Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học vết thương trong văn xuôi việt nam thời kỳ đổi mới luận văn ths văn học 60 22 32 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------o0o-------------

LÊ VĂN HIỆP

ĐẶC TRƯNG MỸ HỌC CỦA BỘ PHẬN VĂN HỌC “VẾT
THƯƠNG” TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM
THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(Qua sự so sánh với văn học Trung Quốc)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Văn học

Hà Nội – 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------o0o------------------

LÊ VĂN HIỆP

ĐẶC TRƯNG MỸ HỌC CỦA BỘ PHẬN VĂN HỌC
“VẾT THƯƠNG” TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM
THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(Qua sự so sánh với văn học Trung Quốc)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số: 60220120

2.3. Từ cái anh hùng và cảm hứng lãng mạn tới cái đau thương và cảm hứng
bi kịch – Sự thay đổi về chất của tư duy nghệ thuật ......................................62


CHƯƠNG 3: MỘT VÀI ĐẶC TRƯNG THI PHÁP CỦA VĂN HỌC “VẾT
THƯƠNG” TRONG VĂN XUÔI THỜI KỲ ĐỔI MỚI ...............................70
3.1. Cốt truyện và kết cấu .................................................................................70
3.1.1. Phương thức tổ chức cốt truyện ............................................................71
3.1.2. Nghệ thuật xử lý thời gian .....................................................................82
3.2. Giọng kể và điểm nhìn ...............................................................................88
3.2.1. Tự sự từ ngôi thứ nhất và sự thu hẹp ảnh hưởng người trần thuật .......89
3.2.2. Tính phức hợp của giọng trần thuật và hiện tượng dòng ý thức ...........93
KẾT LUẬN ........................................................................................................97
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................................100


Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử dân tộc nào cũng vậy, đằng sau những trang sử vẻ vang, hào hùng bao
giờ cũng có những giai đoạn đau thương và mất mát. Những bước tiến nghiệt
ngã của lịch sử đôi khi để lại đằng sau nó không ít những “vết thương”, dẫu
mức độ nặng nhẹ có thể khác nhau. Vì vậy, như là lẽ đương nhiên, khi âm điệu
hùng tráng của những thiên trường ca đẹp đẽ về một thời lịch sử hào hùng lắng
lại thì cũng là lúc văn chương hướng tới cái phần mặt trái đau thương nhưng
đầy day dứt ấy. Những “vết thương” của quá khứ và lịch sử vì vậy trở thành
một đề tài không thể không nhắc tới của văn học ở bất kỳ quốc gia nào.
Ở Trung Quốc, bắt đầu từ những năm cuối của thập niên 70 kéo dài cho tới giữa
thập niên 80 của thế kỷ trước, xuất hiện một trào lưu trở thành trung tâm của đời

nề tới mức nào. Sự “thức tỉnh” trước những nỗi đau, những “vết thương” do
cuộc Cách mạng Văn hóa gây ra là cơ sở thẩm mỹ cho sự ra đời của trào lưu
văn học vết thương ở Trung Quốc. Và chính sự đồng cảm của một đối tượng
độc giả rộng rãi, những nạn nhân vừa thoát khỏi những “tháng ngày địa ngục”
của Cách mạng Văn hóa đã khiến dòng văn học này trở thành dòng văn học
chiếm vị trí trung tâm trong suốt gần một thập kỷ (1976 - 1985) của đời sống
văn học Trung Quốc.
Khác với Trung Quốc (và có lẽ cũng là điều may mắn), lịch sử Việt Nam đã
không diễn ra cái “biến cố khủng khiếp” là cuộc “Đại cách mạng văn hóa”, dẫu
nhiều người vẫn cho rằng, nằm cạnh một nền văn hóa lớn, một “nền văn hóa có
khả năng kiến tạo vùng” (chữ của PGS. Trần Ngọc Vương), Việt Nam chịu
nhiều ảnh hưởng và có không ít sự tương đồng về lịch sử, chính trị lẫn văn hóa
so với Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng giống như ở Trung Quốc và nhiều quốc gia
khác, Việt Nam đã phải trải qua một thế kỷ lịch sử cận hiện đại đầy những biến
động với những biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng cá nhân và cả dân tộc.
Đó hẳn nhiên là những trang sử hào hùng, vẻ vang bậc nhất trong lịch sử Việt
Nam và nó đã trở thành nguồn cảm hứng cho không ít những thiên anh hùng ca
tráng lệ và đẹp đẽ. Song cũng không thể phủ nhận rằng, những biến cố đó trong
nhiều trường hợp đã để lại không ít những đau thương, mất mát nhất định đối
với nhiều số phận cá nhân. Tuy nhiên, trong những năm tháng mà nhiệm vụ
cách mạng, mục tiêu bảo vệ, giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu, người ta
đã không có điều kiện để nói và cũng không muốn nói về phần đau thương, mất
mát ấy của lịch sử. Cho tới khi những cuộc chiến tranh đã qua đi, khi những đau
thương, mất mát đã lùi vào quá khứ, khi cách nghĩ, cách nhìn đối với những đau
6


Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới

thương, mất mát ấy đã trở nên cởi mở hơn thì các nhà văn mới bắt đầu viết về

Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới

hiện tượng này, đồng thời xác lập những đặc trưng thẩm mỹ nhằm đánh giá
những giá trị về mặt mỹ học cũng mà hiện tượng này đem tới cho đời sống văn
học Việt Nam đương đại. Tuy nhiên, thực tế văn học sử cũng như lý luận văn
học Việt Nam cho thấy, cho tới nay, vẫn chưa có công trình khoa học nào đặt
vấn đề khảo sát một cách có hệ thống về bộ phận sáng tác này cũng như lý giải
những giá trị về mặt mỹ học nó đem lại cho nền văn học Việt Nam đương đại.
Là một bộ phận văn chương lấy đề tài chính là lịch sử hiện đại, thể loại thành
công nhất của các sáng tác thuộc bộ phận văn học “vết thương” ở Việt Nam
chính là các sáng tác văn xuôi. Bởi lẽ, với đặc trưng là sử dụng lời kể và lời
miêu tả dưới hình thức câu văn xuôi, các sáng tác tự sự có khả năng xây dựng
một bức tranh rộng lớn, phong phú và toàn diện về cuộc sống hiện thực. Điều
này khiến thể loại văn xuôi đặc biệt thích hợp với những đề tài về lịch sử dù là
trong quá khứ hay ở hiện tại. Những sáng tác nổi bật nhất có thể xếp vào bộ
phận văn học “vết thương” ở Việt Nam như các sáng tác giai đoạn cuối đời của
nhà văn Nguyễn Minh Châu, tiểu thuyết Những thiên đường mù của Dương Thu
Hương, Thời xa vắng, Hai nhà của Lê Lưu, Bến không chồng của Dương
Hướng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, các tác phẩm của Tạ Duy Anh từ
Bước qua lời nguyền, Lão Khổ cho tới Đi tìm nhân vật, rồi mới đây nhất là Ba
người khác của Tô Hoài và Nước mắt một thời của Nguyễn Khoa Đăng,… đều
là những sáng tác thuộc thể loại văn xuôi. Do vậy, có thể nói rằng, những sáng
tác văn xuôi chính là nơi tập trung những đặc trưng rõ nét nhất về mặt thẩm mỹ
của các sáng tác thuộc bộ phận văn học “vết thương” ở Việt Nam.
Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn “Đặc trưng mỹ học của bộ
phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới” làm
đề tài nghiên cứu như một nỗ lực ban đầu tìm hiểu về một bộ phận sáng tác
quan trọng trong đời sống văn học đương đại Việt Nam, ngõ hầu trả lời cho câu
hỏi còn gây nhiều tranh cãi: Có tồn tại hay không bộ phận văn học vết thương ở
8

