TIỂU LUẬN:
Một số giải pháp nhăm góp phần tăng
kim ngạch xuất khẩu gạo trong năm
2001 và một vài năm tới
Lời mở đầu
Sau một thời gian thực hiện chính sách đổi mới, Việt Nam đã tham gia trở lại
thị trường gạo thế giới với tư cách là một nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu trên
thế giới. Trong 11 năm qua (1990- 2000), Việt Nam đã xuất khẩu 28,83 triệu tấn
gạo đạt kim ngạch khoảng 6,0 tỷ USD. Tình hình sản xuất và kinh doanh lúa gạo
trên thế giới đang có những thách thức lớn, thị trường luôn bất ổn, sản lượng xuất
khẩu tăng giảm không đều, xu hướng cạnh tranh của các nước mới xuất khẩu ngày
càng ác liệt, thị trường nhập khẩu biến động không ngừng. Do đó, để đối phó với
với ngô và 4,1 đối với lúa mì. Trong các khẩu phần dinh dưỡng của các nước châu
á, kể cả Việt Nam, gạo đã cung cấp 40-80% lượng calo và đã cung cấp được ít
nhất là 40% lượng Protein , Protein của lúa gạo có giá trị dinh dưỡng cao vi tính
cân bằng của các amimôacid không thể thay thế (essentilaminoacids) và vì độ tiêu
hoá của protein này rất cao (có thể lên tới 100%).
Còn xét về mặt xã hội thì nghề trồng lúa và công nghệ sản xuất lúa gạo, kể cả
công nghệ sau thu hoạch, đã tạo công ăn việc làm cho một cộng đồng lớn nhất của
nhân dân trong vùng nông thôn trên hành tinh của chúng ta. Khoảng 80-100 triệu
người tằng thêm hàng năm yêu cầu được cung cấp lương thực, phần lớn lại ở
những nước kém phát triển và nghèo. Theo Tiến Sĩ Lampe, nguyên Tổng giám đốc
Viện lúa Quốc tế IRRI, trong 30 năm tới dự đoán mỗi năm sẽ cần khoảng 870 triệu
tấn thóc chưa xay tăng hơn hiện nay 70%.
2.2. vai trò của xuất khẩu gạo trong chiến lược xuất khẩu của đất nước.
Giống như bao loại hình xuất khẩu hàng hoá khác, ngoài những vai trò chung
của mình, xuất khẩu gạo có những vai trò riêng biệt của nó trong bối cảnh của nền
kinh tế nước ta hiện nay.
Kim ngạch xuất khẩu gạo hàng năm tăng đều trong những năm gần đây, điều
đó đưa tỷ trọng kim ngạch ngoại thương trong tổng sản phẩm quốc dân của mỗi
quốc gia ngày càng lớn, thể hiện mức độ mở cửa gia tăng của nền kinh tế mỗi
quốc gia ra thị trường thế giới. Tăng nhanh tỷ trọng gạo xuất khẩu chất lượng cao so với gạo thô, điều đó
minh chứng một điều là sản phẩm công nghiệp chế biến đạt tỷ trọng tăng cao, và
nó còn minh chứng cho chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước ta là đúng
đắn. Chiến lược “phát huy thế mạnh của đất nước” trong chiến lược xuất khẩu của
đất nước phù hợp với nhu cầu khách quan của thế giới.
II. Thực Trạng xuất khẩu gạo trong thời gian qua và dự báo về xuất
khẩu gạo trong những năm tới.
1.Thực trạng về xuất khẩu gạo trong thời gian qua.
Thị trường lúa gạo là một trong những thị trường ngũ cốc quan trọng của thế
giới. Năm 1995,cả thế giới xuất khẩu 21 triệu tấn, đến năm 1998 xuất khẩu 27,42
triệu tấn và năm 2000 thế giới sẽ xuất khẩu khoảng 23 triệu tấn. Thực tế thị trường
gạo hiện nay đang gặp phải hai vấn đề khó khăn ảnh hưởng đến số lượng và giá cả
gạo xuất khẩu:
+ Mức cung và mức cầu: Có khuynh hướng luôn luôn biến động mạnh do
sản xuất phải phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Cụ thể năm 2000 do lũ
lụt ảnh hưởng nặng nề, không những ảnh hưởng đến chất lượng gạo mà còn ảnh
hưởng lớn đến sản lượng, làm chúng ta không đạt được kim ngạch xuất khẩu như
dự kiến.
