1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DƢƠNG THỊ THU HÒA CÁI ĐẸP TRONG NGHỆ THUẬT NHIẾP ẢNH VIỆT NAM
THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60.22.03.01 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thu Nghĩa
Hà Nội-2014
3
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 4
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁI ĐẸP VÀ NGHỆ
THUẬT NHIẾP ẢNH 12
1.1. Quan niệm về cái đẹp trong lịch sử mỹ học 12
1.1.1. Quan niệm về cái đẹp trong tư tưởng các nhà mỹ học trước Mác 12
mỗi ngƣời, mỗi cộng đồng ngƣời, mỗi dân tộc, thời đại và cả nhân loại.
Trong các loại hình nghệ thuật: điêu khắc, âm nhạc, thơ ca, hội họa,
điện ảnh, sân khấu… thì nhiếp ảnh - nghệ thuật của cái nhìn và khoảnh khắc,
là một trong những hình thức trẻ trung và có sức lôi cuốn, rất phát triển ở
nhiều nơi trên thế giới. Nhiếp ảnh không chỉ giúp con ngƣời thể hiện các cảm
quan thẩm mỹ, trong quan sát, cảm nhận sâu sắc về cuộc sống xung quanh mà
còn là một nguồn động lực khơi gợi, phát triển những sung lực sáng tạo mới
mẻ, lƣu giữ lâu dài những kỷ niệm về một thời khắc khó quên của lịch sử.
Nghệ thuật nhiếp ảnh đóng vai trò khá quan trọng trong nền văn hóa, góp
phần cởi mở những khả năng thẩm mỹ tiềm tàng của đời sống xã hội. Đây là
một loại hình nghệ thuật độc đáo, kết hợp đƣợc tính tài liệu với tính nghệ
thuật, tính chân thật lịch sử với những phút thăng hoa của mỹ cảm nói chung.
Trong quá trình tồn tại và phát triển, nghệ thuật nhiếp ảnh đã trở thành
một trong những hình thức hoạt động mang tính quần chúng rộng rãi nhất. Nó
góp phần làm phong phú các hình thức tồn tại của cái đẹp và cùng góp phần
với các loại hình nghệ thuật khác đƣa cái đẹp từ đời sống đến tâm hồn ngƣời
thƣởng thức. Chính những điều này đã mang lại cho nghệ thuật nhiếp ảnh
những kết quả vô cùng quan trọng và cực kỳ phong phú, phản ánh những giá
trị đặc sắc của nền văn hóa, những cảm xúc dâng trào của nội tâm con ngƣời.
Nó mang tính tƣ tƣởng và đặc biệt là tính thẩm mỹ cao.
Do hoạt động có hiệu quả, ngành nhiếp ảnh đƣợc Đảng, Nhà nƣớc quan
tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tạo điều kiện cho nhiếp ảnh phát triển. Tuy nhiên, nghệ
thuật nhiếp ảnh Việt Nam hiện nay còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết.
5
Một là, vẫn còn có những biểu hiện sai lệch trong thƣởng thức, đánh
giá, sáng tạo cái đẹp trong nghệ thuật nhiếp ảnh. Rất nhiều tác phẩm, công
trình nhiếp ảnh đạt giải ở quốc tế, trong nƣớc, song chƣa có sự thẩm định giá
trị thực của từng tác phẩm, từng công trình đã có, do đó, các tác phẩm
đó chƣa thật sự đi vào cuộc sống của xã hội. Có sự ngộ nhận trong đánh giá
con ngƣời, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cƣ, vào
mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con ngƣời, tạo ra trên đất nƣớc ta đời sống
tinh thần cao đẹp, trình độ văn hoá cao, khoa học phát triển phục vụ đắc lực
cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì mục tiêu dân giàu, nƣớc
mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bƣớc vững chắc lên chủ nghĩa xã
hội"[13, tr.54]. Nghệ thuật nhiếp ảnh cũng không nằm ngoài phƣơng hƣớng
chung đó.
