Hạn chế rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Tháng 7/2000 đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng của nền kinh tế Việt
Nam đó là việc trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh chính
thức thực hiện phiên giao dịch đầu tiên, mở ra một thời kì phát triển mạnh mẽ cho
cả nền kinh tế, thời kì hội nhập kinh tế quốc tế. Kể từ đó đến nay thị trường chứng
khoán Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc ngoài sức tưởng tượng, từ
một thị trường sơ khai với vài mã cổ phiếu đến nay thị trường đã có trên 200 mã cổ
phiếu được giao dịch chính thức với tổng giá trị giao dịch hàng nghìn tỷ đồng.
Người dân Việt Nam cũng đã trở nên quen thuộc với các khái niệm đầu tư chứng
khoán, cổ phiếu, cổ phần…Và thị trường chứng khoán cũng không còn cái cảnh cứ
mua cổ phiếu là lãi như thời gian đầu mới hoạt động. Cùng với việc thị trường
chứng khoán dần đi vào quy luật thì nhà đầu tư cũng phải dần chuyên nghiệp hơn.
Sự xâm chiếm tất yếu của các tổ chức tài chính vào mảnh đất màu mỡ - thị trường
chứng khoán đang diễn ra một cách nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệt là ngân
hàng – trung gian tài chính khổng lồ của nền kinh tế. Bên cạnh việc thành lập ra các
công ty chứng khoán thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn về chứng khoán, bảo
lãnh phát hành chứng khoán, ngân hàng còn triển khai một nghiệp vụ quan trong
không kém đó là cho vay cầm cố chứng khoán, đây là một nghiệp vụ cho vay bình
thường có tính thông lệ quốc tế về hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng trên thế
giới đã triển khai nghiệp vụ này từ rất lâu song đối với các ngân hàng Việt Nam thì
đây là một hoạt động hoàn toàn mới. Nhu cầu vay vốn đầu tư của các nhà đầu tư
Việt Nam là rất lớn do khả năng tài chính hạn hẹp vì vậy đây là một thị trường béo
bở cho các ngân hàng thu lợi.
Tuy vậy do có ít kinh nghiệm về nghiệp vụ này nên những rủi ro cho ngân
hàng là không thể tránh khỏi, đặc biệt là mức độ rủi ro của thị trường chứng khoán
Việt Nam là rất cao, tính quy luật còn thấp, đầu tư mang tính bày đàn, những ngân
hàng nào coi thường các biện pháp quản trị rủi ro sẽ phải chịu hậu quả, có thể dẫn
đến hậu quả to lớn cho ngân hàng như: phá sản và ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh
tế. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề quản trị rủi ro đối với nghiệp vụ cho
vay cầm cố như vậy, trong quá trình thực tập tại ngân hàng No&PTNT Hà Nội em
đã chọn đề tài: “Hạn chế rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu tại ngân hàng

khoản tiết kiệm.
Trong mọi thời kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên quan trọng nhất
trên thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành để tài
trợ cho các công trình công cộng như trường học, bệnh viện, các công trình giao
thông.
Để tránh sự nhầm lẫn giữa ngân hàng và các tổ chức tài chính khác, cách tiếp
cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện những loại
hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Theo cách này thì ngân hàng là loại hình tổ chức
tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín
dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất
so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Theo cách tiếp cận này thì hoạt động cơ bản của ngân hàng bao gồm 3 hoạt
động chính: cho vay, nhận tiền gửi và cung cấp các dịch vụ khác.
* Cho vay:
Khi mới ra đời, ngân hàng thực thiện chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho
vay với các doanh nhân địa phương (họ bán các khoản phải thu cho ngân hàng để
lấy tiền mặt). Sau đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay
trực tiếp với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng hóa dự trữ, mua sắm
thiết bị nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
* Nhận tiền gửi:
Cho vay được cho là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng tìm kiếm mọi
cách để huy động được nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn quan trọng là
các khoản tiền gửi của khách hàng (bao gồm tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh
toán). Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng với cam kết hoàn trả đúng hạn phần
gốc cộng thêm một phần tiền lãi theo lãi suất trong hợp đồng coi như phí sử dụng
khoản tiền gửi của ngân hàng.
* Cung cấp các dịch vụ khác: Ngoài nhận tiền gửi và cho vay, ngân hàng còn cung
cấp các dịch sau:
+ Kinh doanh ngoại tệ: là một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được
thực hiện để đáp ứng nhu cầu buôn bán giữa các vùng hay các quốc gia với nhau.