Diễn biến tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới chia theo vùng lãnh thổ.
ĐVT: 1.000 tấn
Niên vụ
Khu vực
1998-1999 1999- 2000
North America 1/ 8.941 10.034
Latin America 2/ 21.720 20.392
EU 2.607 2.722
Other West, Eur 0 0
Former USSD 1.229 1.069
Eastem Europe 4/ 60 62
Middle East 5/ 3.282 2.965
North Africa 6/ 4.166 4.769
Other Africa 7/ 10.698 11.250
South Asia 8/ 169.377 171.312
Other Asia 9/ 352.039 358.443 Oceania 10/ 1.390 1.329
Nước 1999 2000
Argentina 525 500
Australia 700 700
Burma 200 225
China 2.000 2.100
Guyana 300 310
India 2.750 2.200
Pakistan 2.000 2.000
Thailand 5.700 5.700
Uruguay 725 700
Vietnam 4.000 3,64.000
EU 350 350
Others 1.325 1.460
Subtotal 20.575 20.191
United States 2.750 3.000
WORLD TOTAL 23.325 23.191
Trong khi đó, tình hình nhập khẩu của các nước trên thế giới biến động thất
thường và giao động ở mức 20,4- 23,0 triệu tấn/năm và một số nước có nhu cầu
nhập khẩu gạo thì gặp phải khó khăn về khả năng thanh toán như Châu Phi,
Irăc… Tình hình nhập khẩu gạo ở một số nơi trên thế giới qua các năm.
ĐVT: 1000 tấn
Khu vực 1998 1999 2000
Malaysia 593 650 675
Mexico 295 325 365
Nigeria 800 800 800
Peru 230 200 200
Philippines 2.187 1.200 900
hơn và giảm sản xuất các loại chất lượng kém. Kể từ đầu năm 2000,một số loại
gạo Indian chất lượng kém vụ đầu sẽ không còn được Chính phủ mua theo giá bảo
hộ.
2. Đánh giá thực trạng xuất khẩu gạo.
2.1. Triển vọng của việc xuất khẩu gạo.
Kinh tế tế thế giới ổn định trong tương lai sẽ làm sản lượng gạo ổn định và
tăng cao đồng thời làm tăng nhu cầu về gạo.
Cho đến nay, nhiều dự báo của IMF, WB, OECD, Viện nghiên cứu Nhận
Bản (JRI) và Viện kinh tế Đức (DIW) đã đưa ra kết luận khả quan rằng, 5 năm đầu
của thế kỷ 21, kinh tế thế giới sẽ phát triển ổn định. Tốc độ tăng GDP bình quân
của thế giới giai đoạn 2001- 2005 sẽ đạt 3,4%/năm. Trong đó, GDP của các nước
công nghiệp phát triển sẽ tăng 5,4%/ năm. Châu á sẽ vẫn là khu vực kinh tế năng
động nhất thế giới với dự báo GDP giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân
6,2%/năm. Theo dự báo của Asia Week, trong những năm 2001- 2005 Việt Nam
sẽ là nước có nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất, tăng 7,4%/năm, kế đó là
Trung Quốc, tăng 7,2%/năm. Các nước thuộc ASEAN sẽ duy trì tốc độ tăng
trưởng cao 6,4%/năm, còn GDP của các nước công nghiệp mới Châu á (NICS) dự
đoán sẽ đạt tốc độ tăng trưởng 5,5%/năm.
Theo đánh gía của IMF, WB, OECD, trong những năm đầu của thế kỷ 21,
kinh tế thế giới phát triển ổn định chủ yếu nhờ vào ba động lực chính. Đó là ứng
dụng khoa học- công nghệ mới, thúc đẩy nhanh hơn tiến trình tự do hoá thương
mại thế giới và gia tăng các liên kết kinh tế quốc tế.
