ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______***________
BÙI THỊ HỢI
VĂN XUÔI TỰ SỰ CỦA BẢO NINH
TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI VIỆT NAM
THỜI KỲ ĐỔI MỚI TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Luận văn được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn thạc sỹ tại
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Vào lúc 11h30', ngày 04 tháng 01 năm 2012
Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm thư viện Quốc gia Hà Nội
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi
134
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 3
3.PHẠM VI NGHIÊN CỨU 10
2.1.1. Hình tượng người lính khiếm khuyết 56
2.1.2. Hình tượng người phụ nữ 58
2.1.3. Hình tượng người trí thức, người nghệ sĩ 65
2.3. Những suy tư mới mẻ về hiện thực 70
2.3.1. Chiến tranh được nhìn từ góc độ nỗi buồn 70
2.3.2. Số phận của con người trong lịch sử 76
2.3.3. Ước mơ về hòa bình, hòa giải dân tộc 80
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐỔI MỚI NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC TỰ
SỰ CỦA BẢO NINH 83
3.1. Đổi mới về kết cấu 83
3.1.1. Khái niệm kết cấu 83
3.1.2. Kết cấu dòng ý thức trong Nỗi buồn chiến tranh và những truyện
ngắn đặc sắc 84
3.2. Đổi mới về giọng điệu 97
3.2.1. Giọng điệu trần thuật 97
3.2.2. Giọng ngậm ngùi buồn thương 99
3.2.3. Giọng mỉa mai chua xót 106
3.2.4. Giọng tra vấn 110
3.3. Đổi mới về phân tích tâm lý trong Nỗi buồn chiến tranh và một số truyện
ngắn đặc sắc 112
KẾT LUẬN 121
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi
1
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi
2
điều này chúng ta đều bắt gặp trên những trang viết của các nhà văn. Họ trăn trở tìm
hướng đi mới cho con thuyền văn chương của mình. Có người lặng lẽ đối chứng lại
với những quan niệm sơ lược hoặc phiến diện một thời về thế sự, để từ đó nhằm đấu
tranh cho sự hoàn thiện của mỗi con người trong thời đại mới như Nguyễn Minh
Châu. Có người suy ngẫm về quá khứ để nắm bắt nhịp thở hiện tại như Dương Thu
Hương. Có người tìm đề tài trong những cái bộn bề phức tạp của hiện thực cuộc
sống, đối thoại cùng người đọc để tìm ra biện pháp tháo gỡ như Nguyễn Khải,
Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Huy Thiệp Và cùng chung
dòng chảy ấy ta bắt gặp Bảo Ninh - một trong những cây bút đã góp phần không
nhỏ vào sự thay đổi nhanh chóng bộ mặt nền văn học Việt Nam từ sau 1975. Có thể
không nói quá rằng ông là người viết về chiến tranh, viết về những năm tháng chiến
đấu của người lính, về kẻ thù bên kia chiến tuyến, về những khó khăn của cuộc sống
thời kỳ đất nước chia cắt và viết về những khó khăn của cuộc sống thời hậu chiến
môt cách sâu sắc nhất, cảm động nhất, để lại nhiều ấn tượng nhất trong lòng người
đọc. Những điều ông viết có thể xem như là một sự tri ân cho những cuộc đời mà
tuổi trẻ của họ kinh qua dấu ấn thời đại của dân tộc, dấu ấn mà sau này dù có nỗi
khổ nào của ngày hôm nay cũng không sánh bằng những nỗi đau khổ đã trải qua và
trái lại mai đây dù được sống sung sướng tới thế nào cũng chẳng hạnh phúc nào
bằng hạnh phúc ngày đã qua.
