Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới - Pdf 28

Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh
văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới

Bùi Thị Hợi

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn ThS ngành: Văn học Việt Nam; Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn: TS. Phạm Xuân Thạch
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Bảo Ninh là một trong những nhà văn điển hình xuất sắc của Văn học Việt
Nam giai đoạn sau 1975. Bảo Ninh tham gia kháng chiến từ khi còn rất trẻ và đã phụng sự hết
mình cho cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc. Hòa bình lập lại, ông bắt tay vào sự nghiệp
viết văn. Sáng tác của Bảo Ninh không nhiều, nhưng Bảo Ninh đã có được thành công cả
trong đời sống văn học trong nước và quốc tế. Vậy mà, cho đến nay, việc nghiên cứu sáng tác
của Bảo Ninh, dù đã đạt được những kết quả quan trọng nhưng vẫn mới chỉ được tiến hành
một cách cục bộ, bị giới hạn bởi thể loại hoặc đề tài. Có thể nói, luận văn là một trong những
nghiên cứu đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu toàn bộ sáng tác của Bảo Ninh một cách có hệ
thống. Điều này chắc chắn sẽ góp phần nhìn nhận sáng tác của Bảo Ninh một cách toàn diện
và sâu sắc hơn.

Keywords. Tự sự; Văn xuôi Việt Nam; Bảo Ninh

Content

Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi

134
MỤC LỤC

Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi

135
2.2. Thế giới nhân vật trong sáng tác của Bảo Ninh 56
2.1.1. Hình tƣợng ngƣời lính khiếm khuyết 56
2.1.2. Hình tƣợng ngƣời phụ nữ 58
2.1.3. Hình tƣợng ngƣời trí thức, ngƣời nghệ sĩ 65
2.3. Những suy tƣ mới mẻ về hiện thực 70
2.3.1. Chiến tranh đƣợc nhìn từ góc độ nỗi buồn 70
2.3.2. Số phận của con ngƣời trong lịch sử 76
2.3.3. Ƣớc mơ về hòa bình, hòa giải dân tộc 80
CHƢƠNG 3: NHỮNG ĐỔI MỚI NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC TỰ
SỰ CỦA BẢO NINH 83
3.1. Đổi mới về kết cấu 83
3.1.1. Khái niệm kết cấu 83
3.1.2. Kết cấu dòng ý thức trong Nỗi buồn chiến tranh và những truyện
ngắn đặc sắc 84
3.2. Đổi mới về giọng điệu 97
3.2.1. Giọng điệu trần thuật 97
3.2.2. Giọng ngậm ngùi buồn thương 99
3.2.3. Giọng mỉa mai chua xót 106
3.2.4. Giọng tra vấn 110
3.3. Đổi mới về phân tích tâm lý trong Nỗi buồn chiến tranh và một số truyện
ngắn đặc sắc 112
KẾT LUẬN 121
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124


sung sướng tới thế nào cũng chẳng hạnh phúc nào bằng hạnh phúc ngày đã qua.