Thế giới thiếu hụt lương thực sẽ làm tăng cầu về gạo và làm tăng kim ngạch
xuất khẩu. Tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hợp quốc (FAO) vừa công bố dự
báo sản lượng lương thực toàn cầu năm 2000-2001 đạt 1.881 triệu tấn, thấp hơn dự
báo FAO đưa ra tháng 6 năm qua là 15 triệu tấn và mức tiêu thụ lương thực được
dự kiến là 1.990 triệu tấn.
trong năm 2000 đã tăng chậm và giá cả bị giảm. Ông cho hay, trong năm 2001,
Chính phủ Thái Lan cũng đặt ra mức tiêu thụ về xuất khẩu gạo bằng năm
2000.Trước đó, Bộ thương mại Thái Lan đã dự báo mức xuất khẩu gạo của nước
này năm nay sẽ giảm xuống do nhu cầu về gạo ở các thị trường chính, trong đó có
thị trường Mỹ tăng chậm.
Cái đói đang đe doạ tại nhiều nước:
FAO và Chương trình lương thực thế giới (WFP) cảnh báo hiện có khoảng
28 triệu người dân sinh sống ở khu vực Phía nam sa mạc Sahara đang bị đoí chầm
trọng kéo dài và nguyên nhân do hạn hán và nội chiến liên miên từ nhiều năm nay.
Báo cáo lưu ý rằng tình trạng thiếu lương thực sẽ còn tiếp tục kéo dài trong năm
tới, nhất là tại Eritria, Etiopia, Kenia và Sudan. Riêng ở Eritria, hiện có 1,5 triệu
người di tản cùng với 340.000 nông dân sống trong các vùng hạn hán đang bị đói
nghiêm trọng.
Tại Etiopia, có khoảng 10,2 triệu người sống phụ thuộc vào các khoản viện
trợ lương thực từ bên ngoài. Tại Kenia, gần 3,3 triệu người thiếu ăn và trong vụ
thu hoạch 2000-2001 nước này cần nhập thêm khoảng 1,4 triệu tấn lương thực.
Tanzania cũng cần nhập khoảng 690.000 tấn lương thực. ậ vùng Hồ lớn cũng có
khoảng 2 triệu người di tản cần sự giúp đỡ về lương thực. Tại Sudan có hơn 3 triệu
người miền Nam nước này đang bị thiếu lương thực trầm trọng do xung đột dân sự
và hạn hán. Hiện tại các kho lương thực của Sudan đang bị vơi đi nhanh chóng,
trong khi giá cả tăng vọt, gấp 3 lần so với năm ngoái. Trong số 3 triệu người nói
trên có 600.000 người cần viện trợ lương thực khẩn cấp và 2,4 triệu người cần
được viện trợ lương thực vào cuối năm. FAO và EFP ước tính Sudan cần phải
nhập khoảng 1,2 triệu tấn ngũ cốc, trong đó 1 triệu tấn phải mua và 200.000 tấn
viện trợ từ các nước.
Các tổ chức viện trợ quốc tế cho biết tình hình lương thực ở CHDCND Triều
Tiên đang trở nên nghiêm trọng, nhất là ở những khu vực nông thôn miền Bắc. Cơ
quan phát triển nông thôn Hàn Quốc ngày 10/1 cho biết sản lượng ngũ cốc của
CHDCND Triều Tiên đạt 3,59 triệu tấn trong năm 2000, giảm 15% so vơí năm
1999. Theo ước tính của cơ quan này, nhu cầu lương thực hàng năm của
Theo số liệu mới nhất mà Hiệp hội lương thực Việt Nam (gọi tắt là Hiệp hội)
vừa công bố, trong năm 2000 cả nước ta đã xuất khẩu được 3.393.800 tấn gạo (
không kể lượng xuất tiểu ngạch qua biên giới), đạt tổng kim ngạch 615.820.670USD (trên cơ sở giá FOB), các hội viên trong Hiệp hội vẫn chiếm tỷ
trọng cao nhất với 96,15% tổng lượng gạo xuất khẩu, kế đến là các công ty liên
doanh chiếm 3,54%, còn lại chỉ có 0,31% do các doanh nghiệp xuất khẩu khác
thực hiện.
