VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975 - Pdf 11

Văn xuôI việt nam sau 1975
Mục tiêu cần đạt
Giúp học sinh :
- V kin thc :
+ Nắm ợc sự thay đổi to lớn của hoàn cảnh lịch sử, xã hội dẫn đến sự thay đổi môi trờng văn
hoá và trung tâm sáng tạo của nhà văn.
+ Hiểu đợc cái nhìn dân chủ hoá về con ngời và hiện thực đã đa đến những đổi mới phong phú
về thể loại và thủ pháp biểu hiện trong vn xuụi.
+ Một số chủ đề chính của văn xuụi sau 1975 : Nhận thức lại một số vấn đề xã hội trong quá
khứ và thực tại, những băn khoăn, trăn trở về con ngời và về cách viết.
- V k nng : Cú k nng c - hiu, phõn tớch v cm th tỏc phm vn xuụi sau 1975
Nội dung
I. Hon cnh lch s xó hi
1. Những bớc chuyển của lịch sử
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, giải phóng miền Nam kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch
Hồ Chí Minh lịch sử. Đất nớc thống nhất, bớc vào thời kỳ khôi phục và phát triển. D âm chiến thắng và
niềm tự hào dân tộc, niềm vui sum họp vẫn tiếp tục đợc phản ánh trong văn học, tiếp nối khuynh hớng
sử thi và cảm hứng lãng mn trong văn học giai đoạn trớc (1945 - 1975).
Bớc ra khi cuộc chiến, con ngời có điều kiện nhìn nhận về nó một cách toàn diện và khách quan
hơn. Hậu quả của chiến tranh cả về vật chất và tinh thần bắt đầu đợc đề cập một cách cụ thể : Đất nớc chia
cắt, bị tàn phá, nền kinh tế vốn đã lạc hậu, thấp kém của một xứ thuộc địa mới giành đợc độc lập lại bị
chiến tranh kéo dài nên càng kiệt quệ, tụt hậu, các làng mạc, thành phố bị phá huỷ, hàng vạn, hàng triệu ng-
ời ngã xuống, nỗi đau, s mt mỏt v tinh thần của cả một dân tộc quá lớn
Mặt khác, chính sách cấm vận, cô lập của cá thế hệ thù địch càng đẩy Việt Nam vào tình thế
khó khăn. Sự khủng hoảng dẫn đến tan vỡ của hệ thống các nớc XHCN và sự sụp đổ của Liên Xô tỏc
ng khụng nh ti tỡnh hỡnh trong nc. Chính sách kinh tế - xã hội trong nớc nặng nề duy ý chí, chủ
quan, nóng vội khiến tình hình Vit Nam lâm vào tình trạng khủng khoảng trầm trọng đầu và giữa thập
kỷ 80 ca th k XX.
Nhng sc sng mnh m v bn b ca mt dõn tc ó cú lch s my nghỡn nm dng nc
v gi nc li mt ln na a t nc thoỏt khi tỡnh th him nghốo. ng li i mi ó hỡnh
thnh trong thc tin nhiu c s v lnh vc kinh t v tr thnh ng li chớnh thc ca Đảng t

hu, khụng tỡm thy ch ng trong xó hi mi. Khụng ớt ngi trong gii tr chy theo li sng
hng th vt cht, coi nh cỏc giỏ tr tinh thn
Tất cả những biến động về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội t tởng đều tác động mạnh mẽ
tới sự phát triển Văn học Vit Nam sau nm 1975 từ nội dung phản ánh đến hình thức biểu hiện, từ nh
vn ti c gi, t quá trình sáng tác đến quá trình tiếp nhận văn học
3. Đòi hỏi đổi mới văn học
Văn học Vit Nam từ 1945 - 1975 đã khép lại và làm trũn sứ mệnh của một nền văn học phục vụ
cách mạng, cổ vũ chiến đấu, vì Tổ quốc, vỡ nhân dân. Dù khuynh hớng sử thi, cm hng lóng mn, dự đề
tài, chủ đề, nhân vật của văn học giai đoạn này còn tiếp tục xuất hiện và chi phối văn học Việt Nam ở nửa
cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 nhng nhìn chung, diện mạo văn học Việt Nam sau 1975 đã thay đổi trong
nhu cầu và quan niệm thẩm mỹ, đáp ứng yêu cầu phải đổi mới của thời đại.
Những vấn đề trong quá khứ đợc đa ra xem xét và nhìn nhận lại một cách khách quan, đúng
đắn, ở nhiều bình diện hơn. Nhng vấn đề mới, hoặc những vấn đ từng bị né tránh, không đợc đề cập
ti thì nay đợc phản ánh một cách toàn diện sâu sắc. Nhu cầu đổi mới văn học trở thành hòi hỏi chung
của cả giới sáng tác, lý luận phờ bỡnh lẫn công chúng. Bằng cỏi nhìn tìm tòi, thể nghiệm cả trên bình
diện sáng tác và tiếp nhận, lý luận phê bình, vn học đã hình thành một t duy nghệ thuật mới trên cơ sở
đổi mới toàn diện và quan niệm về văn chơng, về công chúng văn học. Nhiều vấn đề cốt lõi cơ bản của
văn học trớc đó vốn đợc xem là chân lý hiển nhiên, bây giờ đợc xem xét lại trở thành những vấn đề
tranh cãi, bàn thảo khá sôi nổi. Chng hn vn vai trũ, v trớ v chc nng ca vn hc, khỏi nim
hin thc trong vn chng, mi quan h gia nh vn v c gi, cỏc phng thc phn ỏnh
Nhiều khuynh hớng, trào lu nghệ thuật của nớc ngoài ảnh hởng vào Việt Nam tác động tới sự
tìm tòi, sáng tạo của nhà văn và thị hiếu tiếp nhận của độc gi. õy l giai on nhiu tỏc phm vn
xuụi ca ch ngha hin thc huyn o M La tinh, ca Phng Tõy trn vo Vit Nam. Khụng phi
ngu nhiờn m khi ú, c gi tng nỏo nc tỡm c mt s cun tiu thuyt dch ca nc ngoi, phự
hp vi th hiu ó thay i, ó tm ún i cao hn ca h.
II. Mt vi c im c bn ca vn xuụi Vit Nam sau 1975
Văn học Việt Nam từ sau 1975 đã tồn tại và phát triển trong một môi trờng ý thức tinh thần có
nhiều biến đổi, qua nhiều chặng phát triển. S phõn loi cỏc chng phỏt trin vn xuụi n nay vn cũn
nhiu tranh cói, vic tỡm hiu, khỏi quỏt c im ca giai on vn hc phc tp ny khụng h n gin.
