VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THU THỦY
VĂN XUÔI VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU CHIẾN
(1975-1985)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2013
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THU THỦY
VĂN XUÔI VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU CHIẾN
(1975-1985)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.34.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. Phan Trọng Thưởng
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
!"#
$#%&'&()*
Tác giả luận án
Ngô Thu Thủy
1
MỤC LỤC
2
Nghiên cứu văn xuôi Việt Nam thời kỳ hậu chiến (1975-1985) dưới góc độ
văn học sử để có cái nhìn khái quát, hệ thống về diện mạo của giai đoạn văn xuôi
mang tính chuyển tiếp với những đặc trưng và giá trị không nhỏ của nó trong sự
vận động và phát triển của văn xuôi, kết quả nghiên cứu giúp cho quá trình giảng
dạy, học tập văn học Việt Nam từ 1945 - 1975 đến văn học sau 1975 ở phổ thông
và đại học được sâu sắc hơn.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
./0'#%
Đối tượng nghiên cứu của luận án là "1234/5678/597 (trong
tương quan so sánh với giai đoạn 1945 - 1975 và giai đoạn sau 1986).
..:-"
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: luận án nghiên cứu sự vận động của văn xuôi
hậu chiến thông qua những nét cơ bản của diện mạo và những dấu hiệu đổi mới
trong cảm hứng sáng tác, trong một số phương diện nghệ thuật của văn xuôi
1975-1985.
- Phạm vi tư liệu: các tác phẩm thuộc các thể loại ;<3=<
> của các tác giả tiêu biểu trong phạm vi mười năm 1975-1985.
?@'#%AB"C#+1DE<
"3&F#3AGH2" <IAB#%!
J;IAB#%ID!3+D'
"1J<KLM"(,K&;*#N"1J&(+O
P*D'AB&;#N/567"D/59QR#%
D;DD"NAB-/5678/597
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
S/PTM
- Khẳng định vị trí của giai đoạn 1975-1985 trong văn học Việt Nam sau 1975.
- Khẳng định đóng góp của văn xuôi thời kỳ hậu chiến trong tiến trình văn
học: kế thừa thành tựu của văn xuôi 1945 - 1975, văn xuôi 1975 - 1985 là sự vận
động tất yếu và tích cực của văn xuôi thời kỳ đổi mới.
2
- Từ phương diện đề tài, luận án tìm hiểu hai mảng đề tài chính (văn xuôi
viết về đề tài chiến tranh và văn xuôi viết về đề tài thế sự - đời tư) vừa mang tính kế
thừa, tiếp nối văn xuôi trước 1975 vừa tiềm ẩn khát vọng khám phá, đổi mới.
Nghiên cứu sự vận động trong cảm hứng sáng tác, luận án phát hiện, lý giải những
rạn nứt, những dấu hiệu mới trong khuôn khổ đề tài cũ và những cảm hứng mới.
Thông qua những kết nối, so sánh, luận án đã chỉ ra sự vận động, đổi mới về nghệ
thuật - khởi đầu cho những cách tân nghệ thuật độc đáo trong văn xuôi Việt Nam
sau 1986. Từ đó, luận án lý giải, khẳng định những đặc trưng của văn xuôi giai
đoạn này và giá trị của nó trong văn xuôi Việt Nam hiện đại: tính giao thời, chuyển
tiếp, là tiền đề tích cực cho văn xuôi thời kỳ đổi mới.
- Luận án góp phần khẳng định vị trí quan trọng của giai đoạn 1975-1985
trong quá trình chuyển đổi tư duy văn học Việt Nam sau 1975.
6. Cấu trúc của luận án
#U/VW","1234+) X/5678/597Y
#U.V@!WN"1"",,D
#USV@!(3#N"1"",,D!8+#
4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN XUÔI VIỆT NAM
THỜI KỲ HẬU CHIẾN (1975-1985)
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
!