Nhắc đến Bảo Ninh người ta nhớ ngay đến Nỗi buồn chiến tranh - giải
thưởng Hội nhà văn năm 1991. Những năm gần đây có rất nhiều báo cáo khoa học,
luận văn thạc sỹ, cũng như những luận văn tốt nghiệp viết về tác phẩm nổi tiếng
này. Tuy vậy, Bảo Ninh không chỉ có một tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, mà ông
còn sáng tác truyện ngắn và trong đó có những truyện cự kỳ đặc sắc như: Mùa khô
cuối cùng, Lá thư từ Quí Sửu, Hà Nội lúc không giờ, Rửa tay gác kiếm, Thời tiết
của kí ức, Khắc dấu mạn thuyền, Vô cùng xưa cũ, Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng,
Lã Nhâm Thìn chủ biên, 2006, NXB GD, Hà Nội); 50 năm văn học Việt Nam sau
cách mạng tháng Tám do Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường viết văn Nguyễn Du –
Tạp chí văn nghệ Quân đội tổ chức (1996), Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỉ XX của
Viện Văn học (2002), Văn học Việt Nam thế kỉ XX (Phan Cự Đệ chủ biên, 2005),
v.v. đã có những đánh giá tổng kết về bức tranh chung của văn học Việt Nam thời
kỳ đổi mới. Công trình tập thể Văn học Việt Nam thế kỉ XX – những vấn đề lịch sử
và lí luận (2005) của các nhà giáo, nhà nghiên cứu khoa học như Phan Cự Đệ, Trần
Đình Sử, Mã Giang Lân, v.v. đã tổng kết văn học Việt Nam thế kỉ XX dưới ánh
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi
4
sáng của loại hình học, thi pháp học và văn học so sánh. Đặc biệt, trong quá trình
nghiên cứu chúng tôi kế thừa và vận dụng khung lí thuyết từ công trình của TS.
Phạm Xuân Thạch Sự hình thành hệ thống thể loại tự sự nghệ thuật trong tiến trình
hiện đại hoá văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX (2008). Đây là công trình
chuyên sâu tìm hiểu về thể loại tự sự, thông qua việc ứng dụng lý thuyết thi pháp
học, trần thuật học, luận án đã đưa ra nhiều kiến giải sắc sảo về bức tranh vận động
của thể loại tự sự. Trên cơ sở đó, luận án đã xây dựng một khung lý thuyết khả dĩ có
thể mô tả được bản chất và sự vận động của đối tượng từ vấn đề người kể chuyện,
ngôi kể, điểm nhìn, miêu tả, phân tích nhân vật đến các vấn đề thời gian, giọng điệu.
Đây là công cụ nghiên cứu quan trọng giúp chúng tôi thấy được những cách tân mới
mẻ về hình thức thể loại cũng như nội dung trong sáng tác của Bảo Ninh.
Ngoài các công trình nghiên cứu về lí luận thể loại nói chung là tập hợp
nhiều các công trình, các sách chuyên khảo, chuyên luận, v.v. về tiểu thuyết Việt
Nam nói riêng như: công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của GS. Phan Cự Đệ
là công trình dày dặn chuyên biệt về vấn đề lí luận thể loại tiểu thuyết. Với công
trình này, người viết đã có một sự tổng quát toàn diện về quá trình hình thành, phát
triển của văn học Việt nam hiện đại trên cơ sở các khuynh hướng tiểu thuyết, vấn đề
điển hình hoá, vấn đề thể loại, lao động của người cầm bút trong tiểu thuyết. Trên
Nam từ tháng Tám – 1945 đã cho thấy một sự thay đổi đa dạng của văn xuôi, tiểu
thuyết thời kỳ Đổi mới. Trong bài viết Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời
kỳ đổi mới và Tiểu thuyết Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa văn học nửa đầu
thế kỷ, PGS.TS. Bích Thu chỉ rõ thực tế tiểu thuyết Việt Nam đang vận động và sẽ
tiếp tục vận động. Bài viết Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 – một cái nhìn khái quát
của PGS.TS. Nguyễn Thị Bình lại nhấn mạnh nhu cầu thay đổi tư duy nghệ thuật
của người viết trong một cái nhìn tổng quát về tiểu thuyết Đổi mới.