Trờn c s nghiờn cu v tip thu thnh qu nghiờn cu ca cỏc giỏo s u ngnh, cỏc cụng trỡnh nghiờn

của Nguyễn Khải
Văn học không chỉ là tiếng nói của cộng đồng mà còn có thể là phát ngôn, thể nghiệm, nhận
thức của mỗi cá nhân, từ đó nhà văn quan tâm hơn đến những số phận cá nhân, đơn lẻ.
1.2. Về mối quan hệ giữa nhà văn và độc giả
Nền văn học 1945 - 1975 đã đào luyện đợc một đội ngũ nhà văn chiến sĩ rất đáng trân trọng.
Vị trí, tầm vóc của họ đợc hình dung nh câu thơ của Chế Lan Viên :
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ
Bên những chiến sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi
Họ là ngời ban bố, phán truyền độc quyền các chân lý không thể bàn cãi bởi đó là t tởng
chung, là mục tiêu cao cả của cộng đồng (nhng cng vỡ th m cỏc t tng ú ớt mang du n ca
nh vn). Vai trò của ngời đọc trong đời sống văn học rất mờ nhạt, h ch l ngi tip nhn cỏc chõn
lớ mt cỏch tng i th ng.
Nhng nay, mối quan hệ giữa nhà văn và ngời đọc cũng thay đổi theo hớng dân chủ hoá, bình
đẳng hơn. Ngời đọc đợc tôn trọng, đợc quyền làm chủ trong quỏ trỡnh tip nhn v cú kh nng tỏc
ng ti quỏ trỡnh sỏng tỏc ca nh vn. c bit khi tm ún i ca cụng chỳng ngy cng cao, nhu
cu v th hiu thm m thay i theo hng tớch cc thỡ nh vn cng buc phi bt kp vi s thay
i ú. Mt khỏc, nhà vn khi biu hin cỏc quan niệm của mình trong tỏc phm luụn trong th đối
thoại ch không thể áp đặt. Nn vn hc hng ti tớnh dõn ch ũi hi v cú th tha nhn cỏi nhỡn
riờng ca mi ngi vit. V ngi vit dự rt tin, mun bờnh vc cho nhng quan nim ca mỡnh
cng khụng th khụng bit n nhng quan nim, t tng khỏc. Đời sống văn học vì thế càng trở nên
phong phú, sôi động.
S d cú s thay i theo hng dõn ch húa mi quan h gia nh vn v bn c khụng ch
do s tip nhn ca nhiu lung t tng vn húa thm m t nc ngoi m ch yu l do quỏ trỡnh
chuyn t nn kinh t bao cp sang nn kinh t th trng. Vn hc cng tr thnh mt th hng húa
tinh thn c bit m nh vn ngi cung phi hiu rừ nhu cu ca c gi. Tuy s tỏc ng ny
cng cú hai mt, song cựng vi s phỏt trin ca lớ lun phờ bỡnh, cho n thi im ny, s tỏc ng
t phớa c gi n quỏ trỡnh sỏng to ca nh vn Vit Nam nhng nm gn õy tng i tớch cc.
1.3. Về quan niệm về hiện thực
Hin thc l phm trự phn ỏnh, l ni dung ca vn hc. Vi cỏch x lý quan nim thc, mi
thi i vn hc li th him mi quan tõm m c cng ng ang hng ti. thi k ny, quan

khảo sát ý thức của nhân vật lịch sử theo kinh nghiệm cộng đồng chuyển thành kinh nghiệm cá
nhân. Bảo Ninh tuy viết về đề tài chiến tranh, đề cập đến vận mệnh dân tộc nhng thực chất là đi sâu
vào thế giới nội tâm của Kiên để cảm nghiệm về số phận bi thm và tâm hồn nhàu nát của Kiờn - một
ngời lính vừa bớc ra khỏi cuộc chiến (Nỗi buồn chiến tranh). Hin thc khỏch quan lỳc ny khụng
úng vai trũ ti quan trng, nh vn ch thụng qua nú khỏm phỏ hin thc tõm hn ca con ngi
vi chiu sõu khụn cựng.
Một số tác phẩm văn học sau 1975 có khuynh hớng sử dụng yếu tố kì ảo, nghịch dị (sáng tác
Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh) đòi hỏi ngời đọc phải thay đổi kinh nghiệm một chiều
về hiện thực, nó nhằm chủ yếu khơi gợi suy ngẫm và kích thích tởng tợng, đối thoại nhiều hơn là để ngi
ta tin vào sự tồn tại của nó. Khụng ch cú vy, mt s yu t kỡ o chớnh l nhng hỡnh tng n d m nh
vn thụng qua ú phn nh hin thc theo cỏch riờng. T Duy Anh trong tỏc phm Thiờn thn sỏm hi ó
mt bo thai cha c sinh ra lng nghe tt c nhng li sỏm hi ca nhng ngi ph n tng rung
ry con ca chớnh mỡnh vỡ nhng ham mun v dc vng ca bn thõn. Bo thai suy ngm v t quyt nh
s sinh ra hay tr thnh mt bo thai cht lu, khụng bao gi gia nhp th gii con ngi. Quyt nh cui
cựng ca bo thai l p chõn bỏo hiu s sng v khao khỏt c sinh ra. T Duy Anh ó phn ỏnh b mt
xó hi ng thi vi tt c nhng mt trỏi, nhng tham vng en ti ca con ngi khi cỏc giỏ tr o c
u suy i, song kt thỳc tỏc phm, ụng vn th hin mt cỏi nhỡn tin tng v nhõn bn vo con ngi,
c bit l th h sau tip bc.
=> Khuynh hớng dân chủ hoá của văn học không chỉ thể hiện ở các quan niệm mà còn biểu hiện
ở các bình diện khác nh đề tài, nhân vật, cốt truyện, giọng điệu Xu hớng dân chủ hoá cũng đa đến sự
nở rộ của các phong cách, bút pháp, bộc lộ các cá tính sáng tạo của nhà văn cùng với nhiều thử
nghiệm, tìm kiếm nhiều hình thức và thủ pháp thể hiện mới, nhiều cây bút đã định hình ở giai đoạn tr-
ớc, đến giai đoạn này vẫn bứt phá tạo ra phong cách mới nh Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải
nhiều cây bút trẻ ra đời và tạo dấu ấn đậm nét nh Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh,
Nguyễn Việt Hà diện mạo văn học Việt Nam sau 1975 có nhiều khởi sắc.