So với năm 1999, lượng gạo xuất khẩu này giảm đến 26% (năm 1999 Việt
Nam xuất 4,56 triệu tấn), và giá bình quân cũng giảm tới 40USD/tấn. Rõ ràng đây
là một kết quả không như mong đợi đối với cả những người sản xuất và cả các
doanh nghiệp xuất khẩu. Trong khi đó, tổng sản lượng lương thực cả nước vẫn
tăng và đạt 35,6 triệu tấn, riêng lúa đạt 32,55 triệu tấn; lũ sớm ở ĐBSCL cũng chỉ
gây tổn thất khoảng 700.000 tấn lúa.
Nhiều giải thích đã được đưa ra, như: hầu hết các nước sản xuất lúa đều được
mùa sản lượng vụ mùa 1999-2000 đạt tới mức kỷ lục tăng hơn vụ trước 16,4 triệu
tấn; tồn kho năm 2000 cũng tăng gần 4,5 triệu tấn so với năm trước, lượng gạo
buôn bán trên thế giới lại giảm trên 1,8 triệu tấn… Bên cạnh đó là do đồng tiền
mất giá và thuế nhập khẩu tăng, nên lượng nhập khẩu gạo của các nước giảm. Các
nước xuất khẩu gạo lớn khác như: Thái Lan, ấn Độ cũng bị giảm sút như Việt
Nam, Tuy mức độ có khác nhau (Thái Lan giảm 2% còn ấn Độ giảm 46%).
Tuy nhiên, ngoài những nguyên nhân khách quan nêu trên, theo các chuyên
gia việc xuất khẩu gạo giảm sút trong năm qua còn bắt nguồn từ nhiều nguyên
nhân chủ quan khác.
Đầu tiên là tỷ trọng các loại gạo xuất khẩu của Việt Nam trong năm qua vẫn
chủ yếu là gạo trắng các loại (5,10,15,25% tấm) chiếm tới 98,5%, còn các loại gạo
100% B, gạo thơm, gạo đồ… chỉ chiếm dưới 0,5%. Trong lúc đó, Thái Lan xuất
chủ yếu là các loại gạo 100%B và gạo thơm (35,7%), gạo đồ (28%), gạo trắng các
loại chỉ 19,3%. Thứ hai là trên thị trường, tuy gạo Việt Nam đã xuất sang khắp
Do liên tục áp dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp và liên tục mở rộng
diện tích canh tác lúa. Do vậy, mà sản lượng lúa hàng năm từ 1995 –1999 liên tục
tăng.
Sản xuất lương thực từ 1995 – 1999.
1995 1996 1997 1998 1999 1999 tăng
giảm so
với 1998
(%) Tổng sản lư
ợng
lương thực quy thóc
(1.000 tấn)
27.570,7
29.217,9
30.618,1 31.853,9
34.253,9
7,5
1. Lúa cả năm
Diện tích (nghìn ha) 6.765,6 7.003,8 7.099,7 7.337,4 7.648,1 4,0
Năng suất (tạ/ha) 36,9 37,7 38,8 39,7 41,0 3,7
Sản lượng (nghìn
tấn)
24,936,7
Sản lượng (nghìn
tấn)
7.726,3 7.308,7 7.575,8 8.057,8 8.532,7 5,9
2. Mầu quy thóc
nghìn tấn
2.607,2 2.821,2 3.084,2 2.712,2 2.860,1 5,5
Do vậy, với xu thế này, năm 2001 và những năm tới dự đoán sản lượng lúa
của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng.
Năm 2001 sản lượng gạo thế giới tăng và giá cả hạ.