- Hướng tiếp cận thứ hai: các bài viết đi sâu vào việc phân tích sự phát triển
các khuynh hướng tiểu thuyết, những đặc điểm nghệ thuật trong hình thức và nội
dung cũng như các yếu tố mang tính thẩm mỹ thể loại nói chung. PGS.TS. Nguyễn
Ngọc Thiện quan tâm đến “tiểu thuyết hướng nội” trong văn xuôi Việt Nam hiện
đại: khai thác và khám phá chiều sâu tâm hồn con người với tất cả sự phong phú và
phức tạp. Thông qua việc tìm hiểu sự vận động của văn học đương đại từ phương
diện thể loại, PGS. Vũ Tuấn Anh đã cho thấy một xu hướng thay đổi trong thể loại
tiểu thuyết từ khuynh hướng sử thi sang khuynh hướng đời tư, số phận. Trên tạp chí
nghiên cứu văn học số 11 – 2006, các tác giả Mai Hương, Bùi Thanh Truyền đã có
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi
6
những ý kiến xác đáng về tiểu thuyết đương đại. Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo
một số bài viết của các tác giả Đặng Anh Đào, Lưu Liên, Phạm Xuân Nguyên, Ma
Văn Kháng có đề cập tới những khía cạnh về lí luận thể loại như Tính chất hiện
đại của tiểu thuyết, Nguồn gốc và tiền đề của tiểu thuyết, Tiểu thuyết - một thể loại
năng động đầy triển vọng, "Sự vận động trong con người" ở tiểu thuyết sử thi hiện
đại Bên cạnh đó, một bộ phận các tác phẩm dịch về lí luận thể loại đã có tác động
quan trọng đối với công tác nghiên cứu văn học Việt Nam thời gian qua. Tiêu biểu:
công trình của Bakhtin Lí luận và thi pháp tiểu thuyết do Phạm Vĩnh Cư dịch và
Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki do Trần Đình Sử dịch đã khảo cứu thi pháp tiểu
thuyết trên cơ sở xây dựng lí thuyết chung về thể loại; cuốn tiểu luận Nghệ thuật
nghiên cứu phê bình ghi nhận. Tiêu biểu là 3 bài viết của Nguyễn Minh Châu tập
hợp trong cuốn Trang giấy trước đèn, in lần đầu 1993, tái bản 2002: Đôi điều về
truyện ngắn, Nghĩ về truyện ngắn, Nói về truyện ngắn của mình có bàn luận trực
tiếp về truyện ngắn. Gần đây nhất là cuốn chuyên luận của tác giả Lê Huy Bắc:
Truyện ngắn: lí luận, tác gia và tác phẩm (tập một, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004).
Tác giả cuốn sách bày tỏ mong muốn từ việc tìm hiểu lí luận và thành tựu truyện
ngắn thế giới và Việt Nam để “hình thành một hệ thống lí luận về truyện ngắn nói
chung, truyện ngắn của từng giai đoạn và của từng tác giả…”. Đây là những cơ sở
khoa học quan trọng giúp chúng tôi tiến hành nghiên cứu mảng truyện ngắn của
Bảo Ninh.
Như vậy, trong những công trình trên, dưới những mức độ khác nhau, vấn đề
lí luận thể loại đã được đề cập một cách cụ thể ở nhiều phương diện. Các nhà
nghiên cứu - phê bình đã tiếp nhận nhiều lí thuyết nghiên cứu hiện đại, nổi bật là
hướng nghiên cứu theo thi pháp học, tự sự học mà cụ thể là vận dụng tư tưởng của
M.Bakhtin. Những vấn đề lý thuyết thể loại từ các công trình nghiên cứu trên là cơ
sở khoa học quý báu để chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu.
2.2. Bảo Ninh được văn đàn biết đến sau truyện ngắn Trại bảy chú lùn in năm
1987, nhưng chỉ thực sự tạo ra làn sóng phê bình khen chê với tác phẩm Nỗi buồn
chiến tranh - Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 1991. Từ khi ra mắt độc giả Nỗi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh đã trở thành một “hiện tượng có vấn đề” của văn
học nước nhà. Cuốn tiểu thuyết ngay sau khi xuất bản (với tên gọi Thân phận tình
yêu do Hội Nhà văn in) đã trở thành tâm điểm của cuộc thảo luận do tuần báo Văn
nghệ tổ chức. Trong cuộc thảo luận ban tổ chức có đưa ra nhận định: “Đây là một
trong số ít tác phẩm được dư luận bạn đọc hết sức chú ý và đã gây ra nhiều luồng ý
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi
8
kiến nhận xét khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Âu đó cũng là lẽ thường tình và
là điều đáng mừng với một tác phẩm văn học” .