2
Tên tuổi của Bảo Ninh gắn liền với cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh -
giải thưởng Hội nhà văn năm 1991. Những năm gần đây có rất nhiều báo cáo khoa
học, luận văn thạc sỹ, cũng như những luận văn tốt nghiệp viết về tác phẩm nổi
tiếng này. Tuy vậy, Bảo Ninh không chỉ có một tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, mà
ông còn sáng tác truyện ngắn và trong đó có những truyện cự kỳ đặc sắc như: Mùa
khô cuối cùng, Lá thư từ Quí Sửu, Hà Nội lúc không giờ, Rửa tay gác kiếm, Thời
tiết của kí ức, Khắc dấu mạn thuyền, Vô cùng xưa cũ, Tiếng vĩ cầm của quân xâm
lăng, Ba lẻ một, Thách đấu Bội phản,v.v, với phong cách viết cô đọng và những
khúc vĩ thanh đầy cuốn hút. Thế nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn
bộ sáng tác của Bảo Ninh. Vì những lí do đó, chúng tôi mong muốn qua luận văn
này sẽ góp thêm một tiếng nói bằng việc đi vào khảo sát tiểu thuyết Nỗi buồn chiến
tranh và những truyện ngắn đặc sắc của Bảo Ninh đồng thời có so sánh với văn
xuôi Việt Nam thời kì đổi mới để thấy những nét riêng, vị trí riêng của nhà văn.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong phạm vi vấn đề nhằm tìm hiểu những đóng góp của tác giả Bảo Ninh
vào quá trình phát triển văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới trên phương diện đề tài
và những cách tân nghệ thuật, chúng tôi quan tâm tới những công trình nghiên cứu
về lý luận thể loại, những đánh giá tổng kết về văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới,
đặc biệt là các bài viết về nhà văn Bảo Ninh và sáng tác của ông
Bảo Ninh được văn đàn biết đến sau truyện ngắn Trại bảy chú lùn in năm
1987, nhưng chỉ thực sự tạo ra làn sóng phê bình khen chê với tác phẩm Nỗi buồn
chiến tranh - Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 1991. Từ khi ra mắt độc giả Nỗi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh đã trở thành một “hiện tượng có vấn đề” của văn
học nước nhà. Cuốn tiểu thuyết ngay sau khi xuất bản (với tên gọi Thân phận tình
yêu do Hội Nhà văn in) đã trở thành tâm điểm của cuộc thảo luận do tuần báo Văn
nghệ tổ chức. Trong cuộc thảo luận ban tổ chức có đưa ra nhận định: “Đây là một
trong số ít tác phẩm được dư luận bạn đọc hết sức chú ý và đã gây ra nhiều luồng ý

vật trong tác phẩm bị “thiết kế sai, chẳng có ý tưởng nào cả”. Cách tiếp cận như thế
đã bị một số nhà phê bình lên tiếng phản bác một cách gay gắt. Tiếp đó là ý kiến
phê phán không kém phần quyết liệt đó là Trần Duy Châu trên tạp chí Cộng Sản số

4
10/1994 đã cho rằng: “Tác giả đã không thể lập luận được đã cố ý sử dụng những
yếu tố tâm thần không bình thường để được “ miễn truy cứu trách nhiệm” trước tòa
án lương tâm của thời đại, đây là “bài ai điếu của kẻ lạc loài xúc phạm những người
đang sống”. Về nghệ thuật của tiểu thuyết thì ông cho là : “Thuần túy là kỹ thuật -
một sự khéo tay nếu có”. Đã có rất nhiều ý kiến không đồng tình với ý kiến nhận
xét của Trần Duy Châu
Sau đó là một khoảng thời gian dài tác phẩm bị lãng quên, vắng bóng trong
các công trình nghiên cứu, các tác phẩm phê bình và các chuyên luận về văn học
Việt Nam thời kỳ đổi mới. Mãi đến năm 2003, cuốn sách của Bảo Ninh lặng lẽ
được tái bản và xuất hiện trong đời sống văn học Việt Nam với tiêu đề Nỗi buồn
chiến tranh (NXB Hội Nhà văn) và Thân phận tình yêu (NXN Hội phụ nữ). Trong
những bài viết đánh giá về tác phẩm trong những năm gần đây đáng chú ý phải kể
đến bài viết của TS. Phạm Xuân Thạch với nhan đề Nỗi buồn chiến tranh viết về
chiến tranh thời hậu chiến - từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp
đăng trong cuốn Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
do Nguyễn Văn Long - Lã Nhâm Thìn chủ biên - NXB GD - 2006. Bài viết đã đưa
ra những lí giải sâu sắc về những cách tân trong cấu trúc tác phẩm, đổi mới về đề
tài, đổi mới về xây dựng nhân vật từ đó đưa tác giả đưa ra một đề nghị một cách
đọc mới – “đọc sâu”, “đọc liên văn bản” để có thể chạm đến mọi tầng nghĩa của tác
phẩm. Sau đó là các bài viết: Phép lặng với việc đổi mới một số nét về nghệ thuật
trong Thân phận của tình yêu - Báo cáo khoa học năm 2004 của Nguyễn Ngọc
Bích, Kết cấu không gian trong Thân Phận của tình yêu - Báo cáo khoa học năm
2002 của Khương Thị Thu Cúc, Nghệ thuật trần thuật của Bảo Ninh qua thân phận
của tình yêu - Báo cáo khoa học năm 2001 của Đỗ Văn Hiểu. Từ đại học Paris TS.
Đoàn Cầm Thi có bài viết “Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam

Để đạt được mục đích nghiên cứu của mình chúng tôi sử dụng chủ yếu các
phương pháp sau:
4.1. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vấn đề vị trí của một tác giả trong một
giai đoạn văn học có liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học như văn học sử, lý luận
văn học, ngôn ngữ học. Chúng tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu của các

6
ngành khoa học liên quan để hỗ trợ và làm sáng tỏ các khía cạnh của vấn đề nghiên
cứu.
4.2. Trên cơ sở của đề tài đặt ra và tiếp thu những lí thuyết nghiên cứu văn học hiện
đại một cách tích cực, luận văn sử dụng phương pháp luận: Phương pháp thi pháp
học kết hợp lí thuyết tự sự học được chúng tôi sử dụng như một phương pháp nòng
cốt của luận văn nhằm thể hiện cụ thể và nổi bật được những giá trị về mặt thẩm mỹ
trong sáng tác của Bảo Ninh cũng như các sáng tác và khuynh hướng văn học thời kì
Đổi mới. Ngoài ra, trong quá trình tiến hành đề tài nghiên cứu, luận văn của chúng tôi
còn phối kết hợp các thao tác phân tích, so sánh, tổng hợp, v.v. cũng như vận dụng
một số nghiên cứu của lịch sử văn học (sưu tầm, thống kê tư liệu về tác giả, sự nghiệp
sáng tác…).
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận luận văn có cấu trúc như sau:
Chương1: Bảo Ninh trong đời sống văn học đương đại
Chương 2: Sáng tác của Bảo Ninh – Một cái nhìn mới về hiện thực
Chương 3: Những đổi mới nghệ thuật trong sáng tác tự sự của Bảo Ninh
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: BẢO NINH TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC ĐƢƠNG ĐẠI
1.1. Những biến chuyển của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
1.1.1. Hoàn cảnh lịch sử - xã hội và văn học
Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân ta giành được chủ quyền sau
hơn tám mươi năm bị thực dân Pháp đô hộ. Chưa kịp bắt tay vào xây dựng đất nước
thì chúng ta đã phải tiến hành cuộc kháng chiến trường kì gian khổ chống Pháp kéo

người (Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Sắc đẹp khuynh thành của Kiều Thanh
Tùng, Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Sông Côn mùa lũ
của Nguyễn Mộng Giác, Khúc khải hoàn dang dở của Hà Ân, bộ sách 4 tập mang
tên: Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Huyền Trân công chúa và Vương
triều sụp đổ của Hoàng Quốc Hải )
8
1.1.3.2. Khuynh hướng nhận thức lại hiện thực
Khuynh hướng này phát triển sôi nổi vào những năm đầu của thời kỳ đổi
mới, nó ra đời đáp ứng yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nhiều cây bút đã nhìn lại
hiện thực của thời kỳ vừa qua, phơi bày những mặt trái còn bị che khuất, lên án
những lực lượng, những tư tưởng và thói quen đã lỗi thời, trở thành vật cản trên
bước đường phát triển của xã hội (Thời xa vắng của Lê Lựu, Bến không chồng của
Dương Hướng, Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Những thiên
đường mù của Dương Thu Hương, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh, Mùa trái
cóc ở miền Nam và Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Thân phận tình yêu của Bảo
Ninh, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai )
1.1.3.3. Khuynh hướng triết luận
Chiêm nghiệm, triết lý đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu và không
chỉ ở những nhà văn có nhiều từng trải như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, mà
còn là một đặc điểm của nhiều cây bút thuộc các thế hệ sau như Nguyễn Huy Thiệp,
Phạm Thị Hoài, Hòa Vang
1.1.3.4. Khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
Huyền thoại hay thần thoại với tư cách là ý thức nguyên hợp của các cộng
đồng người nguyên thủy. Từ những mảnh vỡ còn sót lại của ý thức nguyên thủy,
huyền thoại đã đi vào ý thức sáng tạo văn học. Tiêu biểu cho những sáng tạo này là
sự bùng nổ văn xuôi Mỹ La tinh vào những năm 60 của thế kỷ XX. Những sáng tác
này tạo thành trào lưu văn học theo “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo”. Và như vậy,