"#$%&'(%)'*
Năm 1975 trở thành một cột mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam,
kết thúc chiến tranh, chuyển sang thời kỳ hòa bình, độc lập, tự do. Năm 1986 là
bước ngoặt đánh dấu công cuộc đổi mới của đất nước. Gắn bó với những biến
chuyển chính trị - xã hội, văn học cũng mang những đặc điểm của từng giai đoạn
lịch sử. Ba mươi năm 1945 - 1975 là giai đoạn văn học chiến tranh hay còn được
gọi là văn học sử thi, từ 1986 được gọi là văn học đổi mới. Vậy thế nào là văn học
thời kỳ hậu chiến?
cứu đều chỉ ra những đóng góp của văn học giai đoạn này trong tiến trình vận động
của văn học Việt Nam từ sau 1975: Z4IAB"1-a
bAcA&NI"1J"N+D'<AB"
bd+RD!B&_M!I;&-e
"1J&#N"+)WN\ [115,11].
Tác giả Nguyễn Văn Long khi nghiên cứu diện mạo, đặc điểm của các thể
loại văn học sau 1975 đã chỉ ra Z"1"!#%fL,
!W*"LI3#%A*WN"1J\
[115,17]. Ông đã phân loại các khuynh hướng chính trong văn xuôi (khuynh hướng
sử thi, khuynh hướng nhận thức lại, khuynh hướng thế sự - đời tư, khuynh hướng
triết luận) và phác họa những nét lớn về sự đổi mới của văn xuôi (quan niệm về
hiện thực, quan niệm nghệ thuật về con người, nghệ thuật trần thuật…). Từ phác
họa của mình, nhà nghiên cứu đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa: ZP'G
M"F",G3-"K;"1CFgU
#N<;<,"NNLf-"1
&#U10; G3"FUIWN",
3 "1,'OCF,<
6
$T;\ [115,22]. Nghiên cứu của chúng tôi hy vọng sẽ đáp ứng
phần nào mong muốn ấy.
~ phạm vi rộng hơn, tác giả Nguyễn Thị Bình trong công trình 21
234D/5678IWNU& đã có những nghiên cứu sắc sảo và
thuyết phục về những đổi mới của văn xuôi sau 1975 trên các phương diện: đổi mới
quan niệm về nhà văn, quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới về thể loại… từ
đó rút ra những nhận xét khái quát nhất về diện mạo và hướng đi của văn xuôi sau
1975. Z D#U'A<]]3#%"1J
&;<#&_<&_-"I<I=h<
I'C#W_,&b$I"(,U
&(,"1JWN<#+"bJI
;&N>#+ F&b'"N3!<'"N*
mang đặc điểm của văn học ba mươi năm trước đó. Không bàn cãi đến việc phân
kỳ văn học, chúng tôi quan niệm rằng, năm 1975 đã là một cột mốc rõ ràng. Năm
năm 1975-1980, văn học nói chung và văn xuôi nói riêng vẫn vận động theo quán
tính nhưng đã có những thay đổi so với nền văn học sử thi. Những thay đổi ấy đậm
dần lên từ 1980-1985. Do đó, nghiên cứu văn xuôi 1975-1985 để chứng minh
những đặc điểm giống và khác của nó với văn xuôi trước 1975 và sau 1986 là một
việc làm cần thiết.
Văn xuôi giai đoạn này mang âm hưởng của văn học sử thi bởi nó vẫn dành
một phần rất lớn cho đề tài chiến tranh. Đã có nhiều bài nghiên cứu về đề tài này
trong văn xuôi (của các tác giả Lê Thành Nghị, Tôn Phương Lan, Nam Hà, Bùi
Việt Thắng, Hồ Phương ) đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, Tạp chí văn
học…. những năm đầu thập kỉ chín mươi. Bên cạnh những lời khen có cả những lời
chê… nhưng đa số các nghiên cứu đều gặp nhau ở khẳng định: văn xuôi giai đoạn
này đã nhìn chiến tranh ở hai mặt: sáng và tối, nhìn chiến tranh và con người bằng
cái nhìn đa diện, khắc phục cái nhìn đơn giản, một chiều của nền văn học sử thi.
