LUẬN VĂN: Thực trạng nhập khẩu của Công ty cổ phần XNK ô tô Hà Nội và một số kiến nghị - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Thực trạng nhập khẩu của Công
ty cổ phần XNK ô tô Hà Nội và
một số kiến nghị


với kiến thức được trang bị tại nhà trường, với mục đích tìm hiểu thêm về hoạt
động kinh doanh nhập khẩu ô tô, thiết bị phụ tùng ô tô tại Công ty, em đã chọn đề
tài : “ Thực trạng nhập khẩu của Công ty cổ phần XNK ô tô Hà Nội và một số
kiến nghị “ cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Mục đích của chuyên đề là trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh
nhập khẩu ô tô tại Công ty để tìm ra những mặt đã đạt được và những mặt hạn chế
chủ yếu trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu ô tô của Công ty, từ đó đưa ra một số
kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu tại Công ty.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục. danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề
gồm có 3 chương chính sau :
Chương 1 : Tổng quan về Công ty cổ phần XNK ô tô Hà Nội.
Chương 2 : Thực trạng nhập khẩu của Công ty cổ phần XNK ô tô Hà Nội.
Chương 3 : Kiến nghị một số biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu của
Công ty cổ phần XNK ô tô Hà Nội.

không được nhiều người biết đến. Lúc này công ty chỉ có một cơ sở chính đặt tại
Lô 4, khu 4, tập thể cục cảnh sát kinh tế, phường Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội.
- Năm 2006, công ty mở thêm 2 chi nhánh mới : 1 chi nhánh tại 45 Hồ Tùng
Mậu – Cầu Giấy - Hà Nội và 1 chi nhánh tại 27 Tô Hiệu, thành phố Hải Phòng. Từ
đây, công ty là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân độc lập, hạch toán kinh tế độc
lập, có con dấu giao dịch riêng mang tên công ty, có tài khoản Việt Nam và ngoại
tệ tại Ngân hàng Nhà nước.
- Năm 2007-2009: Mặc dù gặp nhiều khó khăn và thử thách trong bối cảnh nền
kinh tế có nhiều yếu tố bất ổn định, nhưng có thể nói, đây là thời kì quan trọng và
có nhiều sự kiện nổi bật đánh dấu sự ra đời chính thức của công ty.
Công ty Cổ phần XNK ôtô Hà Nội là đơn vị kinh tế cơ sở, hoạt động theo
nguyên tắc tự quản, có tư liệu sản xuất và các vốn khác, tự quyết định mọi vấn đề
về sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về thu nhập và lỗ lãi.
Thời gian này do xu hướng phát triển chung của nền kinh tế toàn cầu, dựa
vào những ưu đãi chính sách đầu tư phát triển của nhà nước, các chính sách pháp
luật, các hợp đồng kinh tế đã kí kết, kết quả nghiên cứu nhu cầu thị trường, thông
tin kinh tế của cấp trên. Công ty được toàn quyền chủ động xác định phương án
kinh doanh, lựa chọn mặt hàng, thiết bị công nghệ, hình thức dịch vụ, cơ cấu tổ
chức, thị trường tiêu thụ phù hợp với yêu cầu chuyên môn hoá cao, hiệp tác hoá và
kinh doanh tổng hợp công ty để đặt hiệu quả cao.
Công ty mở mối quan hệ liên doanh, liên kết với mọi tổ chức, cá nhân,
không giới hạn địa bàn và thành phần kinh tế, công ty cũng sẵn sàng hợp tác với
các tổ chức, cá nhân nước ngoài dưới hình thức xuất, nhập khẩu, trao đổi hàng
hoá, sản phẩm, hợp tác kinh doanh…theo đúng qui định của nhà nước.
Công ty đã thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức ngoại thương
nhà nước để xuất, nhập khẩu các sản phẩm của công ty, nhập khẩu hàng hoá, vật

tư nguyên liệu, thiết bị toàn bộ, thiết bị bán lẻ, phụ tùng thay thế để phục vụ cho
sản xuất kinh doanh.
- Từ 2005 – 2008: vốn điều lệ của công ty là :9.000.000.000 VND