nhận diện những đặc trưng nội tại đều rất phức tạp của văn học đương đại
9


Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới

Trung Quốc. Xuất hiện rất nhiều trường hợp các tác giả ở giai đoạn này có thể
thuộc trào lưu Văn học Vết thương nhưng đến giai đoạn sau lại thuộc vào những
trào lưu khác. Những đặc điểm đặc thù đó khiến Văn học Vết thương ở Trung
Quốc dường như không nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu
văn học ngoài những bài viết và công trình mang hơi hướng khái quát văn học
sử về giai đoạn mà nó hiện diện. Tuy nhiên, những công trình loại này cũng
phải chờ tới hơn 20 năm kể từ khi Văn học Vết thương kết thúc sứ mệnh lịch sử
của nó mới bắt đầu xuất hiện. Công trình được coi là dày dặn và đầy đủ nhất về
Văn học Vết thương ở Trung Quốc có lẽ là luận án tiến sĩ “Văn học vết thương”
với tư cách là một trào lưu văn học (nguyên văn 作为文艺思潮的 “伤痕文学”
(1976 - 1984 年) của tác giả Vương Quỳnh, bảo vệ tại Đại học Sư phạm Hoa
Đông, Trung Quốc vào năm 20093. Trong công trình của mình, Vương Quỳnh
đã từng bước mô tả rất chi tiết bối cảnh xã hội, quá trình hình thành, những đặc
trưng nội dung, giá trị lịch sử cũng như những giới hạn lịch sử của trào lưu Văn
học Vết thương ở Trung Quốc. Hầu hết các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí
chuyên ngành đều được triển khai theo hướng đi này, chẳng hạn như bài viết
Văn học vết thương: Ra đời, diễn tiến, tan rã và ý nghĩa của nó của tác giả
Trương Pháp, đăng trên Giang Hán luận đàn, số 9 năm 1998 hay bài viết Giới
hạn lịch sử của Văn học Vết thương của tác giả Trình Quang Vĩ, đăng trên
Nghiên cứu văn nghệ số 1 năm 2005... Theo một hướng triển khai khác, một số
luận văn thạc sĩ như Nghiên cứu tự sự vết thương trong Văn học Vết thương và
Văn học Phản tư (nguyên văn “伤痕”与“反思”文学中的创伤叙事研究) của
Lý Mẫn, bảo vệ tại Đại học Sư phạm Sơn Đông năm 2007 hay Phân tích các mô
thức tự sự của Văn học Vết thương (nguyên văn 伤痕文学叙事模式分析) của

rộng đường hơn. Trong bài báo này, tác giả này dẫn lại lời của nhà nghiên cứu
Phong Lê cho rằng, ở Việt Nam có tồn tại một bộ phận văn học “vết thương”
nhưng chưa hình thành một dòng lớn như ở Trung Quốc. Ở điểm này, chúng tôi
chia sẻ quan điểm với nhà nghiên cứu Phong Lê, bởi lẽ, dù chưa phát triển
thành một trào lưu với tuyên ngôn và tiêu chí thẩm mỹ cụ thể, song về đặc trưng
thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật, những sáng tác về đề tài “vết thương” của lịch sử
ở Việt Nam có những điểm tương đồng nhất định với Văn học vết thương ở
Trung Quốc. Vì vậy, như đã nói, việc mượn cách định danh từ văn học Trung
Quốc không phải là không thể chấp nhận được. Tuy nhiên, có một điều chắc
chắn là, văn học “vết thương” Việt Nam không phải là một bản sao của trào lưu
11


Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới

Văn học Vết thương ở Trung Quốc. Bởi lẽ, sự phủ định đối với cuộc Đại Cách
mạng Văn hóa, bối cảnh xã hội cũng như cở sở thẩm mỹ cho sự ra đời của dòng
Văn học vết thương ở Trung Quốc không xuất hiện trong tiến trình lịch sử Việt
Nam. Không có cơ sở xã hội và thẩm mỹ ấy, ở Việt Nam sẽ không bao giờ tồn
tại dòng Văn học Vết thương giống như ở Trung Quốc. Vì vậy, vấn đề quan
trọng ở đây chính là, nên hiểu thế nào về khái niệm “vết thương” trong văn học
Việt Nam? Trong bài viết của tác giả Hoàng Hường nói trên, nhà nghiên cứu
Phong Lê cho rằng: “…thương tích chủ yếu trong văn học Việt Nam chính là ở
thời kỳ cải cách ruộng đất và sửa sai ở miền Bắc” [27]. Như vậy, theo nhà
nghiên cứu này thì những bi kịch và sự ám ảnh do sai lầm của cuộc Cách mạng
ruộng đất gây ra chính là “vết thương” chủ yếu của văn học Việt Nam. Dễ thấy
rằng sự tương đồng phần nào giữa cách mạng văn hóa ở Trung Quốc và cải cách
ruộng đất ở miền Bắc, khi tác nhân của những biến cố kinh hoàng, làm đảo lộn
toàn bộ đời sống từng cá nhân và cả dân tộc này đều là cách mạng (hoặc chí ít
mang danh nghĩa cách mạng) chính là cơ sở cho những nhận định loại này. Và