Xin dẫn nghiên cứu của tác giả Tôn Phương Lan làm ví dụ: ZD="
"1LAAbU<A-AU"MA
+D'<3'" a"1jD*\
[108,15]. Năm 2008, trong luận văn thạc sĩ 0,;23
8
4-/5678/597,tác giả Vũ Thị Phương Nga đã đặt các tiểu thuyết viết
về chiến tranh và người lính trong xu hướng vận động đổi mới của văn xuôi để tìm
hiểu những đặc trưng nổi bật trong việc khai thác hiện thực chiến tranh và hình
tượng người lính… Chúng tôi sẽ nghiên cứu vấn đề này một cách cụ thể trong
chương 2 của luận án với sự khảo sát ở các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn và ký
để chỉ ra rằng: có một dòng văn học viết về chiến tranh sau chiến tranh, dòng văn
học khẳng định một con đường nghệ thuật mới: Zk"3!
<&lI3"<3-,M
#U"&*K';<LL
&",I;J;-D<#d
dạng trong cách tiếp cận: từ góc độ lý luận, ngôn ngữ, lịch sử văn học, từ nội dung,
nghệ thuật… Giáo sư Trần Đình Sử nghiên cứu về D!WN#G3
"#%#+; nhà nghiên cứu Trần Cương tìm hiểu MG
trong văn học, giáo sư Phong Lê khai thác #+N"" M!O
&_*D';&;"",D/567 là
đối tượng nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Hương [91]. Nghiên cứu cảm hứng bi
kịch trong cái nhìn về hiện thực, cái nhìn về số phận con người, các biện pháp nghệ
thuật thể hiện cảm hứng… tác giả đã khẳng định: Z@!" *
D",,;D/567af-;
L""1J+)L*G3-N\ [91]. Tiếp tục
hướng nghiên cứu này, ở chương 2, luận án của chúng tôi sẽ khai thác sự thay đổi
trong các tác phẩm về đề tài chiến tranh được sáng tác trước và sau 1975, từ âm
hưởng sử thi đến vấn đề số phận dân tộc và số phận con người…
Đánh giá chung về văn học 1975-1985, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã
nhận xét: Z4L;k_#%,"1J#N A]"$
G(D!&W;#G"1J"j"+)N<
+)c*D!A"3#%#+,K
(,DAAbL\ [123,491]. Nhận xét của ông có thể coi là một
cái nhìn khái quát về sự chuyển biến trong văn xuôi thời kỳ hậu chiến: sự thay đổi
tư duy nghệ thuật và sự quan tâm đa diện, đa chiều đến con người.
10
Như vậy, đa số nghiên cứu về văn xuôi 1975 - 1985 đều nằm trong những
nghiên cứu về văn xuôi sau 1975, số lượng công trình, bài viết đề cập trực tiếp đến
văn xuôi giai đoạn này không nhiều. Tuy nhiên, có thể thấy, các nghiên cứu đều
khẳng định tính tiên phong, vai trò tích cực, chủ động của văn xuôi trong quá trình
đổi mới văn học. Mặc dù vậy, việc xem xét văn xuôi giai đoạn 1975 - 1985 như
một đối tượng nghiên cứu cụ thể, toàn diện (về nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa
trong tiến trình văn học) vẫn là vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu.
+,-./012
%&'(%)'
ký có nhiều ưu thế tái hiện hiện thực, truyền thông tin và tình cảm nóng hổi đến
người đọc. Z3453677L;f>D!M 8#3
W& ("D!D=D-&hR#D(AGnL\[103]. Mặc dù
tính thông tin, sự kiện, thời sự chi phối, song tác phẩm ký vẫn mang trong mình
tính văn học nghệ thuật rất rõ. t>D!,(` của Nguyễn Sinh - Vũ Kỳ Lân là
một trong những trường hợp: ZL;ABF("1J
(AG!;\ [47,16].
