Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
MỤC LỤC
Thị trường xuất khẩu gạo ............................................................................................................. 28
Thị trường .................................................................................................................................. 28
Thị trường Châu Phi: ............................................................................................................ 39
Đề tài nghiên cứu khoa học
1
Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển của thị trường tự do và dân chủ khắp thế giới đang cho phép
nhiều người khắp nơi chuyển hoài bão thành thành tựu. Công nghệ được làm chủ
đúng cách và phân phối tự do sẽ có sức mạnh xóa bỏ không chỉ biên giới địa lý mà
còn biên giới dân tộc. Khi một nước chảy vào dòng chảy toàn cầu hóa, giới tinh
hoa của đất nước đó bắt đầu chuyển tải viễn cảnh hội nhập vào bên trong và cố tìm
cho họ một chỗ đứng trong bối cảnh toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa đã phá đi nhiều
bức tường ngăn cachsdan chúng và nối cả thế giới vào một mối, nó mang lại cho cá
nhân khả năng chi phối cả các thị trường lẫn các quốc gia trong bất cứ thời điểm
nào. Từng ngày từng giờ cả thế giới đang vận động hòa mình vào dòng thác kinh tế
toàn cầu và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Cùng với nhịp độ sôi động của nền
kinh tế thế giới thì nền kinh tế Việt Nam để có thể phát triển và hội nhập thì phải
tìm được hướng đi cho nền sản xuất. Trong những năm qua Việt Nam đã và đang
chú trọng hướng vào nền sản xuất cho xuất khẩu, trong đó mặt hàng chủ lực là
nông sản luôn chiếm tỷ trọng lớn và là đối tượng hàng đầu của chính sách nhà
nước. Thế giới đang được làm phẳng, biên giới quốc gia chỉ có ý nghĩa về mặt địa
lý, vậy để khẳng định được tên tuổi quốc gia trên thế giới và cạnh tranh với nước
ngoài phải thông qua chất lượng của hàng hóa, nên khi nghiên cứu lĩnh vực xuất
khẩu nông sản chúng ta phải quan tâm đến chất lượng của hàng nông sản. Tuy
nhiên trong phạm vi của đề tài, chúng tôi không thể nghiên cứu đầy đủ tất cả các
lĩnh vực chất lượng hàng nông sản mà chúng tôi chỉ hướng tới chất lượng gạo của
Việt Nam. Thông qua sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn, chúng tôi đã
đưa ra những phân tích , đánh giá thực trạng của chất lượng gạo xuất khẩu của Việt
ta cũng đừng bao giờ ảo tưởng rằng chỉ tham gia tích cực vào kinh tế thế giới
không thôi mà có thể tạo được xã hội lành mạnh. Nếu hội nhập đạt được trong
điều kiện phải hy sinh bản sắc của một đất nước, nếu các cá nhân cảm thấy họ bị
mất gốc trong cơn lốc toàn cầu tì họ sẽ phản kháng và ngăn cản quá trình này.
Do đó sự sống còn của toàn cầu hóa phụ thuộc một phần vào nỗ lực của chúng
ta xây dựng sự cân bằng giữa phát triển và cội nguồn.
Toàn cầu hóa không chỉ là một thứ mốt kinh tế, không phải là một khuynh
hướng nhất thời. Nó là một hệ thống quốc tế, một hệ thống chủ đạo. Toàn cầu
hóa đã phá sập tất cả những bức tường của hệ thống chiến tranh lạnh, giúp cho
Đề tài nghiên cứu khoa học
3
Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
thế giới tập hợp lại với nhau, xé bỏ ngăn cách, tạo lập được một cánh đồng
thẳng tắp. Ngày nay, cánh đồng này mở rộng hơn với tốc độ nhanh hơn, ngày
càng có nhiều bức tường sụp đổ và nhiều quốc gia bị hút vào. Chính vì thế, ngày
nay không còn khái niệm thế giới thứ nhất, thứ hai, hay thứ ba nữa. Ngày nay,
chỉ còn là thế giới phát triển nhanh và thế giới phát triển chậm chạp- thế giới của
những người bị đào thải sang bên lề hay những người tự chọn theo lối sống biệt
lập không muốn nhập vào cánh đồng rộng lớn nói trên.