Vụ lúa đông xuân năm 1998-1999, giá lúa 2.200 đ/kg, nông dân ĐBSCL xây
nhà, mua xe máy, sắm tiện nghi gia đình… Nhưng, niềm vui đó chỉ thoảng qua, chẳng kéo dài được bao lâu. Ngay đầu tháng 2/2001, thị trường lúa gạo miền Tây
được xem là thời kỳ khan hiếm, nhưng thật trớ trêu, dấu hiệu rớt giá lại xuất hiện
đúng vào lúc này. Cụ thể ở Trà Vinh, giá lúa chỉ dao động từ 1.000-1.050 đ/kg;
Tại An Giang, thương lái chỉ mua với giá 1.100-1.150 đ/kg (giảm 200-250 đ/kg
so vụ đông xuân năm 1999-2000). Tại chợ lúa gạo lớn nhất miền Tây An Cư- Bà
Đắc (Tiền Giang), gía lúa khô, sạch dao động từ 1.300-1.450 đ/kg tuỳ theo thời
tiết thị trường. Ghe thuyền hàng xáo vào mua tận nhà chỉ có 1.100-1.150 đ/kg.
Ông Sáu Thành Giám Đốc NHNo-PTNT Vĩnh Long cho biết: giữa tháng 2 này giá
lúa ở đây dao động từ 1.100-1.300 đ/kg.
Dự tính, vụ đông xuân 2000-2001, nếu năng xuất bình quân đạt 5 tấn/ha,
ĐBSCL sẽ có sản lượng khoảng 7,5 triệu tấn lúa, trong đó 80% là lúa hàng hoá.
Theo tính toán của bà con nông dân ở Châu Thành, Châu Phú (An Giang), Lai
Vung, Cao Lãnh (Đồng Tháp), Tân Thành, Mộc Hoá (Long An), do ảnh hưởng
của lũ lớn, sâu bệnh phát triển vào dịp cuối vụ, giá phân bón tăng nên vụ đông
xuân năm nay chi phí sản xuất lên tới 1.000-1.050 đ/kg thóc, tăng khoảng 100-150
đ/kg so với các vụo đông xuân trước. Nhiều người dự đoán giữa tháng 3 tới, thu
hoạch rộ, giá lúa có thể “rớt” xuống bằng giá thành sản xuất. Bởi vì, theo dự báo,
các trung tâm khuyến nông các tỉnh, huyện phải có sự phối hợp chặt chẽ giúp
người sản xuất lúa có đủ vốn, giống tốt, vật tư đầu vào, kỹ thuật canh tác và tiêu
thụ sản phẩm. Với các hộ nông dân, cần khuyến khích và tạo điều kiện cho họ
hình thành các HTX dịch vụ, bảo đảm cung ứng kịp thời, nhanh chóng các dịch vụ
nông nghiệp cũng như tiêu thụ lúa với khối lượng lớn.
1.2. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, sản xuất, cung ứng và ứng dụng các
giống lúa có chất lượng gạo cao.
Giống là yếu tố hàng đầu góp phần cải thiện phẩm chất gạo và làm tăng năng
suất lúa. ở ĐBSCL, nông dân hiện đang sử dụng khoảng 50 giống lúa cao sản ngắn
ngày, trong đó có khoảng 10 giống có phẩm chất gạo đáp ứng yêu cầu xuất khẩu: loại gạo hạt dài, trong,không bạc bụng, cơm mềm. Các giống này hiện chiếm
khoảng 30- 40 % diện tích gieo trồng các giống ngắn ngày ở ĐBSCL. Mục tiêu từ
nay đến năm 2005 của ĐBSCL là phấn đấu sử dụng các giống lúa có phẩm chất
gạo cao đạt trên 50% diện tích gieo trồng lúa toàn ĐBSCL,và 70% diện tích gieo
trồng lúa trong vùng lúa phẩm chất gạo cao đang được nông dân sử dụng như: IR
64, OM 997, Tép, Hành, Tài Nguyên, Năng Hương… ngoài ra sẽ tập trung nghiên
cứu tạo ra các giống lúa thơm đặc thù Việt Nam, có khả năng cạnh tranh với gạo
thơm Thái Lan trên thị trường thế giới.