Trong đó, công ty đặc biệt chú trọng tới hoạt động chính phù hợp với chức
năng và chuyên môn của mình, đó là : nhập khẩu và buôn bán ô tô.
Nhiệm vụ :
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh của công ty theo
quy chế hiện hành.
- Nghiên cứu khả năng cung cấp, nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế ,
thực hiện hoàn thiện các hoạt động nhập khẩu ô tô và phụ tùng để không ngừng
nâng cao chất lượng, thay đổi mẫu mã các loại xe để đáp ứng thị hiếu người tiêu
dùng.
- Tuân thủ các chính sách chế độ luật pháp của Nhà nước và thực hiện
nghiêm chỉnh các hợp đồng mua bán trao đổi, và các văn bản pháp lý khác mà
công ty đã tham gia ký kết.
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, tự chủ về tài chính.

1.3.Đặc điểm ngành hàng và mặt hàng kinh doanh của công ty.
Chúng ta thấy rằng ô tô ngày càng xâm nhập vào đời sống kinh tế xã hội
của toàn cầu, Việt Nam chúng ta cũng không nằm ngoài xu thế này. Hơn 10 năm
trở lại đây, thị trường ô tô đã thực sự sôi động trở lại bởi sự có mặt của các nhà
đầu tư nước ngoài. Họ đã liên tục tung ra nhiều chủng loại xe với kiểu dáng hấp
dẫn, tiện nghi, chất lượng cao đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng trong nước.
Công ty Cổ phần XNK ô tô Hà Nội chủ yếu hoạt động trên lĩnh vực nhập
khẩu ô tô và thiết bị phụ tùng ô tô, là nhà cung cấp các loại xe ô tô nhập khẩu tại
thị trường Việt Nam, là cầu nối giữa thị trường ô tô trong nước và thế giới. Công
ty chủ yếu nhập khẩu mặt hàng chính là xe hơi. Công ty cũng là đại lý cho nhiều
hãng xe nổi tiếng thế giới như: Ford, Toyota, Honda, Deawoo, Mitsubishi…Các
sản phẩm mà công ty kinh doanh luôn đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng phát
triển của khoa học về vấn đề an toàn và vệ sinh môi trường.
Ô tô là một mặt hàng có tính đặc thù riêng : Đặc điểm nổi bật của ô tô là
sản phẩm mang giá trị rất cao. Chiếc ô tô từ rất lâu đã không còn được coi chỉ là
phương tiện đi lại mà đơn thuần các nhà chế tạo không ngừng trang bị cho nó vô

động của công ty. Ngoài ra, giám đốc còn là chủ tài khoản của công ty, thay mặt
công ty ký kết các hợp đồng kinh tế với khách hàng. Giám đốc chịu trách nhiệm
trước HĐTV về hiệu quả hoạt động của công ty, chịu trách nhiệm trước Nhà nước
về việc chấp hành pháp luật trong công ty.
Giám đốc
Phó giám đốc
hành chính
Phó giám đốc
kinh doanh
Trụ sở chính Văn phòng đại diện
Phòng kế toán
Phòng hành

chính

Phòng chăm sóc
khách hàng

Phòng kinh doanh

- Phó giám đốc: Giúp giám đốc quản lí hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty, chịu trách nhiệm trước giám đốc về công tác quản lí hoạt động kinh doanh
và hoạt động tài chính của công ty. Công tác thực hiện các mục tiêu kế hoạch sản
xuất kinh doanh của công ty đã đặt ra và đưa ra các biện pháp tối ưu.
- Phòng tài chính kế toán: có nhiệm vụ căn cứ vào kế hoạch thực hiện sản
xuất kinh doanh của công ty để lập kế hoạch cấp vốn đủ cho các hoạt động sản
xuất. Theo dõi tình hình tài chính của công ty, quản lý quỹ tiền mặt và thu chi tiền
mặt theo nguyên tắc chế độ. Quản lí chứng từ sổ sách có liên quan đến hoạt động
tài chính của công ty. Theo dõi việc thực hiện các hợp đồng kinh tế, thanh quyết
toán các khoản công nợ, phối hợp với ban giám đốc của công ty quản lí toàn bộ tài