1.2 Những đặc trưng của toàn cầu hoá
Thế giới hiện nay đã trở thành một nơi có những quan hệ ngày càng
chồng chéo đan xen. Dù bạn là một công ty hay là một đất nước thì những mối
đe dọa cũng như những cơ hội sẽ đến với bạn chính từ những đối tác mà bạn có
quan hệ. Toàn cầu hóa là quá trình phát triển năng động là một sự hội nhập
không thể đảo ngược giữa những thị trường, quốc gia và công nghệ tới mức
chưa từng có, theo phương cách tạo điều kiện cho các cá nhân, tập đoàn công ty
và nhà nước vươn quan hệ đến nhiều nơi trên thế giới, xa hơn, sâu hơn với chi
phí thấp hơn bao giờ hết.
Quá trình toàn cầu hóa cũng khiến nảy sinh chống đối dữ dội từ những ai
bị thiệt hại hay bị hệ thống mới bỏ rơi. Ý tưởng làm động lực cho toàn cầu hóa
hướng toàn cầu trên phương diện thực phẩm, lương thực, thời trang, thị trường
và giải trí.
Quan trọng hơn, toàn cầu hóa mang đặc trưng cấu trúc quyền lực riêng .
Toàn cầu hóa được xây dựng trên ba cán cân quyền lực chồng chéo và quan hệ
tương hỗ. Trước hết là sự đối trọng truyền thống giữa các quốc gia. Trong toàn
cầu hóa Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất, và tất cả các nước khác ít nhiều đều phụ
thuộc vào Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đối trọng quyền lực giữa Hoa Kỳ và các nước
khác vẫn đóng vai trò duy trì ổn định cho toàn hệ thống. Cán cân quyền lực thứ
hai là giữa các quốc gia và thị trường toàn cầu. Đối trọng về quyền lực thứ ba
trong hệ thống toàn cầu hóa là giữa các cá nhân và các nhà nước. Do toàn cầu
hóa đã phá đi nhiều bức tường ngăn cách dân chúng và nối thế giới lại với nhau
nên các cá nhân có thể tự mình hoạt động trên thị trường thế giới mà không cần
sự môi giới của nhà nước. Các quốc gia và đặc biệt là siêu cường Mỹ ngày nay
Đề tài nghiên cứu khoa học
5
Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
vẫn có vai trò quan trọng. Nhưng quan trọng không kém, là vai trò của các siêu
thị và các cá nhân có quyền lực lớn. Toàn cầu hóa là tổng hòa quan hệ phức tạp
giữa ba yếu tố: nhà nước va chạm với nhà nước, nhà nước va chạm với các siêu
thị và siêu thị cùng nhà nước va chạm với những cá nhân có quyền lực lớn. Hệ
thống toàn cầu hóa làm nảy sinh những nguồn lực phát triển mạnh mẽ, cũng như
khả năng đồng hóa có tốc độ chóng mặt.
Như những gì đã nói ở trên, toàn càu hóa là yêu cầu khách quan mang
tính chất thời đại. Sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ đã dần xóa
đi biên giới của các quốc gia. Việc dân chủ hóa công nghệ đồng thời có nghĩa là
tiềm năng làm giàu sẽ được sẻ theo vị trí địa lý. Chúng giúp cho nhiều sắc dân ở
nhiều vùng sâu vùng xa những cơ hội để họ tiếp cận và áp dụng kiến thức.
Chính cách mạng khoa học công nghệ đã đưa lại sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
quốc gia và giúp các quốc gia xâm nhập sâu hơn vào thị trường thế giới. Tiếp
theo, phân công lao động tạo ra sự phụ thuộc giữa các quốc gia trong toàn bộ
1.3 Những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế với Việt Nam
Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có 3 chủ thể: nhà nước,
doanh nghiệp và người tiêu dùng. Nếu xem xét một cách riêng biệt lợi ích của ba
chủ thể đó, việc tham gia các liên kết kinh tế quốc tế có ảnh hưởng rất khác nhau.
Lợi ích trực tiếp của nhà nước là nguồn thu thuế xuất nhập khẩu sẽ giảm
sút, nếu như không tác động kích thích tăng lượng buôn bán quốc tế đến mức
mà số lượng thu được từ thuế do tăng doanh thu không bù đắp được sự cắt giảm
thu do giảm thuế suất.
Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh chịu hai loại tác động ngược chiều:
được lợi do tăng được khả năng cạnh tranh về giá cả và chịu sức ép cạnh tranh
lớn hơn do xoá bỏ các hàng rào bảo hộ thuế và phi thuế. Việc cắt giảm thuế xuất
nhập khẩu không ảnh hưởng trực tiếp đến tài chính doanh nghiệp, bởi vì thuế
xuất nhập khẩu là thuế gián thu, một thành phần của giá thành, sẽ do người tiêu
dùng chi trả.
Người tiêu dùng được lợi do giá cả rẻ hơn và chủng loại, chất lượng hàng
hoá phong phú, đa dạng hơn.
Đề tài nghiên cứu khoa học
7
Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Có thể nói rằng thiệt hại trực tiếp của nhà nước về thuế và sự được lợi
trực tiếp của người tiêu dùng do giảm thuế trong giá là hai khoản bù trừ cho
nhau. Đây là sự thay đổi trong phân phối thu nhập, phần thu nhập của Chính Phủ
chuyển sang tay tư nhân. Điều này sẽ gián tiếp tác động đến cơ cấu đầu tư xét
theo chủ thể kinh tế. Đầu tư của tư nhân cho sản xuất kinh doanh sẽ có thể tăng
lên trong tương lai nhờ khoản tiết kiệm qua giá mua hàng rẻ hơn.
Tác động hai mặt của việc xoá bỏ hàng rào bảo hộ mậu dịch đối với các
doanh nghiệp trông dễ thấy về định tính, song khó dự báo về điịnh lượng. Xoá
bỏ bảo hộ có thể buộc doanh nghiệp phải cải tổ toàn diên để đối dầu trực tiếp
với sức ép cạnh tranh từ các nước trong khu vực. Cạnh tranh có thể thúc đẩy sản
xuất phát triển , nhưng đồng thời có thể làm điêu đứng và phá sản hàng loạt
chất lượng sản phẩm, hàng hóa là mức độ của các dặc tính của sản phẩm, hàng
hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn, kỹ thuât
tương ứng. Về thực chat, chất lượng sản phẩm là độ thỏa mãn nhu cầu. Chất
lượng sản phẩm là tổng hợp các tính chất, các đặc trưng của một sản phẩm tạo
nên giá trị sử dụng, thể hiện khả năng mức độ thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng với
hiệu quả cao, trong những điều kiện nhất định của sản xuất, kinh tế xã hội.
Khi đề cập đến chất lượng sản phẩm phải chú ý: thứ nhất, giá trị sử dụng
của sản phẩm và chất lượng sản phẩm không phải là khái niêm đồng nghĩa,
chất lượng là thước đo mức độ hữu ích của giá trị sử dụng, biểu thị trình độ giá
trị sử dụng của hàng hóa hay nói cách một cách khác, chất lượng được đo bởi
sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và người sử dụng. Một sản phẩm có chất
lượng cao hay thấp phụ thuộc vào mức độ thỏa mãn nhu cầu của sản phẩm đó.
Một sản phẩm không được nhu cầu chấp nhận thì sản phẩm đó được coi là có
chất lượng kém.
Thứ hai, nhu cầu của con người luôn biến động theo thời gian, không gian
và điều kiện sử dụng. Các doanh nghiệp muốn nâng cao khả năng cạnh tranh,
nâng cao uy tín trước khách hàng cần nghiên cứu kỹ nhu cầu của khách hàng và
đáp ứng tốt các nhu cầu đó. Để thực hiện được nhiêm vụ trên, doanh nghệp cần
định kỳ xem xét lại yêu cầu chất lượng để sản xuất ra sản phẩm có chất lượng.
Thứ ba, giữa các đối tượng khác nhau, nhu cầu rất khác nhau. Doanh
nghiệp không thể sản xuất sản phẩm phù hợp cho từng đối tượng cụ thể mà chỉ
có thể sản xuất sản phẩm phù hợp với từng nhóm khách hàng. Vì vậy, khi xác
Đề tài nghiên cứu khoa học
9
Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
định các chỉ tiêu chất lượng, doanh nghiệp phải xem xét đến đặc tính của đối
tượng liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể.