2. Sự thức tỉnh ý thức cá nhân trên cơ sở tinh thần nhân bản là nền tảng t tởng và cảm hứng
chủ đạo, bao trùm nền văn xuụi từ sau 1975
Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, do sự chuyển biến của hình thái xã hội và sự tác động, ảnh
hởng của văn hoá, t tởng phơng Tây, ý thức cá nhân đã nảy nở mạnh mẽ. Cái tôi - cá thể trong văn học
đặc biệt là văn học lãng mạn chống lại sự kiềm toả của lễ giáo phong kiến, đòi giải phóng cái tôi cá

3. Văn học phát triển phong phú, đa dạng, phức tạp, hớng tới tớnh hiện đại
3.1. Xu hớng dân chủ hoá và sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã đa tới sự phát triển phong phú,
sôi nổi đa dạng của văn học từ năm 1975, đặc biệt là từ thời kỳ đổi mới của đất nớc
Sự đa dạng và phong phú đợc thể hiện trên nhiều bình diện : đề tài, thể loại, thủ pháp nghệ
thuật, phong cách tác giả, khuynh hớng thẩm mĩ song phong phú, đa dạng cũng đi liền với phức tạp,
không ổn định. Có những khuynh hớng chỉ rộ lên trong một thời gian ngắn rồi tắt lịm. Sự phức tạp và
không ổn định này cũng là một tất yếu của văn học giai đoạn giao thời nhng cũng còn do sự chi phối
của cơ chế thị trờng trong đó thị hiếu, phê bình của công chúng trở thành một trong những nhân tố
quan trọng thúc đẩy sự phát triển của văn học - một sản phẩm hàng hoá tinh thần đặc biệt.
3.2. Quỏ trỡnh hin i húa ca vn xuụi Vit Nam t sau 1975 n nay : cú th chia thnh 3
chng chớnh nh sau :
a. T 1975 n 1985 : chng khi ng, chun b cho cao tro i mi
Khong 5 nm u, d õm ca cuc khỏng chin chng M cu nc v tỏc ng ca hai
cuc chin tranh biờn gii khin cho vn xuụi Vit Nam c bn trt theo quỏn tớnh (Nguyờn Ngc).
ti chin tranh v nhng vn thi s - chớnh tr vn l mi quan tõm hng u ca vn hc v
ngi vit vn trung thnh vi cỏch x lớ cht liu nh giai on trc.
Tuy vy, cng cú mt s tỏc gi bt u mnh dn hn khi chn nhng ti cú tớnh cht gai
gúc phn ỏnh nh : chn nhng thi im khc lit ca chin tranh khỏm phỏ tõm lớ, tớnh cỏch
con ngi (Min chỏy Nguyn Minh Chõu, Trong cn giú lc Khut Quang Thy, Nm 75 h ó
sng nh th - Nguyn Trớ Huõn) cỏc tỏc gi ó khc phc c phn no cỏi nhỡn d dói, gin
n v con ngi v chin tranh dự ú l cuc chin v quc vinh quang, t ú phỏt hin c tõm
lớ, tớnh cỏch thc ca con ngi khi va p vo nhng hon cnh khc lit nht, nhn thc c nhng
mt mỏt ln ca chin tranh. Mt s tỏc phm chỳ ý vo quỏ trỡnh hũa hp dõn tc thi hu chin,
nhng vn o c mi ny sinh trong cỏc quan h thng nht (Cha v Con v- Nguyn Khi,
La t nhng ngụi nh Nguyn Minh Chõu, Nhng khong cỏch cũn li Nguyn Mnh Tun).
Cỏi mi lỳc ny ch mang mu sc d cm gn vi nhng trn tr nhiu hn l nim tin ó xỏc tớn, nú
cú sc ỏm nh ln bi nh Nguyn Minh Chõu khng nh : Bc ra khi mt cuc chin tranh cng
cn bn lnh v s tnh tỏo nh khi bc vo mt cuc chin tranh.
n u nhng nm 80, nhu cu i mi rừ rng hn. Nm 1982, s xut hin ca truyn
ngn Bc tranh ỏnh du bc ngot trờn hnh trỡnh sỏng to ca Nguyn Minh Chõu, tip sau ú l

Huy Thiệp,…Cảm hứng chiêm nghiệm, triết lí qua những kinh nghiệm từng trải, những quy luật phổ
quát tiếp tục là điểm nhấn của ngòi bút Nguyễn Khải trong Một cõi nhân gian bé tí, Một giọt nắng
nhạt…Và không chỉ có Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, một số cây bút trẻ cũng góp phần làm cho
cảm hứng triết luận trở thành một điểm nổi bật của văn xuôi đương đại.
Bên cạnh những khám phá mới về phạm trù phản ánh của văn học, một số nhà văn có ý thức
tìm kiếm một ngôn ngữ nghệ thuật mới, coi cách viết là mối quan tâm lớn để hiện đại hóa văn học.
Cách viết của họ ngay lập tức trở thành hiện tượng gây tranh cãi. Sự khen – chê cũng có khi rơi vào
cực đoan nhưng những hiện tượng này thật sự có tác động rất mạnh vào kinh nghiệm nghệ thuật và
nâng cao tầm đón đợi của công chúng.
c. T u nhng nm 90 tr i : vn xuụi cú du hiu chng li
T u nhng nm 90, khụng khớ vn xuụi nhỡn chung lng xung, dự con ng i mi vn
tip tc nhng him gp trng hp gõy shock nh thi im trc. S bn tõm ca nh vn lỳc ny
ch yu l cỏch vit. S phỏt trin ca cỏc phng tin thụng tin i chỳng v nhu cu xem ca cụng
chỳng ang chim u th hn nhiu so vi nhu cu c cng buc vn hc phi khng nh bng c
thự ngh thut.