9
phê phán không kém phần quyết liệt của Trần Duy Châu trên tạp chí Cộng Sản số
10/1994 đã cho rằng: “Tác giả đã không thể lập luận được đã cố ý sử dụng những
yếu tố tâm thần không bình thường để được “ miễn truy cứu trách nhiệm” trước tòa
án lương tâm của thời đại, đây là “bài ai điếu của kẻ lạc loài xúc phạm những
người đang sống”. Về nghệ thuật của tiểu thuyết thì ông cho là : “Thuần túy là kỹ
thuật - một sự khéo tay nếu có”. Đã có rất nhiều ý kiến không đồng tình với ý kiến
nhận xét của Trần Duy Châu
Sau đó là một khoảng thời gian dài tác phẩm bị lãng quên, vắng bóng trong
các công trình nghiên cứu, các tác phẩm phê bình và các chuyên luận về văn học
Việt Nam thời kỳ đổi mới. Mãi đến năm 2003, cuốn sách của Bảo Ninh lặng lẽ
được tái bản và xuất hiện trong đời sống văn học Việt Nam với tiêu đề Nỗi buồn
chiến tranh (NXB Hội Nhà văn) và Thân phận tình yêu (NXN Hội phụ nữ). Trong
những bài viết đánh giá về tác phẩm trong những năm gần đây đáng chú ý phải kể
đến bài viết của TS. Phạm Xuân Thạch với nhan đề Nỗi buồn chiến tranh viết về
chiến tranh thời hậu chiến - từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp
đăng trong cuốn Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
do Nguyễn Văn Long - Lã Nhâm Thìn chủ biên - NXB GD - 2006. Bài viết đã đưa
ra những lí giải sâu sắc về những cách tân trong cấu trúc tác phẩm, đổi mới về đề
tài, đổi mới về xây dựng nhân vật từ đó đưa tác giả đưa ra một đề nghị một cách
đọc mới – “đọc sâu”, “đọc liên văn bản” để có thể chạm đến mọi tầng nghĩa của tác
phẩm. Sau đó là các bài viết: Phép lặng với việc đổi mới một số nét về nghệ thuật
trong Thân phận của tình yêu - Báo cáo khoa học năm 2004 của Nguyễn Ngọc
Bích, Kết cấu không gian trong Thân Phận của tình yêu - Báo cáo khoa học năm
2002 của Khương Thị Thu Cúc, Nghệ thuật trần thuật của Bảo Ninh qua thân phận
của tình yêu - Báo cáo khoa học năm 2001 của Đỗ Văn Hiểu. Từ đại học Paris TS.
Đoàn Cầm Thi có bài viết “Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam
đương đại”. Trên các website chính thức của Bộ Thông tin và Truyền thông cũng
đăng tải nhiều bài viết về tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh cũng như những bài phỏng
Để đạt được mục đích nghiên cứu của mình chúng tôi sử dụng chủ yếu các
phương pháp sau:
4.1. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vấn đề vị trí của một tác giả trong một
giai đoạn văn học có liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học như văn học sử, lý luận
văn học, ngôn ngữ học. Chúng tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu của các
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi
11
ngành khoa học liên quan để hỗ trợ và làm sáng tỏ các khía cạnh của vấn đề nghiên
cứu.