Từ những vấn đề mà ngành nhiếp ảnh đặt ra hiện nay, từ đƣờng lối văn
hóa nghệ thuật của Đảng, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Cái đẹp trong nghệ
thuật nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đổi mới”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhiếp ảnh là một bộ môn nghệ thuật xuất hiện muộn trên thế giới cũng
nhƣ ở Việt Nam. Tuy ra đời muộn nhƣng bộ môn nghệ thuật này đã phát triển
nhanh chóng và có tác động đến sự phát triển của nhiều nghệ thuật khác, tầm
ảnh hƣởng của nghệ thuật nhiếp ảnh sâu rộng đến các lĩnh vực đời sống xã
hội. Với những tính năng ƣu việt của mình, nhiếp ảnh dễ dàng đƣợc công
chúng yêu mến và hiện nay đã trở thành một bộ môn nghệ thuật mũi nhọn
trong đời sống xã hội.
Với đặc thù gắn nhiều với kỹ thuật máy móc, từ thời sơ khai mới ra
đời, nhiếp ảnh chƣa đƣợc coi là nghệ thuật. Chỉ đến khi cùng với máy móc kỹ
thuật để cho ra đƣợc những bức ảnh đẹp, nhiếp ảnh mới dần trở thành môn
nghệ thuật thật sự. Mới vào Việt Nam đƣợc hơn một thế kỷ nhƣng nhiếp ảnh
Việt Nam đã có nhiều thành tích đáng kể trong nƣớc cũng nhƣ trên trƣờng
quốc tế.
7
Trƣớc đổi mới, chủ đề sáng tác của nhiếp ảnh Việt Nam phần lớn xoay
quanh chủ đề chiến tranh, ngƣời anh hùng. Sách về nhiếp ảnh chủ yếu là
những cuốn sách ảnh tập hợp lại các bức ảnh đẹp của thời kỳ hay khu vực nào
đó và một số sách về kỹ thuật chụp ảnh. Vào những năm 1980 - 1985, có một
Nam có điều kiện để giao lƣu và học hỏi những tiến bộ của nhiếp ảnh quốc tế.
Các nhà nhiếp ảnh nƣớc ngoài không chỉ đến thăm Việt Nam mà còn bắt đầu
sống và làm việc ở đây. Các nhà nhiếp ảnh Việt Nam cũng bắt đầu sang
phƣơng Tây. Điều kiện cho việc giao lƣu, học hỏi kinh nghiệm cũng nhƣ củng
cố kiến thức về nhiếp ảnh đƣợc mở rộng. Các sách viết và dịch về nhiếp ảnh
phục vụ nghiên cứu, học tập đƣợc viết nhiều nhƣng chủ yếu là sách về kỹ
thuật chụp ảnh, những sách đề cập đến nghiên cứu nhiếp ảnh dƣới góc độ mỹ
học nghệ thuật có thể kể đến sách “Suy nghĩ về nhiếp ảnh” (1986) của Bectôn
Bailơ do Lê Phức dịch. Sách đề cập đến vẫn đề nghiên cứu lý luận nhiếp ảnh,
tầm quan trọng của nhiếp ảnh trong giáo dục thẩm mỹ, đặc điểm của quá trình
sáng tạo nhiếp ảnh và mối liên hệ giữa nhiếp ảnh và nghệ thuật tạo hình. Đây
là tài liệu có giá trị trong nghiên cứu nghệ thuật nhiếp ảnh dƣới góc độ mỹ
học.