Thứ tư, chất lượng có thể công bố dưới dạng các qui định tiêu chuẩn rõ
rang hoặc chỉ cảm nhận , phát hiện được trong quá trình sử dụng. Do đó, những
tính chất cũng như những đặc trưng của sản phẩm có thể được xác định bằng
sàng mua sắm hàng hóa của doanh nghiệp khi có nhu cầu. Chính điều này làm
cho doanh nghiệp có khả năng tăng doanh thu và tăng lợi nhuận. Chất lượng sản
phẩm làm gia tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Tạo ra sức hấp dẫn thu hút
người mua, mỗi sản phẩm có rất nhiều tính chất, lượng khác nhau, các thuộc
tính này coi là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh của mỗi
doanh nghiệp. Khách hàng lựa chọn mua hàng vào những sản phẩm có thuộc
tính phù hợp với nhu cầu, sở thích và khả năng , điều kiện sử dụng của mình. Họ
so sánh các sản phẩm cùng loại và lựa chọn loại hàng nào có những thuộc tính
kinh tế- kỹ thuật thỏa mãn những mong đợi của họ ở mức cao hơn. Bởi vậy sản
phẩm có thuộc tính chất cao là một trong những căn cứ quan trọng cho quyết
định mua hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngoài ra,
Chất lượng sản phẩn còn nâng cao vị thế , sự phát triển lâu dài cho doanh nghiệp
trên thị trường. Khi sản phẩm chất lượng cao, ổn định, đáp ứng được nhu cầu cử
khách hàng sẽ tạo ra một biểu tượng tốt, tạo ra niềm tin cho khách hàng vào
nhãn mác sản phẩm. Nhờ đó uy tín, và danh tiếng của doanh nghiệp được nâng
cao, tác động to lớn đến quyết định lựa chọn mua hàng của khách hàng. Đặc biệt
trong môi trường kinh tế hội nhập ngày nay, cạnh tranh sẽ trở thành một yếu tố
mang tính quốc tế, đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi
doanh nghiệp. Theo M.E. Porre (Mỹ) thì khả năng cạnh tranh của mỗi doanh
nghiệp được thể hiên thông qua hai chiến lược cơ bản là: phân biệt hóa sản
phẩm (chất lượng sản phẩm) và chi phí thấp. Chất lượng sản phẩm trở thành một
trong những chiến lược quan trọng nhất làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Chấp nhân kinh tế thị trường nghĩa là chấp nhận cạnh tranh, chịu tác
động của quy luật cạnh tranh. Sản phẩm, dịch vụ muốn có tính cạnh tranh cao
thì phải đạt được những mục tiêu chất lượng sản phẩm hàng hóa.
Đề tài nghiên cứu khoa học
11
Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
2.3 Quy trình hình thành chât lượng
Trong bất kỳ sản phẩm nào, chất lượng cũng được hình thành qua nhiều giai
thường được cải tiến hơn quy trình trước theo xu hướng thay đổi của thị trường.
Ta có thể mô hình hó chu trình hình thành chất lượng sản phẩm theo một chu
trình khép kín, xuất phát từ thị trường và quay về thị trường. ( hình 1)
Đề tài nghiên cứu khoa học
Marketing và nghiên
cứu thị trường
Đóng gói lưu kho
Xử lý cuối chu kỳ sử
dụng
Dịch vụ sau bán hàng
Trợ giúp kỹ thuật
Lắp đặt đưa vào sử
dụng
Bán, phân phối
Thiết kế và phát triển
Hoạch định quá trình
và phát triển
Cung ứng
Sản xuất hay chuẩn bị
dịch vụ
Kiểm tra, xác nhận
Qui
trình
chất
lượng
13
Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Muốn sản xuất ra sản phẩm dịch vụ, người ta phải có những chi phí nhất
định, được biết là các chi phí về nguyên nhiên vật liệu. Mỗi loại sản phẩm dịch
vụ đều có yêu cầu nhât định về vật tư kỹ thuật khác nhau. Tuy nhiên , khi tiến
sản phẩm phù hợp.