4.2. Trên cơ sở của đề tài đặt ra và tiếp thu những lí thuyết nghiên cứu văn học hiện
đại một cách tích cực, luận văn sử dụng phương pháp luận: Phương pháp thi pháp
học kết hợp lí thuyết tự sự học được chúng tôi sử dụng như một phương pháp nòng
cốt của luận văn nhằm thể hiện cụ thể và nổi bật được những giá trị về mặt thẩm mỹ
trong sáng tác của Bảo Ninh cũng như các sáng tác và khuynh hướng văn học thời kì
Đổi mới. Ngoài ra, trong quá trình tiến hành đề tài nghiên cứu, luận văn của chúng tôi
còn phối kết hợp các thao tác phân tích, so sánh, tổng hợp, v.v. cũng như vận dụng
một số nghiên cứu của lịch sử văn học (sưu tầm, thống kê tư liệu về tác giả, sự nghiệp
sáng tác…).
5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận luận văn có cấu trúc như sau:
Chương1: Bảo Ninh trong đời sống văn học đương đại
Chương 2: Sáng tác của Bảo Ninh – Một cái nhìn mới về hiện thực
Chương 3: Những đổi mới nghệ thuật trong sáng tác tự sự của Bảo Ninh
đấu trở thành chuẩn mực đo đếm các giá trị. Nhân dân Việt Nam phải hi sinh hạnh
phúc cá nhân vì lợi ích của giai cấp và dân tộc.
Sau 1975 nhất là từ những năm 80 trở đi, dân chủ hóa là xu thế lớn của xã
hội. Nó cũng trở thành xu hướng vận động bao trùm của nền văn học. Đặc biệt là
sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nhu cầu đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật đã tạo
cơ sở cho xu hướng dân chủ hóa trong văn học được khơi dòng và phát triển mạnh
mẽ. Dân chủ hóa đã thấm sâu và được thể hiện ở nhiều cấp độ và bình diện của đời
sống văn học, nhưng bao quát ta vẫn có thể nhận thấy một khuynh hướng vận động
bao trùm chi phối một cách sâu sắc mọi mặt của nền văn học từ tư tưởng, cảm hứng
chủ đạo đến các phương thức nghệ thuật, đó là xu hướng văn học vận động theo
hướng dân chủ hóa, tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân.
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi
13
1.1.2. Những đổi mới của văn xuôi từ sau 1975
Quan sát sự vận động của văn học Việt Nam từ sau 1975, chúng ta dễ dàng
nhận thấy lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật có sự biến đổi thật sự mạnh mẽ và sâu sắc.
Nhìn trên những nét lớn có thể thấy tập trung ở những phương diện sau: mở rộng
quan niệm về hiện thực đi liền với đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, đổi
mới nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu.
Giai đoạn 1945 – 1975 với nguyên lý “văn học phản ánh hiện thực” và yêu
cầu quán triệt lí luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học trở nên gắn
bó với đời sống xã hội hơn, theo sát từng biến cố lịch sử, từng bước phát triển của
phong trào cách mạng. Tính hiện thực được đồng nhất với quan niệm lí tưởng về
hiện thực. Hiện thực được lựa chọn là hiện thực chính trị rộng lớn, là những đề tài
lớn như công – nông – binh, là đời sống cách mạng ở những nơi mũi nhọn, là cuộc
sống mới và con người mới.
khám phá, tìm tòi. Nhà văn lựa chọn hiện thực nào không quan trọng bằng cách
đánh giá của ông ta về hiện thực ấy.