Viết về nhiếp ảnh Việt Nam có sách “Nhiếp ảnh và hiện thực: Nghiên
cứu - Tiểu luận”, nhà xuất bản Văn hoá, Hà Nội, 1987 của Hội Nghệ sĩ nhiếp
ảnh Việt Nam viết về một số vấn đề về đặc trƣng bản chất và chức năng của
nhiếp ảnh; Các bài nghiên cứu tiểu luận về nhiếp ảnh và hiện thực nhƣ: Nhiếp
ảnh và cái đẹp; tính dân tộc trong nhiếp ảnh,… Sách “Lịch sử nhiếp ảnh Việt
Nam”, nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1993 do Lê Phức chủ biên,
trình bày lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam qua các quá trình du nhập từ nƣớc ngoài
vào, thời kỳ trƣớc Cách mạng Tháng Tám, thời kỳ xây dựng nền nhiếp ảnh
dân tộc và cách mạng (1945-1954), trong cuộc chiến tranh giải phóng miền
Nam và thời kỳ thống nhất đất nƣớc. Sách “Nhiếp ảnh - phê bình và tiểu
luận” của Lê Phức, nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội, 2002 trình bày về nhiếp
ảnh Việt Nam trong quá trình lịch sử và trong đời sống văn hoá văn nghệ dân
tộc và giới thiệu các tác phẩm nhiếp ảnh xuất sắc đƣợc giải thƣởng trong và
9
ngoài nƣớc. Đồng thời chỉ ra thực trạng của nhiếp ảnh Việt Nam trong tiến
trình hội nhập quốc tế, giao lƣu văn hoá cũng nhƣ những thành tựu của nhiếp
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là cái đẹp trong nghệ thuật nhiếp
ảnh Việt Nam thời kỳ đổi mới qua các tác phẩm tiêu biểu.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về nghệ thuật nhiếp ảnh và
sự biểu hiện của cái đẹp trong nghệ thuật nhiếp ảnh Việt Nam qua sách báo
bàn về cái đẹp của nghệ thuật nhiếp ảnh kết hợp với thực tế sáng tác trong
lĩnh vực nhiếp ảnh trong thời kỳ đổi mới qua những bức ảnh đã đƣợc giải
thƣởng trong nƣớc và quốc tế. Bình luận và đề xuất vấn đề xung quanh những
chủ đề về cái đẹp của nhiếp ảnh trong thời kỳ đổi mới có liên hệ với nền
nhiếp ảnh quốc tế hiện đại.
5. Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử, những nguyên lý mỹ học Mác - Lênin, các quan điểm
của Đảng và Nhà nƣớc về văn hóa nghệ thuật. Đề tài cũng dựa trên thực tiễn
đời sống thẩm mỹ cũng nhƣ nghệ thuật nhiếp ảnh ở nƣớc ta.
Luận văn sử dụng những phƣơng pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh,
lôgic - lịch sử, khái quát hóa, …
6. Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận, lần đầu tiên luận văn đi sâu nghiên cứu về biểu hiện
của cái đẹp trong nghệ thuật nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đổi mới từ phƣơng
diện mỹ học mácxít.
Luận văn đã phân tích đƣợc thực trạng thƣởng thức, đánh giá, sáng tạo
cái đẹp trong nghệ thuật nhiếp ảnh Việt Nam hiện nay và đề xuất đƣợc một
số giải pháp nâng cao khả năng sáng tạo, thƣởng thức, đánh giá cái đẹp trong
nghệ thuật nhiếp ảnh ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới thông qua những
phân tích của mỹ học mácxít.
7. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần phân tích, chỉ ra những biểu hiện của cái đẹp trong
nghệ thuật nhiếp ảnh Việt Nam thời kỳ đổi mới, đồng thời, phân tích thực
11
nhau, có thể chia thành ba khuynh hướng chính.