Với hệ thống sản xuất và cung ứng hạt giống lúa, riêng với các địa phương
(các tỉnh và huyện ở ĐBSCL) phần lớn là rất mỏng, không đáp ứng được nhu cầu
sản xuất. Cần phải tổ chức lại hệ thống sản xuất và cung ứng hạt giống lúa cho phù
hợp với đặc điểm thị trường hiện nay, trong đó cần coi trọng vai trò của các hộ tư
nhân (các hộ nhân giống và các cửa hàng bán lẻ vật tư nông nghiệp…) Họ sẽ là
người tự đầu tư sản xuất, tiếp cận trực tiếp với nông dân, hiểu rõ được yêu cầu về
chủng loại giống, thời điểm cần giống của nông dân. Do đó, Nhà nước một mặt có
chính sách khuyến khích tư nhân tham gia vào hệ thống sản xuất, chế biến khuyến
thị và cung ứng hạt giống lúa, mặt khác có sự phân công rành mạch vai trò của các
cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân này trong từng khâu
. Do thiếu phương tiện phơi sấy nên
tổn thất lúa từ 1,9-2,2%, tỷ lệ tạp chất từ 1,8-2,5%, đây là tỷ lệ quá cao, đặc biệt
trong vụ hè thu lúa phơi không kịp nên bị lên men, biến vàng nhanh, nhiều lô lúa
bị mọc mầm, giảm chất lượng nghiêm trọng, tỷ lệ hạt lúa gãy cao tới 28%.
Về tồn trữ bảo quản: Hiện có khoảng 55-60% hộ nông dân trữ lúa bằng bồ,
vựa. Khối lượng dự trữ trung bình hộ 1,99 tấn, thời gian dự trữ trung bình là 103
ngày. Do hầu hết phương tiện dự trữ của nông hộ không có nắp đậy, bục kẽ đơn
giản và thấp, lúa đưa vào dự trữ độ ẩm cao nên chỉ sau một thời gian ngắn chất
lượng lúa giảm rõ rệt.
Để khắc phục tình trạng phơi, trữ trên, ở ĐBSCL cần đầu tư nâng cao năng
lực sấy và tồn trữ cho các đơn vị quốc doanh, bảo đảm tăng khả năng thu mua lúa
trong dân kể cả trường hợp mua lúa ướt, Nhà nước cần có chính sách mở rộng tín
dụng dài hạn để dân có vốn đầu tư cho việc tu bổ , sửa chữa và xây dựng mới hệ
thống sân phơi,kho chứa. Hiện nay, đã có nhiều máy sấy loại nhỏ ,giá tiền phù hợp
với quy mô nông hộ hoặc các kiểu máy lớn đi liền với các nhà máy xay, nhưng
chi phí cho sấy lúa vẫn còn cao. Vì vây, cần tiếp tục nghiên cứu, thiết kế, chế tạo
và phổ biến các loại máy sấy phù hợp với đặc điểm từng vùng, sử dụng nhiên liệu
tại trỗ như rơm, dạ,trấu , than, củi… để giảm giá thành sấy mà vẫn bảo đảm chất lượng gạo. Cùng với cải tiến máy sấy, các nhà khoa học cần nghiên cứu cải tiến,
thiết kế các nguyên liệu sẵn có ở nông thôn,tiện sử dụng và di chuyển. Và trong
khâu bảo quản cũng cần phổ biến kỹ thuật sử dụng các loại thuốc trong bảo quản
lúa giúp người dân nâng cao được hiệu quả tồn trữ gạo, góp phần nâng cao chất
lượng gạo xuất khẩu và nâng cao thu nhập cho nông dân.
1.4. cần có những chính sách ưu đãi về vốn, thuế sử dụng đất nông nghiệp
cho người dân.
Để người nông đân an tâm đầu tư, làm ăn theo hướng phân vùng chuyên
canh lúa phẩm cấp chất lượng cao ngoài những biện pháp trên, nhà nước cần phải
giúp đỡ nông dân được vay vốn phục vụ cho các dự án nông nghiệp của mình,
Bắc Mỹ còn là thị trường nhập khẩu tái suất thông qua các chương trình viện
trợ thực phẩm cho các nước khác.
Mức tiêu thụ gạo tính theo đầu người (rice per capita) vào khoảng 6,54kg
(năm 1994). Khu vực này có hiệp định mậu dịch chung là NAFTA.
Châu Mỹ la tinh (Latin America): Được hình thành bởi các đảo lớn vùng
biển Caribe và những lãnh thổ thuộc Anh, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha ở phía Nam.