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, hàng hóa sản xuất ra ngày càng
đa dạng với độ tinh xảo ngày càng cao. Con người ngày càng có điều kiện
tiếp cận với cái mới, nhu cầu ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Tiến bộ
khoa học kỹ thuật càng nhanh, công nghệ sản xuất được cải tiến mạnh mẽ,
chu kỳ sống của sản phẩm có xu thế bị rút ngắn lại, chất lượng sản phẩm
nhanh chóng bị giảm sút. Vì vậy, các doanh nghiệp trong quá trình kinh
doanh phải thường xuyên xem xét lại các chỉ tiêu chất lượng để điều chỉnh
cho phù hợp với nhu cầu.
Mặt khác, nhà nước rất quan tâm đến việc đầu tư nâng cao chất lượng sản
phẩm để không ngừng nâng cao độ thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, nâng
cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, xóa bỏ các rào cản giúp các doanh
nghiệp hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Cho nên hiệu lực của cơ chế quản lý
ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của sản phẩm.
2.4 Phương pháp quản lý chất lượng
Để đảm bảo chất lượng của hàng hóa, người ta đã hình thành nên các
phương pháp quản lý chất lượng. Hiên nay tồn tại ba phương pháp quản lý chủ yếu:
Thứ nhất: kiểm tra chất lượng- sự phù hợp. Kiểm tra chất lượng là hoạt
động như đo, xem xét, thử nghiệm và định cỡ một hay nhiều đặc tính của đối
tượng và so sánh kết quả với yêu cầu nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc
tính. Đây là phương pháp phổ biến nhất nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm
nhưng phương pháp này về mặt thực chất chỉ là sự phân loại các sản phẩm đã
sản xuất. Quản lý chất lượng theo phương pháp này được thực hiện dựa trên
quan điểm: muốn nâng cao chất lượng sản phẩm chr cần nâng cao các chỉ tiêu
kỹ thuât thông qua việc kiểm tra chặt chẽ sản xuất để tránh sản phẩm hỏng đi
vào lưu thông.
Thứ hai: Phương pháp kiểm tra chất lượng toàn diện là phương pháp kiểm
tra các hoạt độngcủa các bộ phận của doanh nghiệp. Về thực chất, đây là việc
Đề tài nghiên cứu khoa học
15
Đề tài nghiên cứu khoa học
16
Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
người cung ứng và khách hàng. Chứng nhận sản phẩm thường bắt buộc đối với
những sản phẩm lien quan đến an toàn vệ sinh, sức khỏe và môi trường.Tùy theo
thể thức mà người ta chia làm 8 hệ thống chứng nhận. (Bảng 2)
Bảng 2:Hệ thống chứng nhận chất lượng sản phẩm
Phương pháp đánh giá
Hệ thống
1 2 3 4 5 6 7
Thử điển hình + + + + + 8
Kiểm tra lô +
Kiểm tra 100%
Đánh giá điều kiện đảm
bảo chất lượng
+ +
Giám sát sau chứng nhận
Kiểm tra mẫu tại cơ sở sx + + +
Kiểm tra mẫu trên hiện
trường
+ + +
Hệ thống chứng nhận sản phẩm do Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất
lượng Việt Nam cấp về cơ bản là hệ thống 5.
Thứ ba: Giám định kiểm tra là quá trình xem xét, đo lường thử nghiệm
các đặc trưng nào đó của sản phẩm và so sánh với các chuẩn mực quy định
nhằm xác định sự phù hợp của các đặc tính. Hoạt động giám điịnh/ kiểm tra
thường được thực hiện bởi bên thứ ba.
Thứ tư: Thử nghiệm , hiệu chuẩn là hoạt động cung cấp bằng chứng về sự
phù hợp của sản phẩm so với các yêu cầu quy định phục vụ hoạt động kiểm tra,
lượng gạo ảnh hưởng bởi đặc tính do gen điều khiển, các điều kiện môi trường
và các công nghệ chế biến. Trong trường hợp ảnh hưởng do chế biến, các đặc
tính chi phối đó là tồn trữ và phân phối. Kiểu gen của một giống cụ thể ức chế
mức độ lớn các đặc điểm chất lượng hạt. Những nhà lai tạo giống và di truyền
học tiếp tục cải thiện gen của các giống mới để tạo ra sản phẩm mong muốn. Sự
chọn lọc chú trọng cải thiện chất lượng xay chà, nấu, ăn và chế biến là những
Đề tài nghiên cứu khoa học
18
Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
thành phần chủ yếu của chương trình tao giống dựa trên nền tảng của các tiêu
chuẩn công nghiệp. Quan tâm gần đây trong việc tạo ra giống chất lượng cho thị
trường xuất khẩu là kết quả trong sự lựa chọn hương vị đặc biệt và các đặc điểm
nấu ăn được ưa thích bởi người tiêu thụ.