Một là, khuynh hướng nghiên cứu cái đẹp chủ quan. Tiêu biểu cho
khuynh hƣớng này là Imanuen Cantơ (Imanuel Kant). Các tƣ tƣởng về cái đẹp
chủ quan đƣợc Cantơ trình bày trong tác phẩm “Phê phán năng lực phán
đoán”. Ông đã xây dựng hệ thống lý luận đồ sộ về tiếp cận cái đẹp từ lĩnh vực
chủ thể thẩm mỹ một cách đa dạng, phong phú. Theo I.Cantơ, không có khoa
học về cái đẹp, chỉ có phán đoán cá nhân về cái đẹp. Phán đoán về cái đẹp
không phải là phán đoán nhận thức mà là phán đoán thị hiếu. Đây là cơ sở lý
luận mỹ học quan trọng giải quyết một vấn đề rất cơ bản của cái đẹp trong
nghệ thuật nhiếp ảnh.
13
Theo Cantơ, cái đẹp không gắn liền với tính chất thực tiễn. Dù cái đẹp
có tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội nhƣng nó chỉ tồn tại nhƣ các dạng vật
chất mà không phải là cái đẹp. Chỉ có hiện tƣợng nào đem lại những khoái
cảm và thỏa mãn những đòi hỏi tinh thần mang tính chất chủ quan của cá
nhân mới có thể là hiện tƣợng đẹp. Nguồn gốc của cái đẹp thực sự không do
tác động của ngoại cảnh đem lại mà là do sự thích thú chủ quan của con ngƣời
tạo nên. Cái gì tôi thích thì cái ấy đẹp, bản chất của cái đẹp nằm ở tình cảm
chủ quan của con ngƣời.
Khi nghiên cứu về nguồn gốc và bản chất của cái đẹp, Cantơ đã chia
cái đẹp thành bốn phương diện để phù hợp với triết học chủ quan của ông. Đó
là cái đẹp về chất lượng, cái đẹp về số lượng, cái đẹp về tương quan và cái
đẹp về hình thái. Cái đẹp về chất lƣợng là những gì làm cho ta thấy hài lòng,
vô tƣ. Về mặt số lƣợng, cái gì làm cho nhiều ngƣời thích thú mà không cần
đến khái niệm thì là đẹp. Về mặt tƣơng quan, cái hình thức mục đích mà
không hình dung đó là mục đích thì đó là đẹp. Về hình thái thì cái gì đƣợc
thừa nhận hài lòng mà không cần đến khái niệm thì đó là đẹp. Tất cả bốn
phƣơng diện trên đều do chủ quan con ngƣời quyết định.
Cantơ cho rằng, cái đẹp là một phán đoán thẩm mỹ. Phán đoán thẩm
nhƣ đối tƣợng của một sự hài lòng phổ biến, độc lập với mọi khái niệm”[33,
tr.75]. Tức là, khoái cảm về cái đẹp vừa có tính chất cá thể, lại phải mang tính
phổ biến. Phán đoán thẩm mỹ là phán đoán chủ quan nên cái có thể mang tính
phổ biến không phải là tri thức về đối tƣợng mà là trạng thái xúc động tự do.
Khi phân tích phán đoán thẩm mỹ xét về mặt tƣơng quan, Cantơ đã gắn
liền lôgic, đạo đức, thẩm mỹ trong “vẻ đẹp đơn thuần phụ thuộc”. Đó là cái đẹp
gắn liền mỹ cảm với nhận thức và đạo đức. Theo Cantơ, có hai vẻ đẹp là “vẻ
đẹp tự do” và “vẻ đẹp đơn thuần phụ thuộc”. Vẻ đẹp tự do không lấy khái niệm
phải nhƣ thế nào để làm tiền đề, gọi là những vẻ đẹp tự tồn cho mình của sự vật
này hay sự vật kia; vẻ đẹp đơn thuần phụ thuộc lấy khái niệm và tính hoàn hảo
15
của đối tƣợng tƣơng ứng với khái niệm ấy làm điều kiện tiên quyết, dành cho
những đối tƣợng phục tùng khái niệm về một mục đích nhất định.
Đẹp không mục đích nhƣng vẫn phải phù hợp mục đích, đẹp không
khái niệm nhƣng vẫn phải có khái niệm, đẹp không vụ lợi nhƣng vẫn phải gắn
với lợi ích,… đó là cách giải quyết và khắc phục những thiếu sót của chủ
nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm trong lịch sử mỹ học cận đại.