văn chương ta không còn phiến diện, hiện thực phản ánh trong tác phẩm không
còn là hiện thực “bị cắt xén”, “gọt chân cho vừa giày” hay “cắt đầu cho vừa
giường”. Ít nhiều đã có những tác phẩm viết về “vết thương” chiến tranh, hậu
chiến và cả những “vết thương” không chỉ do các thế lực ngoại xâm hay phản
cách mạng gây ra mà tác nhân chính là Cách mạng” [6].
- Chưa phải là một bộ phận văn chương được định hình hoàn tất và công nhận
rộng rãi trong các tài liệu lý luận và văn học sử mang tính quan phương, tất yếu
dẫn tới tình trạng gần như vắng bóng các công trình khoa học đặt vấn đề nghiên
cứu trực tiếp về bộ phận văn sáng tác này. Tuy nhiên, theo tập hợp của chúng
tôi, những bài viết và công trình dưới đây đã đặt ra những vấn đề dưới nhiều
góc độ có liên quan tới đề tài khảo sát trong luận văn của mình:
1. Chuyên luận Văn học Việt Nam hiện đại – Nhận thức và thẩm định của tác
giả Vũ Tuấn Anh, Nxb Khoa học Xã hội, 2001.
2. Luận án Những dấu hiệu đổi mới trong văn xuôi nghệ thuật từ 1980 – 1986
của Nguyễn Thị Huệ, năm 2000.
13


Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới

3. Khóa luận Tìm hiểu tự sự về cải cách ruộng đất thời kì đổi mới qua tiểu
thuyết Tạ Duy Anh, Tô Hoài, Hồng Phi của Tăng Thị Hoàn, bảo vệ tại khoa Văn
học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn năm 2009.
4. Khóa luận Mối quan hệ giữa hiện thực lịch sử và tự sự nghệ thuật trong văn
học Việt Nam từ 1986 đến nay (qua một số tác phẩm tiêu biểu) của Lưu Thị Thu
Hà, bảo vệ tại khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
năm 2004.
5. Bài viết Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới của Nguyễn
Bích Thu đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 11/2006.
6. Bài viết Tiểu thuyết về chiến tranh – Nhìn từ hôm nay của nhà nghiên cứu

truyện, sự đa dạng các hình thức cấu trúc tác phẩm, tính chất đa thanh trong
nghệ thuật trần thuật,… Chúng tôi cho rằng, những phát hiện nêu trên là những
đặc điểm cơ bản trong quan niệm và tư duy nghệ thuật cũng như thi pháp của
văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới. Và với tư cách là một bộ phận quan trọng
của nền văn học đương đại, những đặc trưng về tư duy nghệ thuật cũng như thi
pháp của văn học “vết thương” Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
- Liên quan tới một số tác giả, tác phẩm thuộc phạm vi đề tài, chúng tôi cũng
cho rằng có những ý kiến đáng ghi nhận sau đây:
1. Về tác giả Nguyễn Minh Châu và những sáng tác giai đoạn cuối đời như
Phiên Chợ Giát (1988), Cỏ lau (1989), Mùa trái cóc ở Miền Nam (1989): Từ
cuộc thảo luận trên báo Văn nghệ diễn ra vào năm 1985, các nhà nghiên cứu đã
sớm nhận thấy những nỗ lực vượt lên cái bóng của chính mình ở Nguyễn Minh
Châu. Các tham luận của Lê Lựu, Phong Lê, Hà Xuân Trường, Nguyễn Kiên,…
đã góp phần phát hiện và ủng hộ những tìm tòi của Nguyễn Minh Châu trong
những sáng tác giai đoạn cuối đời của nhà văn này. Nhà văn Nguyễn Kiên nhận
định: “Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu phù hợp với nhu cầu phát triển
chung, nó vượt ra một cái gì gọi là chuyện riêng của Nguyễn Minh Châu, sáng
tác của anh giúp chúng ta bàn bạc được những vấn đề lớn hơn” [24, tr. 249]. Về
sau này, các chuyện luận như Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu của
15


Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới

Tôn Phương Lan, tuyển tập các bài viết về Nguyễn Minh Châu do Nguyễn
Trọng Hoàn giới thiệu Nguyễn Minh Châu – Về tác gia và tác phẩm đã đi sâu
phân tích đánh giá các thành tựu sáng tạo của ông, từ đó khẳng định vị trí tiên
phong, mở đường và những đóng góp quan trọng của nhà văn trong công cuộc
Đổi mới văn học Việt Nam.
2. Về Bảo Ninh và tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (1990): Khác với Nguyễn

phản động, phê phán, chống phá đất nước. Năm 2006, sau hàng loạt những bài
viết và phỏng vấn phỉ báng quốc gia, dân tộc, Dương Thu Hương đã xin lưu trú
tại Pháp sau khi được mời sang Paris. Thái độ phản động, quay lưng lại với dân
tộc của Dương Thu Hương là lý do lý giải vì sao những sáng tác (ngay cả những
sáng tác thời kỳ đầu) của nữ tác giả này gần như bị loại khỏi các công trình
nghiên cứu cũng như báo chí chính thống tại Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi
cho rằng, những sáng tác giai đoạn đầu của Dương Thu Hương như Bên kia bờ
ảo vọng (1987), Những thiên đường mù (1988) là những sáng tác khá thành
công, đặc biệt là với tư cách những sáng tác thuộc bộ phận văn học “vết
thương” mà chúng tôi đang đặt vấn đề nghiên cứu. Do vậy, trong phạm vi của
đề tài, luận văn của chúng tôi sẽ chỉ khảo sát những sáng tác của Dương Thu
Hương ở giai đoạn này, khi những tác phẩm của Dương Thu Hương còn được
xuất bản công khai tại Việt Nam và những các ấn phẩm vẫn được lưu giữ tại
Thư viện Quốc gia.
4. Về Tạ Duy Anh và các tác phẩm Bước qua lời nguyền (1989), Lão Khổ
(1992), Đi tìm nhân vật (2002): Nếu như nói Cải cách ruộng đất là một đề tài
quan trọng của văn học “vết thương” Việt Nam thì có thể nói rằng, Tạ Duy Anh
là nhà văn bị ám ảnh bởi đề tài này. Từ truyện ngắn Bước qua lời nguyền (1989)
cho tới các tiểu thuyết Lão Khổ và đặc biệt Đi tìm nhân vật, Tạ Duy Anh dường
như vẫn không thoát ra được sự ám ảnh đó. Cũng có lẽ vì thế, Tạ Duy Anh hiện
vẫn là cái tên khá nóng đối với giới phê bình và nghiên cứu văn chương. Vào
năm 2007, Nhà xuất bản Hội Nhà văn cho ấn hành cuốn Thế giới nghệ thuật Tạ
Duy Anh. Đây là cuốn sách này được tổng hợp từ ba luận văn thạc sĩ: Tạ Duy
Anh và việc làm mới nghệ thuật tiểu thuyết của Nguyễn Thị Hồng Giang, Thế
giới nhân vật trong sáng tác Tạ Duy Anh của Vũ Lê Lan Hương và Quan niệm
17


Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới


Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới

trình này, bằng nhiều cách khác nhau, đã đề cập tới nhiều khía cạnh trong tiểu
thuyết của Lê Lựu, từ nghệ thuật trần thuật, thế giới nhân vật và đặc biệt là cảm
hứng bi kịch trong các sáng tác của ông.
6. Về Ba người khác (2006) của Tô Hoài và Nước mắt một thời của Nguyễn
Khoa Đăng: Ngay từ khi ra mắt vào năm 2006, Ba người khác của Tô Hoài đã
nhận được sự quan tâm của không ít độc giả cũng như giới phê bình. Hội Nhà
văn đã phải tổ chức một buổi tọa đàm về tác phẩm của nhà văn “lão trượng” Tô
Hoài ngay sau khi tác phẩm được xuất bản không lâu. Sự quan tâm đặc biệt mà
giới phê bình cũng như độc giả dành cho Ba người khác chủ yếu là “sự dũng
cảm” của Tô Hoài khi đề cập đến Cách mạng ruộng đất, một đề tài mà lâu nay
nhiều nhà văn vẫn e ngại và né tránh, trong tác phẩm của ông. Phát biểu tại buổi
tọa đàm do Hội Nhà văn tổ chức, Bằng Việt, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học
nghệ thuật Hà Nội đã nói: “Những tác phẩm như Ba người khác có ý nghĩa rất
lớn: Nhìn lại một cách sòng phẳng những sai lầm của chúng ta trong quá khứ.
Không chỉ Cải cách ruộng đất, mà hợp tác hoá nông nghiệp, rồi cải tạo công
thương nghiệp tư bản tư doanh. Những cái ấy làm kéo lùi sức sản xuất. Và thậm
chí khiến người ta phải nghi ngờ: không biết "đổi mới" bây giờ có thật sự hay
không, hay là sau một thời gian lại "đánh" tư sản? Phải dũng cảm nhìn lại sai
lầm mới rút ra được bài học cho hiện tại và tương lai”. Cũng theo cách đó Nước
mắt một thời của Nguyễn Khoa Đăng tạo được sự chú ý của dư luận chủ yếu là
vì nội dung khá “sốc” của tác phẩm chứ không phải vì sự thu hút của cách kể
chuyện. Tuy nhiên, việc Ba người khác của Tô Hoài và Nước mắt một thời của
Nguyễn Khoa Đăng đề cập một cách trực tiếp đến đề tài cải cách ruộng đất và
sự chú ý mà dư luận dành cho hai tác phẩm này khiến chúng trở thành những
tác phẩm không thể không nhắc tới của bộ phận văn học “vết thương” ở Việt
Nam.

19

20


Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới

của bộ phận văn học này đối với sự phát triển của văn chương Việt Nam đương
đại, đồng thời tìm ra điểm khác biệt về mặt hình thức nghệ thuật giữa Văn học
“vết thương” ở Việt Nam và Văn học vết thương ở Trung Quốc.
3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở của việc xác định đề tài, phân tích lịch sử nghiên cứu và nhiệm vụ
nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn sẽ bao gồm toàn bộ các tác phẩm
văn xuôi lấy những “vết thương” của những biến cố trong lịch sử Việt Nam
trong thế kỷ XX làm đề tài. Đó là “vết thương” do chiến tranh, “vết thương” của
cuộc cải các ruộng đất, của cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, hợp tác
hóa nông nghiệp, chính sách bao cấp,… những “vết thương” của quá khứ lịch
sử để lại cho nhiều thế hệ người Việt Nam cho tới ngày nay. Những tác phẩm
thuộc bộ phận văn học “vết thương” sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể trong
chương I của luận văn này.
Các đặc trưng của một bộ phận văn học đương nhiên thể hiện rõ nhất trong
những tác phẩm tiêu biểu và điển hình. Theo cách quan niệm đó, trong luận văn
của mình, chúng tôi sẽ tập trung khảo sát những tác phẩm mà chúng tôi cho là
mang tính điển hình của bộ phận văn học “vết thương” ở Việt Nam sau đây:
1. Cỏ lau: Tập truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu do Nhà xuất bản Văn học
ấn hành, bản in năm 1989. Tập truyện ngắn bao gồm 3 truyện: Mùa trái cóc ở
Miền nam, Cỏ lau và Phiên chợ Giát. Nguyễn Minh Châu được coi là nhà văn
đi tiên phong cho sự đổi mới văn học Việt Nam kể từ 1986. Ở những tác phẩm
cuối đời của ông người ta thấy những mầm mống đầu tiên của sự đổi mới trong
văn học, đặc biệt là trong truyện ngắn và tiểu thuyết. Do vậy, chúng tôi coi
những truyện ngắn trong tập Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu là những tác phẩm
mang dấu hiệu cho sự ra đời của bộ phận văn học “vết thương” sau Đổi mới