nhất Miền Bắc về kinh tế, dân cư có mức thu nhập. Khai thác được lợi thế vị trí
địa lý Cảng Hải Phòng là một cụm cảng biển tổng hợp cấp quốc gia, là cửa ngõ
quốc tế của Việt Nam, điều này không chỉ tạo thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu
của công ty cũng như việc giao nhận và vận chuyển được nhanh chóng, an toàn,
giảm chi phí ( việc nhập khẩu hàng hóa của công ty chủ yếu thông qua cảng Hải
Phòng ). Tại khu vực này công ty đã tồn tại và phát triển nhờ vào những lợi thế của
riêng mình. Tuy nhiên, hiện nay với xu thế phát triển nhanh chóng thì ngày càng
nhiều cơ sở mọc lên ở khu vực này với quy mô khác nhau và sự đa dạng trong chủng
loại mặt hàng : công ty TNHH, công ty cổ phần,…Điều này nguy cơ làm mất dần thị
trường của công ty.
Thị trường thứ hai của công ty là các tỉnh Miền Trung trong đó tập trung chủ yếu
là ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Mặc dù tại khu vực này đã có nhiều công ty và chi nhánh
cung cấp mặt hàng ô tô nhập khẩu, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của người
tiêu dùng, vẫn có một lượng khách hàng có nhu cầu mua hàng tại Hà Nội. Bởi đây
là mặt hàng có giá trị cao, khách hàng luôn có nhu cầu tìm hiểu thông tin về mặt
hàng tại thị trường lớn, đa dạng về chủng loại sản phẩm, mẫu mã và giá cả. Công
ty chưa có chi nhánh tại khu vực này, doanh thu trên thị trường này chưa đáng kể.
Hiện nay, công ty đang có kế hoạch đầu tư vào thị trường này.

Thị trường Miền Nam là thị trường có tiềm năng lớn nhưng do có khoảng cách
địa lý đã hạn chế khâu vận chuyển cũng như việc nghiên cứu xâm nhập vào thị
trường này. Hơn nữa khu vực này đã có rất nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh hoạt
động khá lâu và có kinh nghiệm hơn tại khu vực này. Có thể nói rằng tại thị trường
này công ty vẫn chưa tạo dựng được một vị thế vững chắc để có thể đương đầu với
các đối thủ cạnh tranh xâm nhập vào thị trường lớn này.
Trong những năm qua, là một doanh nghiệp mới thành lập còn non trẻ, chưa có
nhiều kinh nghiệm nên thị trường tiêu thụ của công ty vẫn chỉ bó hẹp tại khu vực
Miền Bắc, công ty tập trung nhiều tại thị trường Miền Bắc mà chưa chú trọng tới
việc mở rộng thị trường sang hai thị trường tiềm năng còn lại đặc biệt là khu vực
Miền Nam.

ký kết và thực hiện hợp đồng đòi hỏi cán bộ nhập khẩu phải nắm vững các chuyên
môn nghiệp vụ, năng động, đặc biệt khi kinh doanh với các đối tác nước ngoài.
Nhân tố con người đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh của công ty, sự tồn tại và thành công của công ty.
1.6.1.3.Nhân tố vốn và công nghệ :
Vốn và công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của
công ty nói chung cũng như hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng. Vốn và
công nghệ quyết định đến lĩnh vực kinh doanh cũng như quy mô kinh doanh của
công ty, vốn và công nghệ giúp cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty
được thực hiện có hiệu quả cao. Vốn và công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, nếu công ty có nguồn lực tài chính lớn ( nhiều vốn ), đặc biệt là vốn lưu
động thì sẽ mua được (có được ) nhiều công nghệ hiện đại nâng cao năng suất và
hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và ngược lại.
1.6.2. Nhân tố bên ngoài công ty :
1.6.2.1. Nhân tố chính trị, luật pháp
Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động nhập
khẩu nói riêng là hoạt động giao dịch buôn bán trao đổi thương mại mang tính chất
quốc tế cho nên nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố chính trị, luật pháp của