Khi nghiên cứu mặt thứ tƣ của phán đoán thẩm mỹ - hình thái của phán
đoán thẩm mỹ, Cantơ đã giả định rằng mọi nhân thức đều có nguồn gốc tiên
nghiệm, phán đoán thẩm mỹ là một hình thức phán đoán đƣợc giả định có
“năng lực cảm giác chung”. Năng lực cảm giác chung là hình thái của phán
đoán thẩm mỹ. Nghiên cứu hình thái của phán đoán thẩm mỹ là ngiên cứu
mặt tự nhiên, của năng lực cảm giác chung. “Đẹp là cái gì đƣợc nhận thức
nhƣ là đối tƣợng của một sự hài lòng tất yếu, nhƣng độc lập với khái
niệm”[33, tr.134].
Cantơ đã chia cái đẹp của nghệ thuật làm ba hình thái. Hình thái tự
nhiên là cái đẹp thấp nhất, ít mang ý nghĩa sáng tạo. Hình thái lao động là cái
đẹp có tính chất thủ công, gắn liền với vụ lợi ích kiếm tiền, đó là cái đẹp loại
hai. Cái đẹp của tự do, cái đẹp trời cho, tức là cái đẹp trò chơi là cái đẹp cao
quan niệm nhất định và mỗi quan niệm nhất định lại cũng chỉ đƣợc thực hiện
đầy đủ trong muôn hình vạn trạng các đối tƣợng hoặc các vật mà nó bao trùm,
nhƣng nó không bao giờ đƣợc thực hiện trong một vật riêng lẻ.
… Nhìn nhận sự vật nhƣ thế chỉ là ảo ảnh (ist lin Shein) vì rằng ý niệm
không bao giờ biểu hiện một cách đầy đủ trong một đối tƣợng riêng lẻ; nhƣng
dƣới cái ảo ảnh ấy có ẩn náu chân lý, vì rằng ý niệm chung thực sự đƣợc thực
hiện đến một mức độ nào đó trong một ý niệm nhất định và một ý niệm nhất
định đƣợc thực hiện đến một mức độ nào đó trong một đối tƣợng riêng lẻ. Cái
ảo ảnh che dấu chân lý đó, cái ảo ảnh về sự biểu hiện đầy đủ của ý niệm trong
một vật riêng lẻ đó là cái đẹp (das schône)”[46, tr.17 - 18].
Đây cũng là quan niệm chung của chủ nghĩa duy tâm khách quan khi
nghiên cứu về cái đẹp. Hêghen khẳng định, ý niệm vận động đến tuyệt đối thì
17
sản sinh ra cái đẹp, cái đẹp của nghệ thuật là ý niệm đƣợc thể hiện trong hình
tƣợng. Cái đẹp của nghệ thuật là biểu hiện đầy đủ của ý niệm chung trong một
hiện tƣợng cá biệt. Cái đẹp của nghệ thuật là sự biểu hiện của tinh thần tuyệt
đối trong hình tƣợng. Ông cho rằng “Cái đẹp trong nghệ thuật cao hơn cái đẹp
trong tự nhiên. Đối tƣợng của mỹ học là vƣơng quốc rộng lớn của cái
đẹp”[16, tr.11].
Nhƣ vậy, Hêghen coi cái đẹp của tự nhiên là không đầy đủ và ông chỉ
quan tâm nghiên cứu cái đẹp trong nghệ thuật. Theo ông, cái đẹp nghệ thuật
nảy sinh hai lần từ tinh thần. Tinh thần và những sản phẩm của tinh thần càng
cao hơn tự nhiên bao nhiêu thì cái đẹp của nghệ thuật cao hơn cái đẹp tự
nhiên bấy nhiêu.