1.2.3. Những truyện ngắn đặc sắc
Ngoài cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Nỗi buồn chiến tranh được giải
thưởng Hội nhà văn, các tác phẩm của Bảo Ninh chủ yếu là truyện ngắn (khoảng 40
truyện được in trong 3 cuốn: Chuyện xưa kết đi, được chưa? (2009), Lan man trong
lúc kẹt xe (2005), Truyện ngắn Bảo Ninh (2002), với chủ đề đa dạng: có truyện về
chiến tranh, có truyện về hậu chiến, có truyện về Hà Nội thời thuộc địa,v v,. Có thể
nói, truyện ngắn là những lát cắt của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (tiêu biểu
nhất là truyện Mùa khô cuối cùng), trong sự thống nhất đến gần như trọn vẹn của
những vấn đề được đề cập: nỗi buồn hậu phương Truyện ngắn của Bảo Ninh tuy

10
nhỏ bé hơn so với thành tựu của tiểu thuyết nhưng nó vẫn là một phần quan trọng
làm nên thân phận nghiệp văn của Bảo Ninh, nó là câu chuyện cuộc đời, nhưng
được triển khai trên một mảnh đất khác, nên không hề bị cớm bóng tiểu thuyết, mà
với số lượng nhiều hơn, sẽ đem đến được nhiều thể nghiệm hơn. Đó là điều chúng
ta ghi nhận và trân trọng những đóng góp của tác giả vào sự phát triển của văn học
Việt Nam.
CHƢƠNG 2: SÁNG TÁC CỦA BẢO NINH - MỘI CÁI NHÌN MỚI VỀ HIỆN
THỰC
2.1. Nỗi ám ảnh quá khứ trong tác phẩm của Bảo Ninh
2.1.1. Kí ức về chiến tranh
Trong hầu hết truyện ngắn và tiểu thuyết của Bảo Ninh chiến tranh
không được miêu tả trực tiếp mà đều được tái hiện lại qua qua kí ức của nhân vật: ở
Nỗi buồn chiến tranh là dòng hồi ức của nhân vật Kiên; còn trong các truyện ngắn
hầu như đều thống nhất ở dòng hồi ức của người kể chuyện xưng “tôi”: Thời tiết
của kí ức, Hà Nội lúc không giờ, Lá thư từ Quí Sửu, Trại bảy chú Lùn, Mùa khô
cuối cùng, Ba lẻ một, Đêm trừ tịch, Ngôi sao vô danh, Rửa tay gác kiếm, Khắc dấu
mạn thuyền, Giang, Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng.v.v.
2.1.1.1. Khúc ca bi tráng về một thế hệ ngƣời Việt Nam anh hùng thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc

Bảo Ninh không chỉ viết về chiến tranh ông còn đề cập đến nhiều khía cạnh
khác của lịch sử. Đó là những biến cố lịch sử trong Thời tiết của kí ức, hình ảnh Hà
Nội bình yên và những người Hà Nội xưa cũ (Nỗi buồn chiến tranh, Hà Nội lúc
không giờ, Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng), v.v
2.2. Thế giới nhân vật trong sáng tác của Bảo Ninh
2.2.1. Hình tƣợng ngƣời lính khiếm khuyết
Từ sau 1975, con người trở về với cuộc sống bình thường, cũng có nghĩa là
trở về với cuộc sống đời thường phồn tạp, muôn vẻ, lẫn lộn tốt xấu, trắng đen, bi
hài,…,các nhà văn lại đề cập đến con người với tư cách là sản phẩm bất toàn.
Nhưng nhìn chung trong quá trình thể hiện con người khiếm khuyết, ít người kể đến

12
khiếm khuyết của con người trong và sau chiến tranh. Đến Bảo Ninh sự không hoàn
thiện của con người thời hậu chiến được tác giả nêu ra như một vấn đề trọng tâm
trong tâm nguyện của mình.(kiểu người xấu xí; người lính khiếm khuyết do chiến
tranh đem lại)
2.1.2. Hình tƣợng ngƣời phụ nữ
Bảo Ninh là một trong những nhà văn dành cho phụ nữ một vị trí trang trọng
trong tác phẩm của mình. Tuy nhiên Bảo Ninh không khai thác hình tượng người
phụ nữ với những nét đẹp truyền thống mà hệ thống nhân vật nữ trong sáng tác của
ông được khai thác ở vẻ đẹp hình thể – một vẻ đẹp lồ lộ, vượt ra khỏi cái chung,
tràn đầy sức sống; và có một số phận đau thương: Phương; Hơ – bia, Mây, Thơm, 3
người con gái trong căn nhà nhỏ giữa rừng khơi dậy tình yêu của toàn tiểu đội, Hòa,
Hiền, Lan (Nỗi buồn chiến tranh); Thủy (Sách cấm); Giang (Giang); Giang (Hà
Nội lúc không giờ); Giang (Ngôi sao vô danh); Loan (Cũ xưa); Diệu Nương (Mùa
khô cuối cùng)
2.1.3. Hình tƣợng ngƣời trí thức, ngƣời nghệ sĩ
Bảo Ninh không miêu tả người trí thức nhập cuộc như Nguyễn Quang Thân,
Nguyễn Xuân Khánh; không miêu tả khía cạnh bạc nhược, hèn kém của họ như
Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh hướng ngòi bút về những con người không hoàn toàn bị

CHƢƠNG 3: NHỮNG ĐỔI MỚI NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC TỰ SỰ CỦA
BẢO NINH
3.1. Đổi mới về kết cấu
3.1.1. Khái niệm kết cấu
3.1.2. Kết cấu dòng ý thức trong Nỗi buồn chiến tranh và những truyện ngắn
đặc sắc
Dòng hồi ức của các nhân vật chính trong các tác phẩm của Bảo Ninh không
được trình bày theo tiến trình thời gian lịch sử mà nó là sự đan xen, đứt đoạn, bởi
những liên tưởng, nhảy cóc giữa những kí ức về chiến tranh, về tình yêu, về Hà Nội,
v.v.
3.2. Đổi mới về giọng điệu
3.2.1. Giọng điệu trần thuật

14
3.2.2. Giọng ngậm ngùi buồn thương
Với người nghệ sĩ giải tỏa cảm xúc là nhu cầu tự nhiên của con người.
Nguyễn Huy Thiệp thể hiện nỗi buồn thương của mình bằng cách tạo ra những con
người với những tâm trạng cô đơn, bị thất bại chủ nghĩa, là người luôn đi tìm kiếm
cái đẹp. Nhưng nỗi buồn thương của Phạm Thị Hoài lại là thiếu tình yêu đồng loại,
thiếu ý thức xã hội bầy đàn, là thế giới những nhân vật cô đơn, một thực trạng
nghèo văn hóa. Một thế giới bị cô đơn bị phân rã, khó tạo ra chất bản nguyên của
con người, con người bị tẩy trắng cá tính, trở thành kẻ không có mặt, biến thành
những mô hình cứng nhắc. Còn Bảo Ninh lại mang đến cho con người một nỗi
buồn: nỗi buồn chiến tranh, nỗi buồn tình yêu, buồn vì sự sáng tạo nghệ thuật, buồn
về hiện tại đang ngày đêm diễn ra (Nỗi buồn chiến tranh;(âm hưởng chung là
giọng buồn thương, ngậm ngùi)
3.2.3. Giọng mỉa mai chua xót
Không giống như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, mang đến cho văn
học Việt Nam thời đổi mới tiếng cười giễu nhại, mỉa mai, cay độc, tạo một giọng
điệu hả hê trước những thói hư tật xấu của con người – Bảo Ninh mang đến cho