Văn xuôi thời kỳ đổi mới đã đem lại nhiều biến đổi trong nghệ thuật trần
thuật. Văn xuôi từ bỏ sự áp đặt một quan điểm (quan điểm của cộng đồng) được cho
là đúng đắn nhất. Ngày nay, người viết có thể đưa ra nhiều quan điểm khác nhau,
chính kiến khác nhau. Để làm được điều đó, cách tốt nhất là chuyển dịch điểm nhìn
vào nhiều nhân vật để mỗi nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của mình
và để cho các ý thức cùng có quyền phát ngôn, cùng đối thoại. Sự thay đổi vai kể,
cách đưa truyện lồng trong truyện, sự đảo ngược và xen kẽ các tình tiết, sự việc
không theo một trật tự thời gian duy nhất, tất cả những thủ pháp ấy đều nhằm tạo ra
được hiệu quả nghệ thuật mới. Trong sự đa dạng về phương thức trần thuật, nhiều
nhà văn, nhà báo, một người chứng kiến, quan sát kể lại câu chuyện về người khác
hoặc kể về chính mình, Nguyễn Khải lại cách tân nghệ thuật trần thuật bằng cách tổ
chức kiểu cấu trúc đối thoại có sự tham gia của nhiều ý thức độc lập qua hệ thống
hình tượng cụ thể (Cha và con và , Khoảnh khắc đang sống, Gặp gỡ cuối năm). Ở
Cha và con và , tuy lập trường của tác giả vẫn chi phối nhân vật, nghĩa là nhân vật
không được nói “tiếng cuối cùng” về mình, nhưng nhiều người đã nhận ra đây là
cuộc “đối thoại giữa lí tưởng tôn giáo và chủ nghĩa xã hội” (Lại Nguyên Ân). Sự lựa
chọn cách sống, quan điểm về đời sống giữa các nhân vật cha già quản hạt, ông thầy
xuất, cha Hòe, cha Thư, v v., ít nhiều cho thấy giá trị của kinh nghiệm cá nhân, tính
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi
15
độc lập về tư tưởng của nhân vật. Gặp gỡ cuối năm chưa phải là phức điệu nhưng
cuộc đối thoại quanh bàn tiệc tất niên của ngót chục con người, “bảo hoàng” có, cấp
tiến có, cộng sản có, chống cộng sản có, thiền có, khoa học có, phần nào đã mang
tính đa thanh và người dẫn chuyện đã không còn đứng cao hơn nhân vật nữa. Sau
này với Nguyễn Trí Huân (Chim én bay), Ma Văn Kháng (Đám cưới không có giấy
giá thú), Nguyễn Minh Châu (Chiếc thuyền ngoài xa, Phiên chợ Giát), Nguyễn
của Kiên không ngừng bị các nhân vật khác phán xét và chính anh cũng tự phán xét.
Bên cạnh Kiên, Phương hay Can hay Sơn – người yêu và những đồng đội của anh
đều là những bản ngã riêng biệt. Ngay cả các nhân vật phụ của tác phẩm (mẹ Kiên,
cha Kên, bố dượng Kiên, người hàng xóm, v v) cũng xuất hiện trong ý thức đối
thoại. Ở Nguyễn Huy Thiệp, vai trò chủ động về tư tưởng của mỗi nhân vật lại
khiến cho tác phẩm luôn là một cấu trúc đa tầng, đa nghĩa, người đọc không thể dễ
dàng tìm được “câu phán” của nhà văn. Bản thân người kể chuyện cũng tỏ ra chẳng
mấy tin vào mình, có khi còn “đứng thấp hơn nhân vật” (Đặng Anh Đào), trong khi
đó mỗi nhân vật đòi quyền bình đẳng bằng “chân lí” và “lẽ phải” riêng của nó. Tính
phức điệu này cùng với một bút pháp biến hóa có thể dao động từ giới hạn của cái
lung linh huyền ảo đến giới hạn của cái nghiệt ngã, trần trụi, từ “mơ mộng” đến
“khắc nghiệt”, khiến cho người đọc phải giật mình xem lại kinh nghiệm nghệ thuật
của mình. Đọc Nguyễn Huy Thiệp nhiều người đã không giấu được niềm thán phục
trước một ngòi bút đầy biến hóa, “tiền văn” không đoán được “hậu văn”. Mỗi chi
tiết đều là “điểm rơi” của tư tưởng, chi tiết nào cũng đầy sức gợi và có khả năng
kích thích đối thoại rất mạnh.
Trong thời kỳ chiến tranh và cách mạng, văn học nhìn con người chủ yếu ở
tư cách con người công dân, con người dân tộc, giai cấp. Điều đó là phù hợp và cần
thiết. Nhưng cũng vì thế mà các bình diện khác, những tư cách khác của con người
thường bị văn học bỏ qua, hoặc nếu có quan tâm thì cũng phải được nhìn nhận theo
hệ quy chiếu của các giá trị cộng đồng, thống nhất với phần căn bản (con người dân
tộc, con người giai cấp). Văn xuôi hôm nay đã tiếp cận con người ở nhiều tư cách,
vị thế và trên nhiều bình diện. Nó đặc biệt quan tâm đến con người như một cá thể,
một thực thể sống, trong đó chứa đựng cả phần nhân loại phổ quát. Từ nhận thức và
quan niệm mới về con người, tất sẽ dẫn tới những đổi thay trong thế giới nhân vật
của văn xuôi.