3.2 Đặc điểm của một số loại gạo Viêt Nam
Gạo trắng hạt dài Việt Nam 5% tấm
Tấm (hạt ¾): 5% tối đa - Độ ẩm: 14% tối đa. - Bạc bụng: 6% tối đa. - Hạt
vàng: 0,5% tối đa. - Hạt đỏ và sọc đỏ: 1% tối đa - Hạt hỏng: 0,75% tối đa. - Hạt
nếp: 0,5% tối đa - Tạp chất: 0,1% tối đa. - Thóc (hạt/kg): 15 hạt/kg tối đa. -
Chiều dài trung bình hạt: 6,2mm tối thiểu - Độ xay xát: trắng kỹ.
Gạo trắng hạt dài Việt Nam 10% tấm 2 bóng
Tấm (hạt ¾): 10% tối đa - Độ ẩm: 14% tối đa. - Bạc bụng: 5% tối đa. -
Hạt vàng: 0,5% tối đa. - Hạt đỏ và sọc đỏ: 0,5% tối đa - Hạt hỏng: 1% tối đa. -
Hạt nếp: 0,5% tối đa - Hạt non và tạp chất: 0,2% tối đa. - Thóc (hạt/kg): 10
hạt/kg tối đa. - Độ xay xát: trắng kỹ và lau bóng 2 lần.
Gạo trắng hạt dài Việt Nam 10% tấm
Tấm (hạt ¾): 15% tối đa - Độ ẩm: 14% tối đa. - Bạc bụng: 7% tối đa. -
Hạt vàng: 1% tối đa. - Hạt đỏ và sọc đỏ: 2% tối đa - Hạt hỏng: 1% tối đa. - Hạt
nếp: 1% tối đa - Tạp chất: 0,2% tối đa. - Thóc (hạt/kg): 25 hạt/kg tối đa. - Chiều
dài trung bình hạt: 6,2mm tối thiểu - Độ xay xát: trắng kỹ.
Gạo trắng hạt dài Việt Nam 25% tấm
Kiểu hạt hơi thon, hơi tròn, và tròn, không bạc bụng khi chà với ẩm độ
14% không dễ gãy và có năng suất gạo nguyên cao. Tỷ lệ gạo xay cao và màu
sắc của gạo rất quan trọng. Các giống khác nhau có kiểu và cường độ mùi thơm
khác nhau. Hương thơm trong gạo là do chất hóa học diacetyl- 1 pyroproline tạo
nên. Chất lượng gạo nấu và ăn thay đổi theo vùng. Gạo xay có hạt trong mờ,
thon dài có hoặc không có mùi thơm, có độ nở nhiều khi nấu (do sự kéo dài
nhân hạt), có tính mịn (không dính và mềm), cấu trúc hạt chắc, mùi vị hấp dẫn
và thời hạn sử dụng kéo dài được ưa chuộng trong thị trường nội địa cũng như
thị trường quốc tế (Prasad, 2002). Hình dưới đây trình bày các kiểu hạt dài,
trung bình và ngắn điển hình của Mỹ. Trong cột đầu tiên bên phải (1 đến 3) là
Đề tài nghiên cứu khoa học
20
Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
kiểu hạt lúa (rough rice or paddy rice). Cột ở giữa (1 đến 3) là gạo lức/gạo chưa
qua đánh bóng (brown rice or unpolished rice). Cột cuối bên trái (1 đến 3) là gạo
trắng (milled rice/white rice/head rice). Mỗi loại bao gồm cả dạng hạt dài, trung
bình và ngắn.