Châu Mỹ mang đậm nét văn hoá Latin Châu Âu. Các nước vùng núi thì nghèo
hơn, đa số là dân da đỏ và người lai. Khu vực này sản xuất được 20,9- 22,00 triệu
tấn lúa, xuất khẩu 1,2-1,5 triệu tấn, nhập khẩu khoảng 2,3-3,1 triệu tấn gạo chiếm
khoảng 11-13% thị trường gạo thế giới. Gạo được xem là một trong những lương
thực chính của các nước như Brãil, Peru, Cuba, Mexico…
Sức mua không cao như bắc Mỹ, Phẩm lượng trùng bình (10% tấm) gạo hạt
dài. Các tiêu chuẩn về mẫu mã và bao bì thông thường theo yêu cầu hàng chuyến,
do các nhà phân phối trong nước định đoạt.
Quy chế kiểm dịch không khắt khe, nhưng đôi khi bất hợp lý (Mexico tuyên
bố cấm nhập gạo của Việt Nam, Thái Lan năm 1993 viện cớ phát hiện côn trùng
độc hại, thực tế là những nhân nhượng về thị trường dành cho Hoa Kỳ trong
NAFTA).
Mức tiêu thụ gạo tính đến đầu người (Rice per capita): 70,96kg (năm 1994).
Khu vực này có khối thị trường chung MERCOSUR.
Châu Âu (EU và Tây Âu ngoài Châu Âu (EU& OW.EU): Những biến cố
chính trị mới thập niên 80 đã thay đổi hoàn toàn cơ cấu kinh tế của các nước này.
Sức mua của người tiêu thụ bị sụt giảm thảm hại, mặc dù nhu cầu về lương thực rất cao. Năm 1995, các nước này sản xuất được 1,8-2,0 triệu tấn lúa, nhập khẩu
0,75-0,95 triệu tấn, chiếm từ 2,3- 4,78% thị trường thế giới. Đây là khu vực có
tiềm năng tiêu thụ gạo, khó khăn về ngoại tệ nhưng giới kinh doanh tinh rằng đây
là những nước không thể thanh toán bằng tiền mặt (non- cash payment), nên
phương thức đổi hàng (barter) hoặc đối lưu hai chiều (two way trade) luôn được
Phẩm chất cao 100% Grade B hoặc 5% tấm ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Malaysia:
Phẩm cấp thấp 25%-35% tấm như Philippine và indonesia. Các nước Châu á rất
coi trọng mặt hàng gạo vì mọi sự thâm hụt đều có thể gây ra đột biến cho quốc gia,
gây bất ổn định về chính trị, xã hội nên việc mua bán, xuất nhập khẩu gạo thường
được Chính Phủ quản lý thông qua một công ty kinh doanh của Nhà nước. Thị
trường khó điều tiết, dự đoán vì nó gần như không phải là thị trường tự do, Chính
phủ can thiệp thường xuyên, đôi khi giá cả biến động mạnh khi một quốc gia tiêu
thụ bị mất mùa, tham gia vào thị trường thế giới với một nhu cầu quá lớn trong
một thời gian ngắn, gây nên sự xáo trộn cung- cầu. Hàng năm, toàn Châu á (trừ
Trung Đông) sản xuất được 336,4 – 350 triệu tấn gạo, xuất khẩu được trên
15,5triệu tấn gạo, nhập khẩu từ 4,6 triệu tấn (1997)- 13,3 triệu tấn (1998), chiếm
24- 48,6% thị trường thế giới. Mức tiêu thụ gạo tính theo đầu người khu vực này
(rice per capita): 110kg (năm 1994).
Những nỗ lực thành lập Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu á- Thái Bình Dương
(OPEC) và ASEAN.