Nhiu tờn tui mi tip tc xut hin khỏ n tng nh : Phan Th Vng Anh, H Anh Thỏi, Y
Ban, Nguyn Th Thu Hu, Nguyn Vit H, Nguyn Bỡnh Phng, Thun, Nguyn Ngc T,
Hong DiuH khao khỏt tỡm tũi v th nghim nhng cỏch tõn ngh thut, mi tỏc phm ca h
u l nhng cuc th nghim nh nhng yu t mi, c bit l v bỳt phỏp. Lp nh vn i trc
cng i mi khụng ngng v tip tc úng gúp cho vn xuụi giai on ny nhiu tỏc phm mi nh:
Tụ Hoi (Cỏt bi chõn ai, Chiu chiu), Nguyn Khi (Thng thỡ ci, H Ni trong mt
tụi), Nguyn Xuõn Khỏnh (H Quý Ly),
Vn hc giai on ny nhỡn chung vn cn cú lựi v thi gian cú s nhỡn nhn, ỏnh giỏ
khỏch quan, chớnh xỏc. S sng lc ca thi gian rt cụng bng, cng rt khc nghit, nhng quan
trng hn, cỏc nh vn ó dỏm th nghim nhng tỡm tũi, i mi, dỏm ph nhn v vt qua chớnh
mỡnh nn vn xuụi núi riờng v vn hc Vit Nam sau 1975 cú c nhng thnh tu, vn ng
theo hng hin i húa, bt kp vi vn hc th gii.
III. Mt s ch chớnh ca vn xuụi Vit Nam sau 1975
Nh phần trớc đã trình bày, văn xuụi Việt Nam sau 1975 phát triển đa dạng, phong phú ở nội
dung, hình thức cũng nh phong cách Riêng ở nội dung phản ánh, do tinh thần dân chủ và đổi mới

trong mắt tôi. Đặc biệt với truyện ngắn Một ngời Hà Nội, Nguyễn Khải không giấu đợc niềm nuối tiếc
xót xa khi những con ngời lu giữ văn hoá dân tộc nh cô Hin, lại hiếm hoi quý giá nh Một hạt bụi vàng
của H Ni rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ Cơ chế thị trờng cũng tác động mạnh mẽ đến từng gia
đình, thời mở cửa, không ít gia đình truyền thống cựng np gia phong đã lao đao nh muốn sụp đổ trớc
sự xoay vần, biến chuyển của các hệ giá trị. Ma Văn Kháng với Mùa lá rụng trong vờn đã phản ánh
sâu sắc điều đó, Nguyn Huy Thip cng t ra vn ny trong cỏc sỏng tỏc ca mỡnh nh Tng v
hu, Khụng cú vua
Chủ đề nhận thức lại trong văn học sau 1975 không chỉ phản ánh mà cũng là đòi hỏi của tinh
thần dân chủ trong văn học mà nó còn thể hiện sự thay đổi trong t duy nhận thức của xã hội. Nhận thức
lại không có nghĩa là phủ định hoàn toàn quỏ khứ hay cỏc giỏ tr o c ó n nh mà nhằm hởng
đến một cái nhìn toàn vẹn, đúng đắn về con ngi v xã hội. Mt khỏc nhn thc li quỏ kh cng gn
lin vi nhng trn tr suy t v bn lun n cỏc giỏ tr mi phự hp vi hon cnh thi i. S ph
nh i lin vi quỏ trỡnh kin to giỳp cho vn hc phỏt huy c phn no vai trũ nhn thc v nh
hng t tng ca nú vi thi i.
2. Những băn khoăn, trăn trở về con ngời
Cùng với tinh thần dân chủ, sự thức tỉnh của ý thức cá nhân và quá trình giao lu, hội nhập với
văn hóa thế giới đã khiến các nhà văn đặt ra và đặt lại những vấn đề có tính chất muôn thuở của loài
ngời nh nhu cầu khẳng định cá tính, khẳng định ý nghĩa sự tồn tại của bản thân, ám ảnh cô đơn, khát
vọng hoà bình, hạnh phúc
Với Bến quê Nguyễn Minh Châu lại đặt ra vấn đề triết lý về con ngời với hành trình đi tìm giá
trị, ý nghĩa sống đích thực. Nh cả một đời mạnh khỏe đi hết nửa vòng trái đất mà vẫn không sao tìm
thấy điều có giá trị nhất với cuộc đời mình. Ch n khi au yu n khụng th nhc ni mỡnh, n khi
sp t gió cừi i, anh mi nhn ra, ú không phải thứ gì xa lạ, đó chính là bến quê gần gũi thân thuộc
mà suốt đời Nhĩ không đi hết, là mái ấm gia đình có ngời vợ tần tảo, đảm đang, tế nhị, giầu đức hy
sinh và tình yêu thơng Tất cả những thứ qúy giá y, Nhĩ ch bit thc s trõn trng khi trải nghiệm
gần hết sự sống của mình và tiếc nuối. Câu chuyện giản dị nhng mang bài học triết lý sâu sắc về cuộc
đời. Trong những tác phẩm khác Phiên chợ Giát, Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Minh Châu lại trăn
trở về khát vọng hạnh phúc của con ngời - những con ngời lao động nhỏ bé nhất trong xã hội. Nguyn
Huy Thip trong cỏc truyn ngn ca mỡnh cp con ngi vi hnh trỡnh hin thc húa nhng khỏt
vng vt thoỏt khi nhng kip sng phự du, vụ ngha, v mi quan h gia con ngi vi thiờn

vt vn hc l s th hin quan nim ngh thut ca nh vn v con ngi. Dự cỏc nh vn Phng
Tõy giai on ny u khụng chỳ trng vo xõy dng nhõn vt, cỏc tỏc phm t s ca th k XX
khụng dung np loi nhõn vt tớnh cỏch thỡ trong vn xuụi t s Vit Nam ng thi, con ngi vn
l mi quan tõm hng u, nhõn vt vn hc tr thnh i tng c khc ha v phn ỏnh sc nột
trong tỏc phm.