Những khai mở này đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện mạnh mẽ của phóng sự
1986 - 1996, vệt phóng sự tiêu biểu như một cuộc bùng phát lần thứ hai của phóng
sự trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Với tính chất nhanh nhạy, sắc bén; cái
nhìn trung thực vào bản chất sự thật; với sức thuyết phục của giọng điệu và ưu thế
đặc biệt trong việc phơi bày, mổ xẻ, phanh phui để kiến nghị với dư luận về những
hiện tượng xã hội phức tạp, các phóng sự của Phùng Gia Lộc, Trần Huy Quang,
Hoàng Hữu Các, Trần Khắc, Minh Chuyên… sau nàyđã nhìn thẳng vào sự thật với
tinh thần dân chủ và những khát khao đổi mới xã hội.
Quá trình đổi mới tiểu thuyết sau 1975 đã bắt đầu từ những sáng tác đầu tiên
về chiến tranh: P,(Nguyễn Minh Châu), UL' (Khuất Quang
Thụy), 0(= (Nguyễn Trọng Oánh), 41/567<JaD'#(Nguyễn
Trí Huân), [Ji+"NI (Thái Bá Lợi)… Loạt bài viết về đề tài chiến
tranh và viết về các tác phẩm cụ thể đã chứng minh một điều rất rõ: bối cảnh mới
đã giúp nhà văn Z=ATAFGHGa<U<L,3D
12
3!ID<("L;ADUI"
A">#+\ [52,193].
Viết về cuộc chống càn gay go, ác liệt của một trung đoàn, 0(=của
Nguyễn Trọng Oánh vẫn thuộc mô hình tiểu thuyết sử thi song đã chú trọng tính
chân thật của tác phẩm khi phản ánh hai mặt của chiến tranh: thắng - thua, được -
mất… Đặc biệt tác phẩm gây chấn động dư luận khi đề cập đến sự chiêu hồi, phản
bội của một phó chính ủy phân khu. 0(= đã đặt ra hàng loạt câu hỏi:
AD! uP*`D! LC>uZABL
3*GGj#P*M-j"3=
OD=-g<*\[123,327]. Đây cũng là những nhược điểm mà
chính Nguyễn Minh Châu đã thừa nhận trong cuộc trao đổi. Tuy nhiên, với những
gì Nguyễn Minh Châu đã tìm tòi, thể nghiệm, giới nghiên cứu và độc giả đều ghi
nhận: Zx'$<#+"#%Ea
<#a_<;&;,
#N<"(,";3N\ [123,335]. Thiết nghĩ đó là điều đáng quý
ở nhân cách của người cầm bút Nguyễn Minh Châu và cũng là xu hướng chung của
văn học giai đoạn 1975 - 1985: bắt đầu từ sự bứt ra từ cái cũ để vươn tới tìm tòi cái
mới. Sau 1975, đi qua P,<4I#+$$<y`$I
, Nguyễn Minh Châu đã có hành trình chuyển đổi thú vị: từ văn xuôi viết
về hào hùng chiến tranh sang văn xuôi tâm lý - thế sự. Trên hành trình sáng tạo ấy,
Z"1#GnG=" IC-<
lk_"&3ID''cAF!JI
*+&#+@!;#N",;4HP
A#+%A&34#%-<L#+%A
"1<Ai%A"N*#UI+-""1J\ [47,23].
Truyện ngắn q(1982) đã đánh dấu sự đổi mới âm thầm và quyết liệt ấy
của Nguyễn Minh Châu. Hai tập truyện ngắn 4#+&'
và qđã ZA +D'$L*--D!<Gi#N
&;D=#+\ [52,195]. Có thể nói, Nguyễn Minh Châu là một
trong những gương mặt tiêu biểu, là cây bút tiên phong xuất sắc trong công cuộc
đổi mới văn học. Từ những bài phê bình, tiểu luận sắc sảo như 2",
14
(1978), "1*",(1979), 4"1<" <&-
J<[aJ+*,"13J (1987)… đến những tác
phẩm của mình, Nguyễn Minh Châu đều kiên trì, bền bỉ một lối đi mới, cách viết
mới với tư duy nghệ thuật mới.
Đồng hành với Nguyễn Minh Châu là Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn,
Ma Văn Kháng… với những trăn trở, tìm tòi, sáng tạo.