Trong sách “Mỹ học”, Hêghen đã nghiên cứu về nguồn gốc và bản chất
của cái đẹp nói chung cũng nhƣ cái đẹp trong nghệ thuật từ ý niệm. Cái đẹp
và cái chân thực là một, bởi tự thân cái đẹp đã là chân thực. Cái đẹp bao giờ
cũng là một khái niệm thống nhất trong nó lý tƣởng khách quan vô hạn.
Đối với Hêghen, nguồn gốc của cái đẹp chính là tinh thần, bản chất của
còn lại cái chân thực chứ không còn cái đẹp. Quan niệm đó của Hêghen làm
hạn chế phạm vi thể hiện của cái đẹp, tách nguồn gốc, bản chất của cái đẹp ra
khỏi cuộc sống phong phú.
Theo Tsécnƣsépxki, sự phát triển của tƣ duy con ngƣời không hề thủ
tiêu mỹ cảm. Cái đẹp phải gắn với sự phong phú của cuộc sống: “Cái đẹp là
cuộc sống. Một thực thể đẹp là một thực thể trong đó ta nhìn thấy cuộc sống
đúng nhƣ quan niệm của chúng ta. Một đối tƣợng đẹp là đối tƣợng trong đó
cuộc sống đƣợc thể hiện hay là nhắc ta nghĩ đến cuộc sống”[46, tr.23]. Đối
với Tsécnƣsépxki, cuộc sống lao động đẹp hơn cuộc sống an nhàn. Ông
khẳng định rằng, những ngƣời nông dân má đỏ, da hồng hào thì đẹp hơn các
cô thiếu nữ thị thành ẻo lả.
Khi con ngƣời coi những sự vật, hiện tƣợng nào đó là đẹp thì đó không
phải xuất phát từ ý niệm mà dựa trên quan hệ của sự vật và hiện tƣợng đó đối
19
với cuộc sống con ngƣời một cách trực tiếp hay gián tiếp. Tsécnƣsépxki đã
đến gần với quan niệm về thực chất, bản chất xã hội của cái đẹp và đi đến kết
luận hết sức quan trọng về tính giai cấp - tính chất đƣợc quy định về mặt xã
hội của cảm thụ về cái đẹp. Mỗi giai cấp, mỗi thời đại, mỗi dân tộc đều có
những nhu cầu thẩm mỹ riêng. Ở những giai cấp khác nhau, quan niệm về cái
đẹp không giống nhau, thậm chí là đối lập nhau.
Những quan điểm mỹ học của Tsécnƣsépxki mang tính chất duy vật chủ
nghĩa và dân chủ cách mạng tiến bộ. Ông cũng không tránh khỏi những thiếu
sót khi nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất cái đẹp khi cho rằng: “Những sáng
tác nghệ thuật đều thấp hơn cái đẹp trong hiện thực”[46, tr.172]. Ông đã hạ
thấp vai trò của hoạt động sáng tạo nghệ thuật, coi nghệ thuật là sự mô phỏng
lại tự nhiên. Tsécnƣsépxki không thấy đƣợc cái đẹp với tƣ cách là hoạt động
sáng tạo của chủ thể, chƣa đánh giá đúng tác dụng cải tạo thế giới của hoạt
động thực tiễn vật chất. Tsécnƣsépxki không thấy rằng, trong khi biến đổi tự
nhiên, con ngƣời cũng biến đổi và phát triển những cảm xúc của chính bản
về cái đẹp khác với các quan niệm khác.
Trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, lần đầu tiên
C.Mác đã phát hiện ra nguồn gốc thật sự của cái đẹp đó là từ lao động. Đến
“Luận cương về Phoiơbắc”, C.Mác đã khẳng định thêm bí mật thật sự của cái
đẹp gắn với bản chất xã hội của con ngƣời là hoạt động thực tiễn. Hoạt động
lao động, đấu tranh, sáng tạo là thực tiễn cơ bản của con ngƣời. Lao động là
điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài ngƣời. Ông cho rằng:
“Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trƣớc đến nay - kể cả
chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc - là sự vật, hiện thực, cái cảm giác đƣợc, chỉ đƣợc
nhận thức dƣới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không đƣợc
nhận thức là hoạt động cảm giác của con ngƣời, là thực tiễn, không đƣợc nhận
thức về mặt chủ quan”[5, t.3, tr.9]. C.Mác đã chỉ ra cách tiếp cận mới đối với
tiến trình lịch sử của một thế giới quan mới. Quan điểm thực tiễn của C.Mác
21
có vai trò quan trọng trong việc giải thích lịch sử, trong đó có quan niệm về
nguồn gốc và bản chất của cái đẹp.
Ph.Ăngghen cũng cho rằng, quá trình lịch sử chính là quá trình sản xuất
xã hội. Những phát hiện của hai ông đã khắc phục đƣợc cách tiếp cận duy tâm
về nguồn gốc, bản chất của cái đẹp. Theo đó, trong quá trình hoạt động sống,
một mặt con ngƣời tác động vào tự nhiên, biến đổi cải tạo tự nhiên để phục vụ
nhu cầu của mình, mặt khác, con ngƣời cũng phát triển bản thân, năng lực
sáng tạo của mình. Khi đó, tự nhiên đƣợc con ngƣời tác động sẽ mang những
dấu vết của con ngƣời, con ngƣời cũng ngày càng phát triển về tinh thần, vật
chất để làm chủ tự nhiên.
C. Mác đã nói: “Toàn bộ cái gọi là lịch sử toàn thế giới chẳng qua chỉ
là sự sáng tạo con ngƣời kinh qua lao động của con ngƣời”[6, t.42, tr.182].
Ông đã tìm ra nguồn gốc, bản chất của cái đẹp chính là từ lao động. Phát hiện
này của C.Mác đã cho mỹ học cơ sở để hiểu rõ nguồn gốc của cái đẹp không
phải ở tình cảm của thị hiếu chủ quan của con ngƣời nhƣ Cantơ cũng không
văn này đã miêu tả đƣợc một hiện thực điển hình trong các hoàn cảnh điển
hình.
Chủ thể thẩm mỹ là con ngƣời mang tính xã hội trong quá trình tác
động biện chứng với đối tƣợng thẩm mỹ nhằm mang lại các xúc cảm thẩm mỹ
cho con ngƣời. Cũng chỉ có con ngƣời mới có năng lực sáng tạo, đánh giá và
thƣởng thức các hoạt động thẩm mỹ. Đây là năng lực đặc biệt của con ngƣời,
xuất hiện và phát triển trong quá trình lịch sử xã hội loài ngƣời. Tình cảm
thẩm mỹ chính là đặc trƣng quan trọng nhất của chủ thể thẩm mỹ, đó là thái
độ với cuộc sống, niềm hạnh phúc, vui sƣớng, tình cảm đau khổ, xót xa,…
của chủ thể trƣớc các hiện tƣợng thẩm mỹ. Tình cảm thẩm mỹ có tác dụng
kích thích tính tích cực về mặt xã hội của con ngƣời, điều tiết các hành vi và
có tác động đến sự hình thành các lý tƣởng chính trị, xã hội, đạo đức, thẩm
mỹ,… của cá nhân.