Nh ó trỡnh by trờn nhng quan nim ngh thut mi ca nh vn v con ngi, chớnh nhng
quan nim mi m, ton din v tin b ú ũi hi nh vn phi cú cỏch thc phn ỏnh v xõy dng
nhân vật theo một hướng khác. Nếu trước kia, trong văn xuôi giai đoạn 1945 - 1975, nhân vật được
xây dựng đầy đủ với những chi tiết cụ thể về gia đình, nghề nghiệp, quê quán, tư tưởng - đạo đức, thì
nay các nhân vật không chỉ được chú ý ở tư cách giai cấp, tư cách công dân mà được chú trọng hơn cả
ở thế giới tâm tư tình cảm đa chiều, phức tạp. Nhân vật được đặt trong nhiều mối quan hệ để soi xét
một cách toàn diện, đời thường hóa, mang màu sắc phản sử thi. Nhân vật không còn tham vọng đại
diện cho cộng đồng, nói lên tâm tư nguyện vọng của cả dân tộc, mà chỉ hiện lên với tư cách cá nhân,
là chính mình. Con người được đặt trong các mối quan hệ như với lịch sử, gia đình, với tự nhiên, con
người với các mối quan hệ, xã hội… Trong tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly, nhà văn Xuân Khánh xây
dựng nhân vật Hồ Quý Ly là một con người nhiều tính cách, nhiều mặt: là một kẻ nhẫn tâm và tàn bạo
nhưng cũng thông minh tột đỉnh trong trường chính trị, là một người cha vừa tài giỏi, vừa nghiêm
khắc mà rất thương con, là một người chồng nặng tình nghĩa với người vợ đã khuất, lại cũng là một
nhân vật lịch sử làm thay đổi cục diện đất nước trong một bối cảnh nhất định. Nguyễn Minh Châu khi
xây dựng nhân vật người vợ trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa cũng buộc người đọc phải nhìn
và hiểu chị trong rất nhiều khía cạnh, góc độ mới thấy hết được con người thực của chị : Trong mắt
Phùng, Đẩu – những vị quan tòa tốt bụng, anh minh, nhưng tri thức sách vở nhiều hơn kinh nghiệm
sống thực tế, đó chỉ là người đàn bà làng chài cam chịu, nhẫn nhục một cách ngu ngốc, rất cần được
giúp đỡ. Nhưng trong mối quan hệ với gia đình, chị lại là người mẹ, người vợ luôn cảm thông thấu
hiểu những cơ cực không thể thốt thành lời của người chồng, là người phụ nữ giàu tình yêu thương và
đức hy sinh hiếm có. Ngay cả nhân vật người chồng vũ phu trong tác phẩm, nếu chỉ nhìn bề ngoài thì
không thể thấy hết nỗi khổ cũng như nét tốt đẹp trong con người anh ta. Có thể nói việc đặt nhân vật
dưới nhiều góc độ biểu hiện giúp nhà văn khám phá được nhiều mặt của con người – mà tham vọng
của văn chương chính là phản ánh chân thực nhất hiện thực đời sống trong đó con người luôn là đối
tượng trung tâm.

hay ngôi thứ nhất (đặt điểm nhìn vào nhân vật), lời kể của nhà văn vẫn mang màu sắc biết hết, tiêu cự
bằng không. Nhà văn qua lời kể trở thành người phán truyền duy nhất, tác phẩm chỉ có tính độc thoại.
Đến giai đoạn này, ngôi kể và tiêu cự đã trở nên phong phú hơn trong đó, ngôi kể từ điểm nhìn bên
ngoài được đặc biệt chú trọng khai thác, sử dụng. Các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp dù kể
chuyện bằng ngôi thứ 3 hay ngôi thứ nhất theo nhân vật (xưng tôi) thì thường là điểm nhìn từ bên
ngoài. Chính vì vậy, nhà văn cũng không đi vào khai tác tâm lý nhân vật, trái lại, ông dùng giọng điệu
lạnh lùng, khách quan hóa. Giọng kể có khi dửng dưng, vô cảm, thậm chí có lúc tỏ ra khinh bạc, gai
góc, lại có lúc trữ tình, xót thương đến tê tái, cũng có khi giễu nhại hoặc hoài nghi… Nhà văn đưa
nhiều giọng nghi vấn vào lời kể tôi cũng không biết câu chuyện kết thúc ra sao, nghe đồn rằng, lại có
người kể rằng… khiến cho lời văn có tính chất đối thoại, người đọc qua lời kể khách quan của tác giả
đồng sáng tạo với nhà văn để thâm nhập vào tìm hiểu tính cách, tâm tư của nhân vật. Lời kể đan xen
lời bình luận của nhà văn không nhằm áp đặt tư tưởng cho người đọc mà chỉ mang màu sắc đối thoại
giữa người viết và người đọc thông qua tác phẩm văn chương. Vai trò, cũng như tầm tiếp nhận của
người đọc được đề cao trong văn xuôi VN sau 1975.
Ngôn ngữ trần thuật thời kì này cũng có nhiều thay đổi. Do sự tiếp cận và mở rộng giao lưu,
học tập ngôn ngữ văn hóa nước ngoài, hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt cũng được mở rộng. Ngôn ngữ
trần thuật trong tác phẩm văn học trở nên phong phú. Phạm Thị Hoài tạo được ấn tượng về một thứ
ngôn ngữ trần thuật sắc cạnh, đầy cá tính. Truyện của bà như dòng thác ngôn từ (Đỗ Đức Hiểu) với kĩ
thuật xô lệch ngữ pháp truyền thống, tạo ngữ nghĩa mới bằng các tổ hợp ngôn từ rất trái khoáy, các
thuật ngữ chuyên môn, tiếng nước ngoài, tạo điển cố mới bằng các tác phẩm văn chương nước
ngoi Ngụn ng trn thut phong phỳ, sỏng to gúp phn th hin nhng cỏch tõn sỏng to ca nh
vn v mt ngh thut trong cỏc sỏng tỏc vn xuụi sau 1975
V. Một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu
1. Nguyễn Minh Châu (1930 - 1989)
Trớc 1975, Nguyễn Minh Châu đợc biết đến nh một trong những nhà văn viết hay nhất về
chiến tranh và ngời lính. Song tài năng văn chơng của ông đặc biệt phát lộ trong giai đoạn 1976
1989. Sau 1975, Nguyễn Minh Châu tiếp tục viết tiểu thuyết Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà,
Những ngời đi từ trong rừng ra Nhng truyện ngắn mới thực sự phát lộ tài năng Nguyễn Minh Châu,
mới làm cho nhà văn trở thành một hiện tợng văn học và ông đã đợc coi là ngời đi tiên phong trong sự
nghiệp đổi mới văn học.

chình mà ngời ta thờng sa vào trên đờng đời để dứt ra khỏi nó nhằm hớng tới những giá trị đích thực
mà giản dị, gần gũi, bền vững. Điều đó đợc trải nghiệm từ chính Nhĩ bởi anh đã có một quãng đờng dài
chùng chình, vòng vèo nơi viễn xứ để tận lúc cuối đời anh mới nhận ra sự giàu có cùng với mọi vẻ đẹp
đều nằm trong cái bình thờng ngay cạnh ta nh bãi bồi bên sông ngoài cửa sổ, nh ngời vợ tần tảo, giàu
lòng thủy chung và đức hi sinh - Nhân vật Nhĩ trong truyện là một nhân vật t tởng của Nguyễn Minh
Châu. Nhà văn đã gửi gắm qua nhân vật những điều quan sát, suy ngẫm triết lí về cuộc đời và con ngời.