22


Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới

4. Phương pháp nghiên cứu
Trước một đối tượng là một hiện tượng văn học còn khá xa lạ đối với lý luận
văn học cũng như văn học sử, việc đặt ra mục tiêu khái quát được những nét
bản chất về diện mạo cũng như đặc trưng về mặt mỹ học của văn học “vết
thương” luận văn đòi hỏi sự vận dụng mang tổng hợp nhiều phương pháp.
Trong luận văn của mình, chúng tôi chủ yếu vận dụng ba phương pháp chính là:
Phương pháp hệ thống, phương pháp mỹ học và phương pháp so sánh. Phương
pháp mỹ học là phương pháp quan trọng nhất trong việc cung cấp những tiền đề
lý luận giúp chúng tôi rút ra những nhận định khái quát về những đặc trưng
thẩm mỹ của bộ phận văn học “vết thương” Việt Nam. Phương pháp so sánh
được sử dụng như một nhu cầu tất yếu để đáp ứng mục tiêu so sánh sự giống và
khác nhau giữa bộ phận văn học “vết thương” ở Việt Nam với dòng Văn học vết
thương ở Trung Quốc. Phương pháp hệ thống được vận dụng như một phương
pháp tối ưu để khảo sát về một bộ phận văn học độc lập như văn học “vết
thương”. Việc đặt bộ phận văn học này trong dòng chảy chung của những sáng
tác về đề tài lịch sử cũng như văn học đương đại theo cái nhìn của phương pháp
hệ thống sẽ cho chúng ta có một cái nhìn toàn diện và bao quát hơn về vị trí và
vai trò của nó.
Ngoài các phương pháp nêu trên chúng tôi cũng sử dụng những thao tác mang
tính bổ trợ như thao tác thống kê, phân tích, tổng hợp, thao tác so sánh đối
chiếu,…
5. Cấu trúc luận văn
Từ nhiệm vụ đã được nêu ở trên, luận văn của chúng tôi sẽ được triển khai theo
ba chương như sau:
Chương 1: Văn học “vết thương” ở Trung Quốc và Việt Nam – Một so

sản, thường gọi tắt là Đại Cách mạng văn hóa. Trong bản Thông cáo 16/5 được
thông qua sau Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng của Đảng Cộng sản Trung Quốc
24


Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới

ngày 16 tháng 5 năm 1966, viện ra lý do rằng, “một số lớn nhân vật đại biểu của
giai cấp tư sản, phần tử xét lại phản cách mạng đã chui vào trong đảng, nhà
nước, quân đội” và “quyền lãnh đạo của một số lớn các đơn vị đã không còn
trong tay những người theo chủ nghĩa Mác-Lênin và quần chúng nhân dân”;
“Phái đương quyền theo con đường tư bản chủ nghĩa trong đảng đã hợp thành
bộ tư lệnh của giai cấp tư sản, chúng có mặt ở tất cả các ngành các cấp từ trung
ương đến địa phương” và “các cuộc đấu tranh trước đây không giải quyết được
vấn đề này”, Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chỉ có thể tiến hành một cuộc Đại
cách mạng văn hóa vô sản công khai, toàn diện, làm từ dưới lên trên, phát động
quần chúng nhân dân bóc trần bộ mặt đen tối của chúng, mới có thể giành lại
được quyền lực bị mất do phái đi con đường tư bản chủ nghĩa tước đoạt” [66].
Trong suốt 10 năm sau đó, dưới danh nghĩa của cách mạng, Đại Cách mạng văn
hóa do Mao Trạch Đông khởi xướng đã bức tử, đày đọa hàng triệu trí thức,
thanh niên, đẩy họ về nông thôn, sống một cuộc sống khổ ải để “phục hồi lại
tinh thần cách mạng”. Bên cạnh sự bần cùng hóa về vật chất, Đại Cách mạng
văn hóa còn là một sự bức hại về tinh thần khi tất cả những giá trị về văn hóa,
những quan niệm xã hội, chính trị và đạo đức gần như bị đảo lộn toàn bộ. “Các
tiệm sách phải đóng cửa hết. Trong 6 năm liền không in tập sách nào cả, trừ tập
Sách đỏ của Mao và ít cuốn về kỹ thuật… Trong các thư viện, người đọc sách
chỉ được mượn những tác phẩm ngoại quốc đã được lựa chọn kỹ: Balzac,
Dickens, Zola “những tác giả chứng nhân của thời đại mục nát, tan rã của giai
cấp tiểu tư sản”. Người ta duyệt lại các giá trị văn hoá cũ của nhân loại:
Shakespeare, Mozart, Bethoveen, Bach bị đả kích; ngay Tolstoi, Hugo trước kia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status