mỗi quốc gia cũng như quốc tế. Chế độ chính sách, luật pháp của Nhà nước là
những yếu tố mà các công ty xuất nhập khẩu buộc phải nắm rõ và tuân thủ một
cách vô điều kiện vì chúng thể hiện ý chí của Đảng lãnh đạo mỗi nước, sự thống
nhất chung của quốc tế. Hoạt động nhập khẩu được tiến hành giữa các chủ thể ở
các quốc gia khác nhau, do đó nó không chỉ chịu sự tác động của chế độ, chính
sách, luật pháp trong nước mà còn chịu những điều kiện tương tự ở phía nước đối
tác.
Môi trường chính trị ổn định, luật pháp thông thoáng chặt chẽ không thay
đổi thường xuyên có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của nền kinh tế nói chung
và hoạt động nhập khẩu nói riêng. Môi trường ổn định thúc đẩy hoạt động thương
mại quốc tế giữa các quốc gia với nhau và giữa các chủ thể kinh tế ở các quốc gia

hàng nhập khẩu. Sự biến động của nguồn cung và dung lượng thị trường có ảnh
hưởng đến sự biến động của giá cả hàng nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng tới khả năng
tiêu thụ và hoạt động nhập khẩu của công ty.
1.6.2.5.Yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa quốc tế
Các yếu tố cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động mua bán trao
đổi hàng hóa quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến nhập khẩu như :
- Hệ thống giao thông vận tải, cảng biển : nếu hệ thống này được trang bị hiện
đại sẽ cho phép giảm bớt thời gian bốc dỡ, thủ tục giao nhận cũng như đảm bảo an
toàn cho hàng hóa được mua bán nhanh chóng, nâng cao tính kịp thời, nhanh gọn
trong quá trình nhập khẩu, tăng vòng quay của vốn.
- Hệ thống Ngân hàng : Hệ thống Ngân hàng càng phát triển thì các dịch vụ của nó
càng thuận tiện cho việc thanh toán quốc tế cũng như trong huy động vốn. Ngân hàng là
một nhân tố đảm bảo lợi ích cho nhà kinh doanh bằng các dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng.
- Hệ thống bảo hiểm, kiểm tra chất lượng : Cho phép các hoạt động mua bán hàng
quốc tế được thực hiện một cách an toàn hơn đồng thời giảm bớt được rủi ro cũng như

mức độ thiệt hại có thể xảy ra cho các nhà kinh doanh trong buôn bán thương mại quốc
tế.
1.6.2.6. Các quan hệ kinh tế quốc tế
Việc tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế như : ASEAN, WTO…đã
đem lại lợi ích thiết thực cho quốc gia. Các nhà sản xuất kinh doanh mở rộng thị
trường tiêu thụ ra nước ngoài. Hàng rào thuế quan và phi thuế quan dần nới lỏng
hay siết chặt phụ thuộc và mối quan hệ song phương giữa hai nước, giữa nước
nhập khẩu và xuất khẩu. Chính điều này thúc đẩy các quốc gia tích cực trong quan
hệ ngoại giao với nước khác, tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế
nhằm tạo được những mối quan hệ bền vững, xu hướng tích cực hoá quá trình
nhập khẩu, xuất khẩu hàng hóa của nước mình.
CHƯƠNG 2 :
THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU Ô TÔ CỦA CÔNG TY