Những chiêm nghiệm triết lý đó đã đợc chuyển hóa vào đời sống nội tâm nhân vật với những diễn biến
tâm trạng hết sức tinh tế vầ sâu sắc. Đó chính là tài năng của Nguyễn Minh Châu.
Cũng dựa trên những nghịch lý cuộc đời để đặt ra những vấn đề mang tính quy luật, triết lý,
truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa đợc coi là một tuyên ngôn nghệ thuật mới của Nguyễn Minh Châu.
Truyện kể về Phùng- ngời nghệ sĩ nhiếp ảnh trong một chuyến công tác tại một vùng biển miền Trung
đã có những phát hiện mới mẻ và rất ý nghĩa. Sau khoảng một tuần lễ tìm kiếm một bức ảnh về biển
buổi sớm, Phùng đã phát hiện đợc một cảnh đắt trời cho, một vẻ đẹp đơn giản mà toàn bích. Lúc đó,
tâm trạng Phùng trở nên bối rối, trong tim nh có gì bóp thắt vào. Và cũng phút giây ấy, Phùng cảm thấy
mình đã khám phá đợc chân lí của sự hoàn thiện và khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn khiến tâm
hồn anh nh đợc gột rửa và trở nên trong trẻo, tinh khôi. Chính cái đẹp đã có khả năng thanh lọc tâm
hồn anh. Đó là tác dụng thẩm mĩ kì diệu của nghệ thuật đối với con ngời. Nhng ngay trong giây phút
đắm say, ngắt ngây trớc cái đẹp toàn bích đó, Phùng lại phát hiện đợc một cảnh tợng hoàn toàn trái ng-
ợc. Sau màn sơng mờ ảo trên biển, từ trên một chiếc thuyền bớc xuống một ngời đàn ông và một ngời
đàn bà. Ngời đàn bà đứng tuổi, trạc ngoài bốn mơi, thân hình cao lớn, đờng nét thô kệch, mặt rỗ, khuôn
mặt mệt mỏi, tái ngắt vì thức đêm Ngời đàn ông với tấm lng rộng, mái tóc tổ quạ, bớc đi chắc chắn,
hai hàng lông mày cháy nắng, đôi mắt độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tâm lng áo bạc phếch, rách
rới của ngời đàn bà. Ngời đàn bà đi trớc, ngời đàn ông theo sau, vừa lấy dây lng đánh vợ vừa chửi :
Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ. Ngời đàn bà bị đánh chửi dã man nhng
vẫn nhẫn nhục chịu đựng, không kêu, không chống trả. Đánh vợ xong ngời đàn ông lại trở về thuyền
trong lặng lẽ. Cảnh tợng đó khiến Phùng kinh ngạc tới mức trong mấy phút đầu tôi cú đứng há mồn ra
mà nhìn Ngời nghệ sĩ ấy nh chết lặng, không tin vào những gì diễn ra trớc mắt. Anh kinh ngạc bởi
hành động tàn bạo của ngời đàn ông và thái độ lạ lùng của ngời đàn bà. Những hành động và lời
nguyền rủa của ngời đàn ông đã làm lộ rõ bản tính thú dữ, ích kỉ. Ông ấy lấy việc đánh và chửi vợ là
một cách để giải tỏa nỗi uất ức, bế tắc của thân phận nghèo túng. Ông vừa là nạn nhân của hoàn cảnh

mà bởi nghèo túng, bởi đông con quá, thuyền lại chật. Dờng nh ngời đàn bà ấy đã ý thức đợc vòng lun
quẩn về cuộc đời ngời làng chài nói chung và ngời phụ nữ làng chài nói riêng. Chính cái vòng lun
quẩn ấy làm cuộc đời họ triền miên trong tăm tối của túng đói, của lạc hậu, trong bi kịch của gia đình
không thoát ra đợc. Qua đó, Nguyễn Minh Châu đã vạch ra một hiện tợng mang tính phổ quát ở những
vùng quê nghèo. Hiện tợng ấy là nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa trong nhân cách của con ngời.
Nh vậy, qua câu chuyện éo le trong gia đình ngời đàn bà hàng chài, nhà văn Nguyễn Minh
Châu đã đa ra những cách nhìn khác nhau của những nhân vật khác nhau về ngời đàn ông hàng chài.
Đẩu, Phùng và cả thằng Phác mới chỉ nhận thấy đợc một khía cạnh của ngời đàn ông ấy, đó là sự độc
ác, tàn nhẫn, ích kỉ. Còn ngời đàn bà hàng chài lại có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn. Bà đau đớn
nhng không oán hận vì bà thấu hiểu nguyên nhân sâu xa của những hành động vũ phu ấy. Những cách
nhìn đó khiến ngời đọc nhận ra ngời đàn ông kia vừa đáng bị lên án bởi thói vũ phu, ích kỉ nhng cũng
có chỗ để cảm thông bởi xét đến cùng ông ấy cũng chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh sống khắc nghiệt.
Rõ ràng không thể nhìn đời, nhìn ngời một phía mà phải tìm hiểu nguyên nhân sâu xa dẫn đến hành vi
của con ngời trớc khi kết luận tính cách và phán xét họ. Tức là phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều.
Đây chính là cách Nguyễn Minh Châu muốn đối thoại với ngời đọc và thể hiện một cái nhìn nhân đạo
sâu sắc khi đánh giá con ngời. Câu chuyện còn trĩu nặng một nỗi lo âu trớc tình trạng bạo hành gia
đình mà nạn nhân là phụ nữ và trẻ em. Câu chuyện muốn rung lên tiếng chuông cảnh tỉnh chống lại đói
nghèo để giữ lấy nhân cách của con ngời.
Thiên truyện bất hủ cuối cùng trong văn nghiệp của Nguyễn Minh Châu là Phiên chợ Giát.