trong bảo lãnh cho khách hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của
mình mua hàng hóa, trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn tổ chức tín
dụng khác…
+ Dịch vụ thuê mua thiết bị: Ngân hàng cho khách hàng kinh doanh quyền
lựa chọn mua các thiết bị máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong
đó khách hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Cuối hợp đồng khách hàng có
thể mua lại tài sản. Hợp đồng thuê mua thường phải bảo đảm yêu cầu khách hàng
phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê.
+ Dịch vụ ủy thác và tư vấn: các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia trong
lĩnh vực quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân
hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ ủy thác phát triển
sang cả ủy thác vây hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư… Nhiều khách hàng tìm
đến ngân hàng để nhận được lời tư vấn về quản lý tài chính, thành lập, mua bán hay
sáp nhập doanh nghiệp.
+ Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: ngân hàng bán các dịch vụ môi giới
chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các
chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong
một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty
môi giới chứng khoán.
+ Dịch vụ bảo hiểm: các ngân hàng bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó
đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro
mất khả năng thanh toán.
+ Các dịch vụ đại lý: các ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết
lập các chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng lớn cung cấp
dịch vụ đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng
chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…
1.1.2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay
Cho vay là một trong những hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng,
theo đó tổ chức tín dụng sẽ chuyển giao cho bên vay (khách hàng) một khoản vốn

+ Các khoản cho vay khác: gồm các khoản cho vay không được xếp loại ở
trên và các khoản cho vay kinh doanh chứng khoán.
* Căn cứ vào khách hàng vay vốn
+ Cho vay đối với các tổ chức tài chính: bao gồm các khoản cho vay dành
cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính
khác.
+ Cho vay các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
+ Cho vay cá nhân, hộ gia đình: bao gồm những khoản cho vay sản xuất
hoặc tiêu dùng.
* Căn cứ theo phương thức cho vay
+ Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay phổ biến của ngân hàng
đối với các khách hàng không có nhu cầu vốn thường xuyên. Một số khách hàng sử
dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ,
hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng. Vốn ngân hàng chỉ tham gia vào
một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng
vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay, xác định quy
mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu
cần. Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ khác nhau.
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá
trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử
dùng vốn, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn,
hoặc chuyển nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hay thả nổi theo thời điểm tính lãi.
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm soát
từng món vay tách biệt. Tiền cho vay dựa vào giá trị tài sản đảm bảo.
+ Cho vay theo hạn mức: là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng thỏa
thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả
kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Cho vay theo hạn mức cả kỳ: trong kỳ khách hàng có thể vay trả nhiều lần,
song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng.