18300 chiếc, với giá trị là 284900 nghìn USD. Nhưng đến năm 2006, kim ngạch ô
tô nguyên chiếc của Việt Nam đã giảm cả về số lượng và giá trị nhập khẩu. Cụ thể
: số lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu là 12200 chiếc, giảm 33,3% so với năm
2005, giá trị nhập khẩu năm 2006 là 208000 nghìn USD, giảm 27%. Điều này có
thể lý giải được bởi năm 2006 là một năm đầy biến động với thị trường ô tô Việt
Nam.
Thứ nhất: Giữa tháng 2, Nghị định 12 cho phép nhập khẩu ô tô cũ khiến không
ít người bắt đầu hy vọng về cơ hội sở hữu chiếc xe giá 5000 – 10000 USD. Hiệu
quả ngay lập tức là thị trường gần như đóng băng, phản ứng phổ biến của khách
hàng là ngừng mua xe, chờ ngày nghị định có hiệu lực.
Thứ hai : Sự xuất hiện của hàng loạt các tập đoàn ô tô lớn của Trung Quốc như
Lifan, Thượng Hải Auto tấn công vào thị trường Việt Nam.
Thuế nhập khẩu liên tục giảm, một lớp người giàu có phất lên từ cổ phiếu
khiến nhu cầu ô tô tăng mạnh là một trong những lý do đẩy lượng xe nhập khẩu vả
năm nhập khẩu năm 2007 tăng kỷ lục, số lượng xe nhập khẩu lên tới 28000 chiếc,
gấp gần 2,3 lần so với năm 2006; về giá trị nhập khẩu tăng 151,1% lên tới con số
523000 nghìn USD. Theo các nhà phân tích, nguyên nhân dẫn đến sự tăng mạnh
mẽ này là : đối với các loại xe nhập khẩu nguyên chiếc, 2007 là năm Việt Nam bắt
đầu thực hiện một số cam kết thương mại quốc tế, trong đó đáng chú ý nhất là việc
mở cửa thị trường cho các loại xe nhập khẩu và đặc biệt các quyết định giảm thuế
nhập khẩu. Riêng mặt hàng ô tô mới nguyên chiếc, trong năm 2007 Bộ Tài chính
đã đưa ra 3 quyết định giảm thuế, kéo theo mức thuế suất thuế nhập khẩu ô tô
nguyên chiếc giảm, đưa từ mức 90% xuống còn 60% - đây chính là “ đòn bẩy “
mạnh nhất đẩy thị trường ô tô nhập khẩu Việt Nam lên “ cao trào “. Xét về khía

cạnh giá trị, năm 2007 cũng là năm thị trường chứng kiến làn sóng xe độc về thị
trường, là năm có số lượng xe cao cấp, sang trọng nhập khẩu nhiều nhất, hàng loạt
mẫu xe có giá trị vài trăm nghìn USD/chiếc và thậm chí trên 1 triệu USD/chiếc.
Tốc độ tăng được tiếp tục duy trì đến năm 2008, về số lượng xe nhập khẩu tăng
lên 50400 chiếc với giá trị 1034000 nghìn USD, tương ứng với 80% và 97,7%

càng được nâng cao, mức thu nhập tăng lên, nhu cầu về những chiếc xe có giá trị
cao tăng lên một cách nhanh chóng. Để đáp ứng được nhu cầu này thì các hãng
sản xuất ô tô trên thế giới cũng như trong nước đã và đang không ngừng nâng cao
chất lượng sản phẩm, tung ra hàng loạt mẫu xe có giá rất cao trên thị trường.
Biểu đồ 1 : Kim ngạch NK ô tô nguyên chiếc của Việt Nam
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
70000
80000
90000
2005 2006 2007 2008 2009
0
200000
400000
600000
800000
1000000
1200000
1400000
Số lượng xe NK
(chiếc)
Kim ngạch NK (nghìn
USD)