Lão Khúng là một ông lão nông dân nghèo song hiền lành, chất phác, tốt bụng. Suy nghĩ của ông trên
đờng đa con bò đi đến chợ Giát để bán đã mở ra một thế giới tâm hồn với biết bao trăn trở và cả những
mong ớc. Ông lão nghĩ đến thằng con trai thứ hai (Dũng) đã hy sinh, đến ông chủ tịch huyện tên là
Bời, đến con bò và đến chính ông. Tất cả những suy nghĩ đó đã đặt ra biết bao vấn đề về quá khứ, về
chiến tranh, về hiện tại, về công cuộc đổi mới, về tình nghĩa, về sự sống, về đạo đức con ngời. Và khó
có thể nói đợc hết cái hay, cái đẹp trong t tởng của tác phẩm chỉ bằng vài dòng ngắn ngủi. Chúng ta có
thể mợn lời nhận xét của Đỗ Đức Hiểu để đánh giá tác phẩm này Phiên chợ Giát có một tầm cỡ lớn.
Nó là một chấn thơng nhức nhối, một bức tranh với bao cảnh hoang vu, với nhiều mảng tối và những
chấm đổ màu máu, một sự thẩm thấu giữa hiện tại và quá khứ, giữa giấc mơ và sự thật, cái cụ thể và
cái trừu tợng.
2. Nguyễn Khải (sinh 1930)

sinh hoạt truyền thống của một gia đình có văn hóa. Bà sống trong một ngôi nhà rộng, mặc sang trọng
và ăn uống theo đúng nghi lễ. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, có lúc bị nghi kị, bà vẫn quyết giữ
một lối sống phong lu, đàng hoàng, lịch lãm, quý phái, khuôn phép. Bà luôn quan niệm : sống đẹp
không phải là tội lỗi. Hơn nữa, bà còn thể hiện một bản lĩnh cứng cỏi khi bà đã vợt lên trên d luận để
duy trì cung cách sinh hoạt sang trọng của mình. Bà luôn dạy con cái theo nền nếp của một gai đình có
văn hóa. Bà chú ý cho con cái cách ngồi, cách cầm đũa, cách múc canh, cách nói chuyện trong bữa ăn.
Bà răn các cháu : Chúng mày là ngời Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không đợc tùy
tiện, buông tuồng. Bà không coi trọng chuyện ăn gì mà coi trọng việc ăn nh thế nào. Ăn không phải
chuyện vặt vãnh, tầm thờng mà phải xem đấy là văn hóa sống, văn hóa của ngời Hà Nội. Mục đích của
bà là dạy con cháu biết tự trọng. Lòng tự trọng không cho phép ngời ta hành động một cách tùy tiện,
buông thả. Lòng tự trọng khiến con ngời hoàn thiện hơn về mặt nhân cách. Đó là một quan niệm đúng
đắn và sâu sắc.
Bà Hiền còn là một ngời phụ nữ khôn ngoan, thức thời, tỉnh táo, thiết thực hơn ngời. Bà chọn
hàng buôn bán chỉ có một thứ là hoa giấy. Hoa rất đẹp, bán rất đắt lại chịu thuế nhẹ nên lãi cao. Với
cách buôn bán đó, bà có một cuộc sống đủ ăn, nhàn, không phải lo sợ gì. Chính sự khôn ngoan, nhanh
nhẹn trong công việc đã đem lại hạnh phúc thật sự cho bà và gia đình. Bà còn nhận thức rất đúng và
sâu sắc về chế độ mới. Bà không thích cá nhân làm giàu, chỉ cần đủ ăn nên mặc dù buôn bán nhng bà
không phải là t sản và luôn có một cuộc sống yên ổn. Bà luôn phân tích tình hình thời cuộc một cách
sâu sắc không phải để sống vợt lên thời đại mà là để sống sao cho phù hợp với chuẩn mực thời đại lúc
đó. Trong cuộc sống gia đình, bà là một ngời phụ nữ thiết thực. Là một ngi phụ nữ có nhan sắc, yêu
thơ văn, giao lu với nhiều văn nghệ sĩ nhng bà không chạy theo tình cảm lãng mạn, viển vông. Sống
trong một gia đình buôn bán khá giả nhng bà không hám danh lợi. Bà chọn bạn trăm năm là một ông
giáo tiểu học hiền lành, chăm chỉ. Bà coi trọng trách nhiệm làm vợ, làm mẹ trong gia đình. Bà có một
thái độ sống nghiêm túc khi cho rằng hôn nhân phải là một tổ ấm gia đình đích thực nên phải đợc gây
dựng từ những ngời cha, ngời mẹ hiền lành, ấm áp tình ngời. Trong việc sinh con, bà quyết định chấm
dứt việc sinh nở vào năm bốn mơi tuổi. ở cái thời ngời Việt Nam thích sinh nhiều con để có phúc sau
này thì quan niệm của bà là một quan niệm khác ngời bởi bà không tin trời sinh voi, trời sinh cỏ. Bà
nhận thức con cái phải đợc nuôi dạy chu đáo để chúng có thể sống tự lập, hoàn thiện về nhân cách.
Tình yêu con của bà là một tình yêu sáng suốt của một bà mẹ giàu lòng tự trọng, biết nhìn xa trông
rộng. Tất cả những nét phẩm chất trên đã giúp bà duy trì cuộc sống hằng ngày của cả gia đình rất ổn

có thể hủy diệt mà nó vẫn tiếp tục phát triển để mãi mãi xanh tơi và việc cơn bão làm bật gốc cây si chẳng
qua chỉ là sự chuyển giao văn hóa từ thời kì này sang thời kì khác mà thôi. Đây chính là cách bà Hiền thể
hiện niềm tin bất diệt vào vẻ đẹp muôn đời của Hà Nội. Từ đó, bà đã suy ngẫm và đa ra kết luận: Thiên địa
tuần hoàn, cái vào, cái ra của tạo vật không thể lờng trớc đợc. Đây là một quy luật của tạo hóa. Con ngời bé
nhỏ không thể và khó nắm giữ và kiểm soát đợc hết. Mỗi ngời hãy bình tĩnh hơn khi phán xét một hiện tợng
nào đó nhng cũng hãy tin rằng giá trị của cái đẹp bao giờ cũng là bất tử. Bà Hiền là ngời thiết tha với những
giá trị văn hóa bền vững của dân tộc. Đó chính là biểu hiện của tình yêu nớc ở bà - không ồn ào mà lặng lẽ,
thấm sâu.