D;#j<(A$"1\ [123,396]. Tác phẩm của Nguyễn
Mạnh Tuấn nhìn thẳng vào những cái cũ, cái lạc hậu, thủ cựu, quan cách, đả kích,
phá vỡ nó. Nhiệt tình và dũng khí của nhà văn Nam Bộ đã tạo nên khí thế sôi nổi
của làn sóng '!<k"D! trong văn học, làm cho văn học
gần gũi hơn với cuộc sống. Phải nói rằng, những i<0#N&;O
khiến người đọc thực sự thích thú bởi tính nóng bỏng của vấn đề và nhiệt huyết của
tác giả nhưng hiệu ứng của tác phẩm chỉ có tính thời sự, trong hoàn cảnh khi đó.
Tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tuấn mang tính phóng sự, tính báo chí là vì thế. ~ i
<0#N&;O chất báo nhiều hơn chất văn. Đó vừa là ưu điểm vừa
là hạn chế của ngòi bút Nguyễn Mạnh Tuấn.
Nhìn chung, các tác phẩm của Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh
Tuấn… đã Z ATj*&*&+D'"33
",#+O\ thể hiện Z>WN"1\ [52,196]. Những
cuộc tranh luận, những dư luận trái chiều về các tác giả, tác phẩm đã cho thấy tình
hình nghiên cứu sôi nổi về một giai đoạn văn học đang trong thời kỳ khó khăn của
mùa gieo hạt đầu tiên trên mảnh đất mới khai phá. Đó là cơ sở để chúng tôi đặt
nghiên cứu của mình ở cái nhìn toàn diện về các tác giả, tác phẩm nhằm khẳng định
những đóng góp tích cực của các hiện tượng văn học trong chặng đường khởi động.
Gắn với các nhà văn, các tác phẩm tiêu biểu của văn xuôi giai đoạn này,
nhiều nghiên cứu (của các tác giả Nguyễn Thị Bình, Phong Lê, Trần Đình Sử,
Nguyễn Đăng Mạnh…) hướng về sự đổi mới trong quan niệm về hiện thực (từ hiện
thực của các sự kiện, biến cố lịch sử sang hiện thực về con người, từ cái nhìn một
chiều đến cái nhìn đa chiều), đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người (từ con
người công dân đến con người thế sự, đời tư, con người với các quan hệ nhân sinh
16
đa dạng và phức tạp), đổi mới quan niệm về văn xuôi (cấu trúc trần thuật, phạm trù
thẩm mĩ, ngôn ngữ, giọng điệu). Một số luận văn, luận án cũng khai thác các
phương diện cơ bản của các tác phẩm thời kỳ này. Tác giả Đỗ Phương Thảo chọn
43 !D!DP21t làm đối tượng nghiên cứu
[153] với những khảo sát công phu về các đặc điểm nhân vật, cốt truyện, trần thuật
cái nhìn riêng lẻ về các tác giả, tác phẩm cụ thể và một số đặc điểm của thể loại
truyện ngắn.
Các công trình, bài viết khác đã đề cập đến việc đánh giá khái quát về diện
mạo chung của văn xuôi hoặc các vấn đề của tiểu thuyết, truyện ngắn, ký hoặc các
tác giả, tác phẩm tiêu biểu của văn xuôi giai đoạn này, chưa có công trình nào
nghiên cứu hệ thống về sự vận động đổi mới của văn xuôi hậu chiến - bước đầu
tiên trong cuộc chuyển đổi hệ hình tư duy của văn học Việt Nam sau 1975. Điểm
dừng đó chính là điểm xuất phát cho những nghiên cứu của chúng tôi: đặt văn xuôi
1975-1985 trong một cái nhìn toàn diện, hệ thống để phục dựng và lý giải sự
chuyển động của một thời kỳ quan trọng trong văn học Việt Nam hiện đại, từ đó
khẳng định đóng góp của văn xuôi giai đoạn này trong ý nghĩa là một giai đoạn
chuyển tiếp từ văn xuôi chiến tranh đến văn xuôi thời kỳ đổi mới.