2.1.2. Quản lý Nhà nước đối với hoạt động nhập khẩu ô tô.

CKD2, xe du lịch
20%
CIF
10% (hay
12% CIF)
5% ( hay 6,6%
CIF)
38,6%
CIF

( Nguồn : Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 1999)
Bảng 3 : Biểu thuế và tỷ lệ bảo hộ ở Việt Nam theo mức độ hoàn chỉnh của xe
năm 2007

Mức độ hoàn chỉnh
( từ cao xuống thấp )
Thuế NK VAT
Thuế tiêu thụ
đặc biệt
Tỷ lệ
bảo hộ
Xe nguyên chiếc (CBU,
du lịch 5 chỗ)
80% CIF 10%( hay
20% CIF)
45-60%
( hay 90-120%
CIF)
190-
220%

trong năm này, ô tô đã qua sử dụng được loại ra khỏi danh sách mặt hàng cấm
nhập khẩu. Cho phép nhập khẩu tô tô cũa là một yêu cầu bắt buộc khi chúng ta
tham gia hội nhập và thực hiện cam kết gia nhập WTO. Đây là cơ hội cho các
doanh nghiệp nhập khẩu ô tô để họ tham gia nhập xe cũ, bởi xe cũ được phép nhập
trong thời gian sử dụng chưa quá 5 năm nên chất lượng còn tốt, trong khi giá rẻ và
nhu cầu trong nước thì rất lớn. Việc nhập khẩu ô tô cũ là tất yếu nhưng không vì
thế mà để các loại ô tô cũ ồ ạt tràn vào Việt Nam.
2007 là năm Việt Nam chính thức gia nhập WTO, thuế quan nhập khẩu chịu
tác động trực tiếp nhất, đi tiên phong trong hội nhập. Ô tô, linh kiện ô tô cũng là
một trong những mặt hàng được điều chỉnh thuế. Thuế nhập khẩu ô tô nguyên
chiếc ( CBU, 5 chỗ ) giảm từ mức 100% năm 1999 xuống còn 80% năm 2009,
cũng trong năm 2009 thuế tiêu thụ đặc biệt mặt hàng này cũng giảm, mức thuế
suất vào khoảng 45 -60%. Trong khoảng thời gian từ năm 2003 trở lại đây, mặc dù
thuế nhập khẩu ô tô và thuế tiêu thụ đặc biệt giảm xuống kéo theo tỷ lệ bảo hộ
giảm, nhưng ô tô trong nước vẫn được bảo hộ ở tỷ lệ cao ( hơn 200% ). Việc đưa
tỷ lệ nội địa hóa mà làm mục tiêu phát triển của công nghiệp ô tô còn rất nhiều bất

cập vì thị trường Việt Nam chưa thích hợp để phát triển các ngành công nghiệp có
kỹ thuật cao như công nghiệp ô tô, tâm lý ưa chuộng hàng ngoại ăn sâu vào tâm lý
người tiêu dùng do đó một chiếc xe có linh kiện ngoại 100% sẽ hấp dẫn người tiêu
dùng Việt Nam nếu cùng một mức giá. Ngoài ra, nhà sản xuất thì không phân biệt
đâu là công nghiệp phụ trợ mà chỉ căn cứ vào thị trường để sản xuất. Như vậy, vô
hình trung chúng ta đã giúp sức cho các “đại gia” ngành xe hơi chiếm lĩnh thị
phần, từ đó góp phần “bóp chết” hoặc giảm thị phần những thương hiệu ô tô trong
nước. Thực tế cho thấy ngành công nghiệp ô tô Việt Nam vẫn chưa cho ra những
chủng loại xe thực sự phù hợp với môi trường và hoàn cảnh của riêng Việt Nam.
- Năm 2008, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
thế giới. Cuộc khủng hoảng đã ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng cho vay giữa các
ngân hàng, nhiều ngân hàng không còn khả năng thanh khoản. Đối với thị trường
chứng khoán. Điều này tác động đến dự trữ ngoại hối và giá cả trên thị trường