biến của các ngân hàng.
+ Cho vay gián tiếp: đây là hình thức ngân hàng cho vay qua các tổ chức
trung gian.
Ngân hàng cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như Hội Cựu chiến binh, Hội
Phụ nữ, Hội Nông dân… Các tổ chức này thường liên kết các thành viên theo lại
với nhau nhằm mục đích phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Ngân hàng có thể
chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung gian như thu
nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra bảo lãnh cho các thành
viên vay. Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc không đủ tài sản thế
chấp.
Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bản lẻ sản phẩm đầu vào
của quá trình sản xuất. Việc cho vay này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền sai mục
đích.
Cho vay gián tiếp thường áp dụng với thị trường có nhiều món vay nhỏ,
người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Trong trường hợp này, cho vay gián tiếp có
thể tiết kiệm được chi phí cho ngân hàng (phân tích, giám sát, thu nợ…).
1.2. Những vấn đề cơ bản về cho vay cầm cố cổ phiếu
1.2.1. Khái niệm cho vay cầm cố cổ phiếu
Thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển một cách mạnh mẽ và
ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cụ thể trong
năm 2007 giá trị trên thị trường chứng khoán đạt 40%GDP. Cùng với việc kết hợp
với các tổ chức kinh tế lớn đặc biệt là ngân hàng thương mại, thị trường chứng
khoán đã tìm được cho mình một kênh cung cấp vốn lớn và hiệu quả, đáp ứng được
nhu cầu phát triển ngày càng cao của mình. Ngân hàng thương mại là một trung
gian tài chính, là tổ chức kinh doanh tiền tệ, ngân hàng thương mại luôn trú trọng
phát triển các dịch vụ của mình một cách đa dạng và phong phú nhằm tìm kiếm các
nguồn tài chính hiệu quả, khi thị trường chứng khoán ra đời ngân hàng thương mại
đã nhìn thấy đây là một thị trường tiềm năng có thể đem lại lợi nhuận cao. Hai tổ
chức kinh tế này đã kết hợp với nhau một cách tất yếu và trở thành một kênh quan
trọng nhất cho hoạt động đầu tư.

với điều kiện phải có tài sản đảm bảo là các loại cổ phiếu đã được niêm yết hoặc
chưa được niêm yết chính thức trên sàn giao dịch. Người vay phải chuyển quyền
kiểm soát tài sản đảm bảo là cổ phiếu sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết
và mức tín dụng mà khách hàng được cấp phụ thuộc vào đánh giá của ngân hàng về
tài sản sản đảm bảo và mức độ rủi ro của khoản vay.
Trong khái niệm này có hai đối tượng: Ngân hàng (đối tượng cho vay),
khách hàng (đối tượng đi vay). Khách hàng là các cá nhân muốn vay tiền với mục
đích dùng vốn vay để đầu tư kinh doanh chứng khoán. Ở Việt Nam hiện nay các
ngân hàng chủ yếu cho vay cầm cố các loại cổ phiếu đã được niêm yết trên sàn, vì
cổ phiếu dạng này có độ rủi ro thấp hơn và dễ kiểm soát hơn
Cũng giống với các hình thức tín dụng khác, khách hàng muốn được vay vốn
của ngân hàng thì điều đầu tiên là khách hàng phải có tài sản đảm bảo, tài sản đảm
bảo có thể là cổ phiếu, các giấy tờ có giá, hoặc các loại chứng khoán khác… ngân
hàng sẽ thẩm định trước khi cho khách hàng vay, và sẽ giữ tài sản đảm bảo của
khách hàng cho đến khi khách hàng hoàn trả đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng.
Nếu như đến hạn mà khách hàng không hoàn trả nợ theo hợp đồng tín dụng thì
ngân hàng có quyền bán hoặc sở hữu những tài sản đó thay thế cho nghĩa vụ trả nợ
của người vay.
Khi khách hàng đã có đầy đủ các điều kiên để được cấp tín dụng, khách hàng
sẽ được cấp tín dụng từ ngân hàng, mức tín dụng này phụ thuộc vào sự đánh giá
của ngân hàng về khoản vay, khoản vay có độ rủi ro càng cao thì mức tín dụng
được cấp càng thấp và ngược lại, độ rủi ro càng thấp thì mức tín dụng được cấp
càng cao. Tuy nhiên mức tín dụng không thể bằng 100% giá trị tài sản đảm bảo. Do
đây là một hình thức có độ rủi ro cao nên ở Việt Nam hiệm nay thông thường các
ngân hàng chỉ cho vay với hạn mức tối đa là 70%. Khách hàng phải cam kết sử
dụng khoản vay đúng mục đích đó là đầu tư chứng khoán và điều này sẽ được ngân
hàng giám sát thông qua các công ty chứng khoán, nhằm hạn chế rủi ro về việc về
việc sử dụng vốn của khách hàng.