Con ngƣời còn có thƣớc do thẩm mỹ gắn với quá trình sáng tạo thẩm
mỹ. Quá trình đó cũng sinh ra các thị hiếu thẩm mỹ - một năng lực biểu hiện
23
sự hài hòa giữa cảm xúc và nhận xét. Thị hiếu thẩm mỹ thể hiện khả năng nói
lên những nhận xét về phẩm chất thẩm mỹ của các đối tƣợng và hiện tƣợng tự
nhiên, xã hội, vật chất và tinh thần. Mặt khác, thị hiếu thẩm mỹ cũng thể hiện
ở sự biểu hiện cảm xúc, nhờ đó thấy đƣợc nhân tố chủ quan của cá nhân, sự
độc đáo của chủ thể. Dựa vào các thƣớc đo xã hội mà có thị hiếu tốt, thị hiếu
xấu, thị hiếu lành mạnh, thị hiếu không lành mạnh,… Khi lý giải về bản chất
cái đẹp, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, thị hiếu thẩm mỹ không hoàn toàn
mang tính cá nhân hay thần bí mà là thái độ, tình cảm của chủ thể trƣớc đối
tƣợng thẩm mỹ trong tự nhiên và trong cuộc sống. Cái tai thính âm nhạc, con
mắt thấy cái đẹp của hình thức đều là cái tai, con mắt gắn với thực tiễn xã hội,
tức là quá trình xã hội hóa các lực lƣợng lao động. Quan niệm này đã phủ
định lại các quan niệm về thị hiếu nghệ thuật của Cantơ, khi ông cho rằng thị
hiếu thẩm mỹ tách rời với thực tiễn thẩm mỹ, sản xuất thẩm mỹ. Theo C.Mác
nhiên và xã hội mà nó xuất hiện và phát triển nhờ lao động. Đó là lao động xã
hội lành mạnh.
Con ngƣời xuất hiện, bằng việc tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên,
xã hội và bản thân mình, con ngƣời dần phát hiện ra những giá trị của tự
nhiên, trong đó có giá trị thẩm mỹ. Cái đẹp không phải là cái vốn có trong tự
nhiên thuần túy, cũng không phải là cái đƣợc nhận thức tùy tiện do cảm giác
chủ quan của cá nhân. Cái đẹp là một phạm trù giá trị, xuất hiện và không
ngừng phát triển trong thực tiễn sản xuất của con ngƣời, xã hội.
Trong các quan hệ thẩm mỹ xã hội, cái đẹp đƣợc quy định bởi quan hệ
chủ thể và khách thể. Ở trong những mối quan hệ khác nhau, thời đại, giai
cấp, dân tộc khác nhau thì các đối tƣợng mang giá trị thẩm mỹ là khác nhau.
Muốn hiểu đƣợc hiện tƣợng này là đẹp hay không đẹp thì cần quá trình lao
động xã hội làm thƣớc đo. Vì vậy, giá trị thẩm mỹ phải có tính khách quan xã
hội. Cái đẹp lại đƣợc đo từ mối quan hệ chủ quan và khách quan nên cái đẹp
mang giá trị với thƣớc đo riêng của cá nhân và thƣớc đo chung của xã hội.
Bởi cá nhân ấy phải ở trong một cộng đồng, giai cấp, một thời đại nhất định.
25
Cái đẹp trong học thuyết của Mác là một hiện tƣợng khách quan, không phụ
thuộc vào cá nhân cụ thể nào.
Trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen, cái đẹp ra đời, tồn tại và
phát triển trong lao động sản xuất, đấu tranh giai cấp, cải tạo tự nhiên và xã
hội. Bản chất của cái đẹp là do các mối quan hệ quy định và luôn vận động,
biến đổi cùng các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ thẩm mỹ. Bên cạnh đó,
C.Mác và Ph.Ăngghen còn có những luận giải sâu sắc về giá trị tƣ tƣởng và
giá trị thẩm mỹ của nghệ thuật. Những tƣ tƣởng về cái đẹp trong nghệ thuật là
sự thống nhất giữa giá trị tƣ tƣởng cao và giá trị thẩm mỹ cao. Những tƣ
tƣởng này đã đặt cơ sở quan trọng cho một nền nghệ thuật cách mạng.
Gắn với sự vận động của xã hôi, cái đẹp cũng đƣợc chia ra làm nhiều
thời kỳ. Trong xã hội tƣ bản, giai cấp tƣ sản đã tạo ra thƣớc đo cái đẹp khác