thủy điện, xây dựng dân dụng, đường dân sinh
12
Báo cáo quản lý
trực thuộc nguồn vốn 135 và dự án HPM với tổng doanh thu: 24,36 tỷ đồng.
Đến năm 2002, tổng sản lượng công trình đã đi vào thi công, nghiệm thu đưa
vào sử dụng 125,5 tỷ đồng. Đến tháng 8 năm 2003, công ty đã ký được một
số hợp đồng với sản lượng đạt 66,2 tỷ đồng. Ngoài ra Ban giám đốc Công ty
còn phấn đấu đưa công ty trở thành một tổng công ty lớn mạnh về các ngành
nghề đăng ký kinh doanh trong nước mà còn mở rộng ngành nghề, địa bàn ra
thị trường nước ngoài.
2. Chức năng nhiệm vụ hiện nay của Công ty
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch nâng cao hiệu quả, mở rộng sản xuất
kinh doanh để tự bù đắp kinh phí và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.
- Thực hiện phân công theo lao động, tổ chức tốt đời sống và chế độ
cho người lao động theo quy định.
- Chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty thực
hiện quyền hạn và nghĩa vụ của công ty theo quy định hiện hành.
- Sản xuất gỗ, chế biến nông, lâm sản đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng
theo quy định.
- Đảm bảo thi công các công trình đảm bảo kỹ thuật, mỹ thuật thực hiện
việc bảo hành các công trình theo quy định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status