1.2. Diện mạo văn xuôi 1975-1985 trong bước chuyển của lịch sử văn học
89":;<=>?:@A
/.//@!" *_D`a*
Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc đã kết thúc và
giành thắng lợi vẻ vang, mở ra một thời kỳ mới - thời kỳ độc lập, tự do, hòa bình
thống nhất, thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.
Sau ba mươi năm chiến tranh, dân tộc Việt Nam bước vào một chặng đường
mới. Bên cạnh những thuận lợi của sự thống nhất đất nước, Việt Nam phải đối mặt
với rất nhiều khó khăn sau chiến tranh. Khi Zb"$(<b
a3",3]-='!-0(
#ND"N(IW<W<&*&,<'
La(3<CE*D! <D!'K"NI"(,A-A
GH\ [165,3]. Không ai lường hết sự gian truân sau những năm tháng dài
18
chiến tranh. Trong chặng đầu tiên trên con đường độc lập, tự do, thống nhất đất
nước, người Việt Nam bắt đầu đối mặt với vô vàn thách thức, hậu quả nặng nề của
chiến tranh. Đất nước bị tàn phá, cơ sở hạ tầng bị xuống cấp nghiêm trọng. Mất
mát, hy sinh, tổn thất về vật chất và tinh thần, xung đột về hệ ý thức giữa hai miền
chống phá quyết liệt cách mạng Việt Nam từ các thế lực bên ngoài, trong đó có sự
cấm vận của chủ nghĩa đế quốc. Chiến tranh biên giới phía Tây Nam và biên giới
phía Bắc nổ ra, dai dẳng, ác liệt suốt hàng nghìn kilômét đường biên. Nếu trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, dân tộc Việt Nam phải gồng mình lên để chống lại kẻ
thù mạnh nhất, tàn bạo nhất thế giới thì trong cuộc chiến tranh này, dân tộc ta phải
căng mình ra hai đầu đất nước để chống lại kẻ thù rất gần ta, sát ta và tường tận về
chúng ta. Toàn dân tộc lại huy động mọi nguồn lực theo lệnh tổng động viên để
chiến đấu, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thân yêu của Tổ quốc.
Thù trong, giặc ngoài, sự bao vây cấm vận của chủ nghĩa đế quốc đã tác
động mạnh mẽ đến sự ổn định và phát triển của Việt Nam, đặt nước ta đứng trước
thời khắc khắc nghiệt trong lịch sử. Từ những năm cuối của thập kỉ bảy mươi, tình
hình kinh tế - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô xuất
hiện sự trì trệ và mất ổn định. Sự khủng hoảng kinh tế - xã hội ấy chuyển thành
khủng hoảng chính trị ở các nước này trong thập kỉ sau, dẫn đến hàng loạt các nước
xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ. Liên Xô thực hiện chủ trương cải tổ mạnh mẽ,
toàn diện năm 1985. Công cuộc cải tổ này đã không đem lại kết quả như mục tiêu
đề ra mà càng làm cho Liên Xô lún sâu vào khủng hoảng.
Những chuyển động nội tại trong lòng xã hội Việt Nam và những tác động từ
bên ngoài tới đất nước ta sau chiến tranh là những nguyên nhân dẫn đến công cuộc
đổi mới toàn diện năm 1986. Đại hội Đảng toàn quốc lần VI đã đề ra đường lối đổi
mới đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự đổi mới do Đảng ta
khởi xướng và lãnh đạo được xem như bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc. Với
phương châm đổi mới đồng bộ và toàn diện, với tinh thần “k"D! <
bD! <LgD! \<Đảng ta đã nghiêm khắc tự phê bình những
chủ trương, chính sách sai lầm, chủ quan, duy ý chí, nóng vội và đề ra đường lối
phát triển mới. Chủ trương và quyết tâm xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu
20
bao cấp để hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế hàng hóa, kinh tế nhiều thành phần là những chủ
trương lớn, thực sự đổi mới đã từng bước đưa nước ta vào thế ổn định, ra khỏi