Trung Đông (Middle East): Thế giới ả Rập là một trong những khu vực nhạy
cảm của thế giới , tinh thần Hồi giáo xuất hiện khắp nơi. Nguồn lợi chính từ vàng
đen, nó thừa hưởng 2/3 trữ lượng vàng đen của thế giới nhưng đồng thời cũng là
khu vực có nhiều xung đột thuộc loại bậc nhất, chi phí quân sự cao hơn thực
phẩm, vì vậy một số nước như Iran, Irắc vẫn gặp khó khăn về ngoại tệ, ví dụ như
trong việc hoán đổi giữa đồng Riel (iran) và US Dollar vì vậy việc thanh toán tiền
hàng rất khó khăn, bị trì hoãn, đôi khi rắc rối. Gạo là một trong những thực phẩm
chủ yếu hàng ngay. Chất lượng yêu cầu cao, thường là gạo 5% tấm do thu mua
trong nước mạnh. Hàng năm, khu vực này sản xuất được khoảng 2,9-3,2 triệu tấn
gạo chủ yếu của Iran và Thổ Nhĩ Kỳ, nhập khẩu 2,8 – 3,6 triệu tấn gạo chiếm 10,3
– 19 % thị trường thế giới.
Mức tiêu thụ gạo tính trên đầu người (rice per capita): 19,82kg (năm 1994).
Trước đây có liên đoàn các nước ả Rập nhưng là một khối chính trị hơn là kinh tế.
thành của Hoa Kỳ luôn luôn cao (farm price) ở mức là 8,25 – 8, 45 USD/CWT (1CWT= 50,8kg) đối với phẩm chất cao. Thông thường mức giá chênh lệch giữa
gạo Mỹ và Thái Lan khoảng 92 USD/ tấn riêng gạo Mỹ cạnh tranh tốt ở mức
chênh lệch 15 – 30 USD/T.
Để tăng cường tình cạnh tranh do các loại gạo phẩm chất thấp, Mỹ dùng các
chương trình hỗ trợ xuất khẩu EEP (Export Enhancement Phogram) chương trình
GMS (Commodity Credit Corporations Genral Sales Manager) cung cấp tín dụng
và cùng với chương trình bán nhượng (Concessional Sales, PL 480 and Food Aid).
Thái Lan: Tổng sản lượng xuất khẩu của Thái Lan chiếm khoảng 24,4 – 28%
tổng lượng mua bán của thế giới, dẫn đầu các nước xuất khẩu gạo. Thị trường ở
khắp thế giới,mạnh nhất vẫn là á Châu, Trung Đông,EU và Nam Mỹ. Loại gạo
chủ lực là 100 GradeB. Ngoài ra còn có những giống gạo đặc sản như jasmine,
Khao- dakmali… Gạo Thái Lan có nhiều lợi thế cạnh tranh do có mặt khá lâu trên
thị trường thế giới, chất lượng đã được thử thách và được tin cậy bởi người tiêu
dùng khắp nơi, có thị trường ổn định, điều kiện hậu cần tốt do xuất khẩu vững
chắc. Thái Lan cạnh tranh hữu hiệu với Hoa Kỳ ở thị trường phẩm chất cao và với
ấn Độ, Mianma, Pakistan, Việt Nam,Trung Quốc ở thị trường phẩm chất trung
bình và thấp. Thái Lan chịu sức ép cạnh tranh này làm cho cơ cấu giá của Thái
Lan không tăng vọt, điều này góp phần quay trở lại, ảnh hưởng đến giá gạo của
Thái Lan duy trì tính cạnh tranh của nó đối với giá gạo của Hoa Kỳ ở thị trường
phẩm chất cao. Mức độ chếnh lệch (price prenium) thông thường 25 – 30
USD/tấn so với thị trường Việt Nam do giá thành sản xuất trong nước cao hơn,
giá lúa trung bình 5% tấm là 3759 Baht/CWT (khoảng 150,4 USD/CWT), giá lúa
trung bình 15% tấm Chính phủ mua của các nhà máy đầu năm 2000 là 5.067
Baht/tấn (khoảng133,4 USD/tấn).
Pakistan/ ấn Độ: Vị trí xuất khẩu hạng tư, thường xuyên bị Trung Quốc đe
doạ nhưng pakistan cũng xuất hơn 1,67- 2,0 triệu tấn/ năm, chiếm 8,5% tổng
lượng mua bán của thế giới. Năm 1995, ấn Độ bất ngờ tham gia vào thị trường