Trong văn xuôi trước 1975, các nhân vật được nhận diện trước hết theo lập
trường dân tộc và cách mạng, bởi thế dễ dàng xếp họ vào loại chính diện hay phản
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi
quá nửa đời người mà vẫn không học được cách hiểu con người, dù người đó là
những thân yêu nhất, như Chính (Một cõi nhân gian bé tí) dù là một vị thẩm phán
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi
18
“có cỡ” nhưng “không hiểu được cái thế giới kì quặc của người già và cũng chẳng
hiểu bao nhiêu cái thế giới luôn luôn biến động của đám trẻ”. Không phải Chính
thiếu hiểu biết mà vì con người quá phức tạp, rắc rối. Chính đã thấy Định luôn sống
trong trạng thái phân thân “ban ngày sống theo cách mình đã chọn nhưng ban đêm
lại phải sống với cách thượng đế đã chọn”, đã biết ông Vũ than thở: “ chả ai hiểu
tôi và tôi cũng không thật hiểu ai”. Theo đuổi những con người “có số phận không
bình thường”, Nguyễn Khải đi đến triết lí: “Vẫn là con người Việt Nam mình mà
gặp thêm một người lại tuồng như buộc mình phải hiểu lại chút ít về con người”
(Hai ông già ở Đồng Tháp Mười). Còn Nguyễn Minh Châu từ tập truyện ngắn
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành trở đi dường như liên tục làm những thử
nghiệm, “đối chứng” về “tính chất kì lạ của con người”. Hạnh, Cơn giông, Sắm vai,
Chiếc thuyền ngoài xa, Dấu vết nghề nghiệp, Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam,v v,
đều ít nhiều diễn tả cái phức tạp của đời sống, những giằng xé nội tâm khiến con
người nhiều lúc bị phân thân, biến dạng.
Khi tư duy tiểu thuyết mạnh lên, thay thế tư duy sử thi thì ngôn ngữ văn xuôi
cũng biến đổi theo hướng đó. Khi văn xuôi tiếp cận đời sống ở cự li gần chứ không
phải qua một “khoảng cách sử thi tuyệt đối” (M.Bakhơtin), tiếp cận với thái độ thân
mật suồng sã chứ không phải thái độ tôn kính, thì lệ lời cũng phải thay đổi, từ thứ
ngôn ngữ trang trọng, chuẩn mực, chuyển sang thứ ngôn ngữ đời thường, đậm tính
khẩu ngữ, thông tục. Chưa bao giờ ngôn ngữ văn chương gần với ngôn ngữ sinh
hoạt – thế sự đến thế. Chưa bao giờ trong văn chương (kể cả thơ, kịch, phim) những
câu chửi thề, chửi tục, lối nói trần trụi, bụi bặm, dân dã xuất hiện nhiều đến thế.
Không chỉ Nguyễn Huy Thiệp mà cả Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh, Lại Văn
Long, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, Chu Lai, v.v. Các nhà văn nữ cũng mạnh dạn thể
thể nhận thấy “một hiện tượng có tính chất phổ quát: quá trình cá nhân hóa hư cấu”
[83]. Ở đây, nhà văn không chịu sự chi phối và lệ thuộc từ các quan niệm của cộng
đồng mà hoàn toàn đưa ý kiến chủ quan của mình vào trung tâm các sáng tác tự sự.