mạn thuyền, Thời tiết của kí ức, Ba lẻ một, Bội phản, v.v. đã thể hiện tài năng sáng
tạo, nỗ lực không mệt mỏi trong lao động nghệ thuật và tâm huyết của người nghệ
sĩ muốn được cống hiến những giá trị nghệ thuật đích thực cho cuộc đời. Với các
sáng tác của mình, Bảo Ninh đã mang đến một sinh khí mới cho văn xuôi Việt Nam
đương đại, nâng vị thế của văn xuôi lên một tầm cao mới cả về phương diện hình
thức biểu hiện, nội dung chủ đề, đề tài, v.v. Và cao hơn, các sáng tác trên đã hàm
chứa nhu cầu cần thay đổi quan niệm nghệ thuật của nhà văn – một yêu cầu bức
thiết đang diễn ra trong đời sống văn học hiện nay. Trong tương lai gần, hy vọng
rằng với những chuyển biến tích cực trong tâm thế sáng tạo của người nghệ sĩ, môi
trường văn hoá và sinh hoạt văn học thuận lợi, tiểu thuyết và truyện ngắn sẽ có
thêm nhiều những thành tựu nghệ thuật, tạo được vị thế vững chắc trên diễn đàn văn
học.

Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi

124
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. TÀI LIỆU LÝ THUYẾT VĂN XUÔI, TỰ SỰ
1. Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn học, Hà Nội.
2. Lưu Hiệp (2007), Văn tâm điêu long, Nguyên Ngọc (dịch), Nxb Lao động, Hà
Nội.
3. Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp nghiên cứu văn học, Nxb Xã hội, Hà
Nội.
4. Bùi Việt Thắng (1999), Bình luận truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội.
5. Bùi Việt Thắng (2000), Truyện ngắn – những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể
loại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Lê Huy Bắc (2004), tập 1, Truyện ngắn: lí luận, tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.

21. Đặng Anh Đào (1996), Nguồn gốc và tiền đề của tiểu thuyết, Tạp chí Nghiên
cứu văn học, số 6.
22. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX – những vấn đề
lịch sử và lý luận, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
23. Phan Cự Đệ (2001), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
24. Nguyễn Đăng Điệp (2000), Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn
học Việt Nam đương đại, Nguồn:

25. Hà Minh Đức (chủ biên) (1997), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
26. Hà Minh Đức (2002), Những thành tựu của văn học Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7.
27. Hà Văn Đức (viết chung) (2004),Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục.
28. Nguyễn Thị Xuân Dung (2008), Dục vọng trong tiểu thuyết Việt Nam về
chiến tranh từ 1986 đến 1996, Nguồn:

Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi

126
29. Nguyễn Hải Hà (2006), Thi pháp tiểu thuyết L.Tônxtôi, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
30. Nguyễn Phan Hách, Trần Đình Sử, Cao Tiến Lê … (1991) Thảo luận về tiểu
thuyết Thân phận của tình yêu, BáoVăn nghệ, số 37.
31. Nguyễn Phan Hách, Ngô Ngọc Bội… (1989), Một số bài viết tiến tới Đại hội
Nhà văn Việt Nam lần thứ IV, BáoVăn nghệ, số 33.
32. Hội Nhà văn (2001), Tiểu thuyết, dòng chảy liên tục với thời gian (Báo cáo
của Hội đồng chung khảo Cuộc thi Tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam
1998 - 2000), Văn nghệ, số 37 và Văn nghệ Quân đội tháng 10.
33. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (2004), Từ điển thuật
ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