Tóm lại, Một ngời Hà Nội đã khắc họa thành công nhân vật một ngời Hà Nội đẹp một cách
quý phái, thanh lịch. Bà Hiền chính là nơi hội tụ tất cả những gì đẹp nhất trong tâm hồn và cốt cách của
ngời Hà Nội. Truyện ngắn mang một vấn đề nhân văn sâu sắc khi Nguyễn Khải thể hiện tấm lòng ng-
ỡng mộ, ngợi ca, trân trọng, tự hào trớc bản lãnh, cốt cách ngời Hà Nội. Qua đó, tác giả bày tỏ một
thông điệp mang tính thời sự : Hà Nội là chuẩn mực văn hóa ngời Việt nên mỗi công dân Hà Nội phải
có ý thức giữ gìn và triển chuẩn mực đó. Hơn thế, tác giả còn muốn thức tỉnh con ngời hôm nay trớc
những tác động tiêu cực của kinh tế thị trờng, lối sống xô bồ của số đông, lối sống tùy tiện từ thời
chiến còn rơi rớt lại. Mỗi ngời Hà Nội cần ý thức rõ hơn bao giờ hết, phải có trách nhiệm bảo tồn chất
Hà Nội ở trong chính mình. Dân tộc Việt Nam cũng đang trong xu thế hòa nhập toàn cầu nhng việc giữ
gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc không bao giờ đợc xem nhẹ và để giữ đợc nó cần có một bản
lĩnh Việt Nam.
Để có đợc một hình ảnh nhân vật đẹp và ý nghĩa nh vậy, Nguyễn Khải đã rất trau chuốt
trong nghệ thuật tạo dựng nhân vật. Thành công trớc nhất của ông là nghệ thuật cá tính hóa nhân vật.
Bà Hiền đợc cá tính hóa qua ngôn ngữ đối thoại với nhân vật tôi. Bà luôn là một con ngời tự ý thức về
mình, về hiện thực xã hội để bộc lộ những quan điểm sống sắc cạnh, rõ ràng. Thủ pháp đối lập giữa lối
sống của bà Hiền với lối sống của số đông càng nhấn mạnh nét riêng biệt trong tâm hồn và vẻ đẹp của
nhân vật. Cách trần thuật của nhân vật tôi độc đáo với sự chuyển biến thái độ theo thời gian về bà Hiền,
từ nghi ngờ, e ngại đến khâm phục, ngỡng mộ. Từ đó, vấn đề nhân cách của bà mỗi lúc càng hiện ra
sáng tỏ hơn. Ngoài ra, bằng hình thức khái quát hóa nhân vật, hình ảnh bà Hiền đã trở thành một hình
ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp Hà Nội, cho lớp ngời còn giữ nguyên chất Hà Nội.
3. Ma Văn Kháng (sinh 1936)
Sự nghiệp văn học của Ma Văn Kháng bắt đầu bằng truyện nhắn Xa phủ. Đến năm 2005, Ma

ông Thuấn vị tớng về hu - đợc kể lại qua lời của ngời con trai tên là Thuần. Sau khi về hu, ông Thuấn
trở lại cuộc sống sinh hoạt thờng ngày cùng với gia đình song trong cuộc sống đó đã xuất hiện rất nhiều
những mâu thuẫn đối nghịch. Rõ nét nhất là mâu thuẫn giữa ông và ngời con dâu tên Thủy. Từ chiến tr-
ờng trở về sau nhiều năm chiến đấu và cống hiến, ông Thuấn là ngời của thế hệ trớc, sống giản dị, chân
thành, có đạo đức. Còn Thủy lại là ngời của thế hệ mới, sống hiện đại, thực dụng, thiếu tình ngời. Sự đối
lập, thậm chí là xung khắc mạnh mẽ giữa hai thế hệ, giữa hai luồng suy nghĩ và cách sống đã khiến ông t-
ớng ấy không hề có một cuộc sống th thái khi về hu. Rồi ông lại vào quân đội và mất ở đó. Câu chuyện
chỉ xoay quanh những vấn đề rất đời thờng của cuộc sống nhng qua ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp, tác
phẩm đã đặt ra một vấn đề của xã hội, đó chính là sự tha hóa về đạo đức lối sống của những con ngời
trong xã hội hiện đại. Đồng thới tác phẩm đã dóng lên một hồi chuông cảnh tỉnh kêu gọi con ngời hãy
giữ gìn những gì là đẹp đẽ của quá khứ.
5. Lê Lựu (sinh 1942)
Cũng là một tên tuổi tiêu biểu trong số những nhà văn đã thành công trong văn xuôi Việt Nam
sau 1975, Lê Lựu đã từng tâm sự : Toàn bộ những trang viết chỉ theo đuổi một nguyên tắc là thật. Tôi
không thể viết đợc nếu không bám vào sự thật. Tôi chỉ là ngời kể chuyện có gì viết nấy.
Với gần 400 trang sách, tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu thể hiện một khuynh hớng tiểu
thuyết, một nhu cầu của văn học nhận thức lại thực tại. Có thể nói, lần đầu tiên trong văn học mới,
lịch sử một dân tộc đợc khái quát bằng tiểu thuyết, qua số phận ngời nông dân, bằng bi kịch của một cá
nhân Giang Minh Sài. Ngời ta nói, với Thời xa vắng, Lê Lựu trở thành nhà văn nông thôn, kế sau
Nam Cao, Kim Lân nghĩa là nhìn ngời nhà quê bằng con mắt của ngời nhà quê.
KT
Đi qua một hành trình khá dài với nhiều sự kiện hấp dẫn, thu hút mối quan tâm rộng rãi của
dư luận, nhiều cá tính nghệ sĩ độc đáo tạo ra những tiếp cận trái chiều, phức tạp, con đường đổi mới
cũng như định hình các giá trị của văn xuôi Việt Nam vẫn còn đang tiếp diễn. Nhưng không có sự đổi
mới nào dễ dàng bởi cái mới ra đời bao giờ cũng gây hấn với truyền thống, chỉ khi đạt đến độ chín, nó
mới tự hòa giải được. Với thời gian phát triển vừa qua, văn xuôi Việt Nam sau 1975 cũng có không ít
cực đoan, ngộ nhận hay thể nghiệm lạc hướng. Nhưng rõ ràng, nó đã có một diện mạo mới mẻ, hiện
đại, sinh động và phong phú hơn nhờ tâm huyết và tài năng của những người cầm bút. Cần có thêm
thời gian để các giá trị lắng kết ổn định cũng như cần có sự khích lệ và nâng cao tầm đón đợi từ phía
người đọc để thúc đẩy quá trình phát triển của văn xuôi Việt Nam sau 1975.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status