Trên tinh thần của kịch bản Hội thề đoạt giải A trong Cuộc thi sáng tác kịch bản
phim truyện lịch sử Thăng Long, nhà văn Nguyễn Quang Thân đã viết tiểu thuyết
Hội thề suốt gần bốn năm trời (từ 9 – 2004 đến 3 – 2008). Hội thề đã cho thấy một
cách nhìn, cách quan niệm lịch sử của nhà văn. Nguyễn Trãi được Nguyễn Quang
Thân khắc họa như một điển hình của sỹ phu Bắc Hà, nho nhã trong từng lời ăn
tiếng nói. Trái lại, các tướng lĩnh Lam Sơn, qua sự tái hiện của nhà văn, là những
người mang đậm tính cách võ biền, ít học, thô lỗ. Cuốn tiểu thuyết vẻn vẹn 300
Văn xuôi tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Luận văn thạc sĩ Bùi Thị Hợi
20
trang thêm một lần nữa đem đến cho người đọc một cách hình dung về nhân vật lịch
sử đặc biệt là hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Với một sáng tác đầu
tay, tác giả Kiều Thanh Tùng đã chọn thể loại tiểu thuyết lịch sử làm “mảnh đất” để
thể hiện những suy nghĩ riêng của mình trong cách biểu hiện đề tài. Ở Sắc đẹp
khuynh thành, nhà văn chú trọng vào việc miêu tả một loạt các nhân vật lịch sử
trong thời điểm chuyển giao giữa hai triều đại Lý – Trần, đặc biệt là hình ảnh Trần
Thị Thu Ngừ (Trần Thị Dung). Nhân vật lịch sử hiện lên gần gũi với những chi tiết
đời thường hàng ngày, có tính đời tư như việc ăn uống, tắm giặt, v.v., với cách nói
năng mang khẩu ngữ dân giã của người bình thường. Trong xu hướng cách tân, đổi
mới tiểu thuyết lịch sử đương đại, đến với lịch sử bằng cái nhìn mang nặng dấu ấn
của sự hư cấu cá nhân như Sắc đẹp khuynh thành cũng là một hướng tiếp cận lịch
sử hết sức mới mẻ, ít nhiều tạo nên sự thích thú trong tâm lý tiếp nhận của bạn đọc
yêu văn học.
Sự thay đổi trong phương thức tiếp cận đề tài lịch sử của các nhà văn đương
đại đã dẫn tới một loạt những biến đổi trong cấu trúc tiểu thuyết. Ở các tác phẩm
tiểu thuyết lịch sử sáng tác theo khuynh hướng này, cốt truyện tiểu thuyết truyền
hoặc phản chiếu các sự kiện lịch sử qua số phận các nhân vật. Trong dòng chảy của
các sáng tác đương đại, tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác không
chú trọng tái dựng lại một thời kỳ đã qua mà nhằm luận giải một cách nhìn nhận
mới về hình tượng lịch sử. Xây dựng nhân vật người anh hùng áo vải Quang Trung
cùng những chiến công lừng lẫy cũng như khắc họa tâm tư nhân vật trong các mối
quan hệ vợ - chồng, anh – em, thầy – trò,v v, nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã nhận
diện lại bối cảnh lịch sử, những bước ngoặt của dân tộc vào cuối thế kỷ XVIII. Dấu
ấn của thời đại lịch sử có thể được tìm thấy trên số phận cá nhân lịch sử và thậm chí
ở những con người bình thường nhất. Đây là một điểm đặc sắc mà người đọc có thể
bắt gặp qua các sáng tác tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu thời kỳ này. Những thân phận
nhỏ bé như cô cung nữ Ngạn La trong tác phẩm Giàn thiêu hay một loạt các nhân
vật ở tầng lớp bình dân trong hai tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn của
nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã mang trên mình những “vết thương”, những “vết
khắc” từ chính những tranh chấp quyền lực chốn cấm cung cũng như các biến động
dữ dội của hoàn cảnh lịch sử.
Giống như nhiều khuynh hướng tiểu thuyết khác ở Việt Nam, từ khi ra đời
đến nay, tiểu thuyết lịch sử đã đi qua một chặng đường dài và có nhiều đóng góp
tích cực vào quá trình phát triển thể loại cũng như yêu cầu đổi mới tiểu thuyết ở thời