Hình : Các loại gạo dài, trung bình, ngắn điển hình
Nguồn: W eeb et al., (1985)
Màu của vỏ cám: Theo
Bùi và Nguyên (2000) màu vỏ
cám bao gồm màu trắng nâu
sáng, nâu tối, nâu, đỏ, tím sáng
và tím.
Mức độ bạc bụng: Mức
độ bạc bụng của hạt gạo được
chia như sau: (cấp 0): không
bạc bung; (Cấp 1): vùng bạc bụng ít hơn 10% ở trong hạt gạo; (Cấp 5): diện tích
bạc bụng trung bình 11- 20%; (Cấp 9): hơn 20%.
Thành phần hạt gạo sau khi xay chà: Nó gồm có vỏ trấu; cám, gạo lức; gạo
là điều kiện tối hảo cho chất lượng gạo tốt.
GT thấp 55 – 69
0
C
GT trung bình 75- 79
0
C
GT cao 75 – 79
o
C
Độ bền gel: Tiêu chuẩn Quốc tế cho độ bền gel dựa vào chiều dài gel.
Trong nhóm gạo, các giống có cùng hàm lượng amylose nhưng độ bền gel cao
hơn được ưa chuộng hơn.
1 80 – 100 mm mềm
3 61 – 80 mm mềm
5 41 – 60 mm trung bình
Đề tài nghiên cứu khoa học
22
Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
7 36 – 40 mm cứng
9 < 35 mm cứng
Chất lượng dinh dưỡng và hương vị
Hương vị: vị ngon hoặc hương thơm trong gạo được tạo bởi hóa chất
diacetyl-1- pyroproline. Theo Bùi và Nguyễn (2000) đánh giá tiêu chuẩn theo
Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc Tế (IRRI) được chia làm 3 mức độ:
0 không thơm
1 ít thơm
2 thơm nhiều
Chất dinh dưỡng: Tinh bột cao nhất ở lúa mì 81.1%, tiếp đó là gạo 74.8%
và thấp nhất trong cây lúa miến 67.4%. Thành phần quan trọng thứ hai trong gạo
1 Thái Lan 7.750.000 tấn
2 Việt Nam 4.250.000 tấn
3 Ấn Độ 4.000.000 tấn
4 Mỹ 3.400.000 tấn
5 Trung Quốc 2.250.000 tấn
6 Pakistan 1.100.000 tấn
7 Miến Điện 1.000.000 tấn
8 Uruguay 650.000 tấn
9 Ai Cập 400.000 tấn
10 Argerntina 350.000 tấn
Theo VietNamNet, 4/4/2003
Dự báo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
Đề tài nghiên cứu khoa học
24
Chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Có được thành tựu đó là do sản xuất lúa chuyển dịch theo hướng đầu tư
thâm canh, tăng chất lượng gạo nên gạo xuất khẩu cũng tăng nhanh cả về số
lượng, chất lượng và giá cả. Lượng gạo xuất khẩu năm 2001 là 3,7 triệu tấn,
năm 2002 là 3,2 triệu tấn, năm 2003 là 4.25 triệu tấn, năm 2004 là 4,1 triệu tấn.
Năm 2005, lần đầu tiên xuất khẩu gạo đạt mức 5,3 triệu tấn thu về cho đất nước
hơn 1,34 tỉ USD, giá gạo bình quân đạt 267 USD/tấn. Đây là mức cao nhất đạt
được trên cả 3 chỉ tiêu số lượng, kim ngạch và giá cả xuất khẩu kể từ khi Việt
Nam chính thức tham gia thị trường gạo thế giới. So với năm 2004, lượng gạo
xuất khẩu tăng gần 1,2 triệu tấn (25%), kim ngạch tăng trên 400 triệu USD
(45%) và giá cả tăng 48 USD/tấn (15%). Đây là năm thứ 17 Việt Nam liên tục
xuất khẩu gạo, là năm thứ 3 đạt lượng gạo xuất khẩu trên 4 triệu tấn, năm thứ 2
đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD; và giữ vững vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu
gạo (vượt qua Ấn Độ). Thành tựu không chỉ dừng lại ở đó mà còn được nâng
cao hơn khi thị trường xuất khẩu gạo tiếp tục được mở rộng nhờ chất lượng gạo
xuất khẩu Việt Nam được nâng lên đáng kể so với các năm trước. Năm 2005,