truyền thống và thị trường tiềm năng. Mục tiêu của nghiên cứu thị trường truyền
thống là củng cố, phát triển mối quan hệ với bạn hàng đã có và bạn hàng tiềm
năng trong thị trường đó. Mục tiêu của nghiên cứu thị trường tiềm năng là mở
rộng đa dạng hóa hoạt động nhập khẩu. Nhân viên phòng kinh doanh tìm hiểu các
thông tin về sản phẩm trên các website các hãng, nghiên cứu biến động giá cả sản
phẩm của các hãng, lấy đó làm cơ sở cho các quyết định nhập khẩu mặt hàng nào,
nhập với mức giá là bao nhiêu và nhập từ thị trường nào… Ngoài ra, các nhân viên
kinh doanh cũng chủ động nghiên cứu, áp dụng các văn bản pháp quy khác của
Nhà nước liên quan đến lĩnh vực hàng hóa xuất nhập khẩu để đảm bảo hoạt động
nhập khẩu của công ty luôn tuân thủ pháp luật của Nhà nước.
2.2.2.Công tác nhà cung cấp.
Từ khi thành lập, thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm nhằm hướng
tới mọi đối tượng khách hàng. Ngoài các thị trường từ những bạn hàng nhập khẩu
truyền thống như: Nhật Bản, Hàn Quốc, công ty còn mở rộng ra các thị trường
mới để tìm đến những nguồn cung cấp mới như: Anh, Mỹ, Đức, Việc giao dịch

với các thị trường này không những giúp công ty tăng doanh số, kim ngạch xuất
nhập khẩu, mà còn giúp công ty nhập khẩu được những mặt hàng kỹ thuật cao.
Công tác nhà cung cấp đóng một vai trò hết sức quan trọng, việc kinh doanh có
được thuận lợi và hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào mức độ cam kết của
nhà cung cấp trong các hợp đồng ngoại thương. Cụ thể như số lượng, chất lượng
hàng có đúng quy định, tiến độ giao hàng , điều kiện thanh toán,…Công tác nhà
cung cấp của Công ty cổ phần XNK ô tô Hà Nội được phản ánh dưới bảng sau :
Bảng 4 : Tình hình các nhà cung cấp nước ngoài

STT Nhà cung cấp Sản phẩm
Loại tiền
thanh toán
Nhận xét
1 Đức BMW EUR Giao hàng đúng

triển của thị trường nội địa.
2.2.3.Ký kết hợp đồng nhập khẩu.
Giao dịch và đàm phán về hoạt động nhập khẩu thường được công ty tiến
hành qua hình thức thư tín, Fax, điện thoại hoặc gặp gỡ trực tiếp đối với các
thương vụ lớn, phức tạp.
Công ty chủ yếu ký kết hợp đồng nhập khẩu bằng hình thức văn bản, mà nội
dung gồm các điều khoản chủ yếu : tên hàng ( Commodity ), số lượng (Quatity),
chất lượng ( Quanlity ), giao hàng ( Shipment, Delivery ), giá cả ( Price ), thanh
toán (Payment, Settlement ), bao bì, ký mã hiệu ( Packing and Marking ), bảo hành
(Warranty ), phạt và bồi thường thiệt hại ( Penalty ), bảo hiểm (Insurance), bất khả
kháng ( Forse Majeuce), khuyến mại ( Clain ), trọng tài ( Arbitratian )
Loại hợp đồng này thường ký kết giữa bên mua và bên bán. Trên thực tế, nhiều
hợp đồng còn có cả bên vận chuyển tham gia ký kết.
Việc ký kết hợp đồng nhập khẩu thường do ban giám đốc ký kết, trường hợp
giám đốc ủy quyền cho người khác ký kết thì phải có văn bản ( giấy ủy quyền ).
Đối với các mối giao dịch thân thiết hoạt động đàm phán ký kết hợp đồng được
giao dịch bằng thư tín. Phòng kinh doanh gửi cho các hãng đơn đặt hàng. Sau đó
các hãng kiểm tra lại lượng hàng hóa trong kho và thông báo lại cho công ty. Hai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status