kỳ đổi mới, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 9.
47. Cao Kim Lan (2009), Mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả, Tạp chí
Nghiên cứu văn học, số 8.
48. Mã Giang Lân (chủ biên) (2000), Quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam
1900 – 1930, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.
49. Phong Lê (2005), Tiểu thuyết mở đầu thế kỉ XXI trong tiến trình văn học Việt
Nam từ tháng Tám – 1945, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 9.
50. Phong Lê (1997), Văn học trên hành trình thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội.
51. Phong Lê (2007), Từ sự nghiệp đổi mới nhìn lại lịch sử các mối giao lưu với
văn học phương Tây hiện đại, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 1.
52. IU.M.Lotman (2004), Cấu trúc văn bản nghệ thuật, Trần Ngọc Vương (chủ
biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
53. Bùi Văn Lợi (1999), Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
đến 1945 – diện mạo và đặc điểm, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm
Hà Nội.
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi

128
54. Lưu Liên (1987), Tiểu thuyết - một thể loại năng động đầy triển vọng, Tạp chí
Nghiên cứu văn học, số 4.
55. Đỗ Bạch Mai, Nguyễn Khắc Trường, Ma Văn Kháng… (1996), Một số bài
biết trong Hội thảo về tiểu thuyết, Báo Văn nghệ, số 49.
56. Nguyễn Thị Tuyết Minh (2009), Tiểu thuyết lịch sử từ sau năm 1945 đến nay,
Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Viện Văn học, Hà Nội.
57. Trần Thị Mai Nhân (2007), Quan niệm về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam
giai đoạn 1986 - 2000, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7.
58. Nguyên Ngọc (1991), Văn xuôi sau năm 1975, thử thăm dò về quy luật phát
triển, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 4.

chung của văn học, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7.
73. AA. Sokolov (2009), Văn hoá Việt Nam: toàn cầu hoá và thị trường, Tạp chí
Nghiên cứu văn học, số 10.
74. Lê Dục Tú (2001), Hành trình của nghiên cứu phê bình văn học thế kỉ XX,
Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7.
75. Phạm Xuân Thạch (2008), Sự hình thành hệ thống thể loại tự sự nghệ thuật
trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX,
Luận án Tiến sĩ Văn học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà
Nội.
76. Phạm Xuân Thạch (viết chung) (2000), Văn học dịch và tiến trình hiện đại hoá
văn học Việt Nam giai đoạn giao thời, Tạp chí Văn học, số 4.
77. Phạm Xuân Thạch (2002), Từ bản dịch Những kẻ khốn nạn, bàn về ảnh hưởng
của tiểu thuyết Victor Hugo với người Việt đầu thế kỉ XX, Tạp chí Nghiên
cứu văn học, số 6.
78. Phạm Xuân Thạch (2004), Quá trình cách tân và những giới hạn trong sự
nghiệp sáng tác văn xuôi của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Tạp chí Nghiên cứu
văn học, số 9.
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi

130
79. Phạm Xuân Thạch (2005), Nỗi buồn chiến tranh, viết về chiến tranh thời hậu
chiến từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới thi pháp, Nguồn:
ngắnthạchlam.
80. Phạm Xuân Thạch (2006), Suy nghĩ từ những tiểu thuyết mang chủ đề lịch sử,
Nguồn:
81. Phạm Xuân Thạch (2006),Tiểu thuyết như là trạng thái tìm kiếm ý nghĩa của
đời sống (Đọc Ngồi của Nguyễn Bình Phương, Nxb Đà Nẵng, 2006), Báo Văn
nghệ, số 45.
82. Phạm Xuân Thạch (2005), Vấn đề kết cấu truyện ngắn Thạch Lam dưới ánh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status