1.2.3. Nội dung của hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu

- Nhu cầu vay vốn của khách hàng
- Tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo theo quy định của ngân
hàng nhà nước
- Thị giá của cổ phiếu mà khách hàng đầu tư và mức độ rủi ro của cổ phiếu đó
- Khả năng nguồn vốn của khách hàng
- Khả năng trả nợ của khách hàng
- Giới hạn cho vay tối đa của ngân hàng đối với một khách hàng. Trong thời
hạn vay mức cho vay có thể được xác định lại tuỳ theo giá cổ phiếu
* Giá xử lý
Là mức giá dùng làm căn cứ để xác định thời điểm xử lý tài sản đảm bảo.
Theo đó, khi mức giá cổ phiếu giảm xuống bằng hoặc dưới mức giá xử ký này thì
ngân hàng cho vay có quyền được xử lý tài sản đảm bảo theo những quy đinh ghi
trong hợp đồng tín dụng. mức giá này do ngân hàng đặt ra dựa trên những phân tích
về cổ phiếu và thị trường chứng khoán, nhằm phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng khi
giá cổ phiếu khách hàng đầu tư giảm xuống quá thấp.
* Phương thức trả nợ và giải ngân
Khách hàng có thể lựa chọn phương thức trả nợ trả lãi hàng tháng và vốn trả
vào cuối kì hoặc là trả cả gốc và lãi vào cuối kì. Và ngân hàng có thể giải ngân cho
khách hàng bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, trong trường hợp ngân hàng hợp tác
với một công ty chứng khoán để thực hiện nghiệp vụ này thì phương thức giả ngân
sẽ là chuyển khoản vào thẳng tài khoản đầu tư chứng khoán của khách hàng. Giải
ngân có thể một lần hoặc nhiều lần trong kì hạn nợ.
* Làm thủ tục phong toả, giải toả cổ phiếu tại công ty phát hành, trung tâm lưu
ký chứng khoán
Ngay sau khi việc ký kết hợp đồng cho vay được hoàn tất, ngân hàng sẽ tiến
hành thực hiện phong toả cổ phiếu cầm cố của khách hàng nhằm ngăn chặn các
hành vi giao dịch trên cổ phiếu đó từ phía khách hàng làm ảnh hưởng đến quyền lợi
của ngân hàng, và khi khách hàng đã thực hiện việc trả nợ đầy đủ cả gốc lần lãi cho
ngân hàng thì ngân hàng thực hiện giải toả cổ phiếu cầm cố. Ngân hàng thực hiện
việc phong toả và giải toả cổ phiếu bằng cách gửi giấy đề nghị phong toả và giải

đầu, nhà đầu đã sở hữu được gần 220 triệu giá trị cổ phiếu, thay vì 100 triệu đồng
tiền mặt. Với 220 triệu giá trị cổ phiếu trong tay, giá cổ phiếu lên, nhà đầu tư thu
được lãi siêu lợi mà năng lực của 100 triệu đồng tiền mặt khó có thể làm được khi
rót nguyên vẹn vào các kênh đầu tư khác. Ngược lại, giá cổ phiếu rớt, ngoài mức
giá bị mất, nhà đầu tư phải đội thêm lãi vay ngân hàng; 100 triệu đồng ban đầu có
thể lỗ nặng, khả năng trả nợ bị đe dọa. Do vậy nhà đầu tư có thể phải chịu 3 lần rủi
ro nếu như cả 3 loại cổ phiếu cùng giảm giá và tất nhiên ngân hàng cũng phải gián
tiếp chịu rủi ro cho nhà đầu tư nếu như nhà đầu tư không đủ khả năng thanh toán.
1.3.2. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu
Cho vay cầm cố cổ phiếu cũng là một hoạt động tín dụng do đó rủi ro của nó
cũng mang những rủi ro chung của rủi ro tín dụng và cũng chứa đựng những rủi ro
riêng đặc trưng. Các rủi ro đó là:
* Nguyên nhân bất khả kháng:
đây là nguyên nhân khách quan tác động tới người vay, khiến người vay mất
khả năng thanh toán, những nguyên nhân mang tính vĩ mô như là các quyết định
của chính phủ, bộ tài chính…tác động tới giá cổ phiếu mà nhà đầu tư đem đi cầm
cố hoặc là sự suy thoái về kinh tế, các thảm hoạ tự nhiên, chiến tranh tác động tới
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà nhà đầu tư không thể tính toán trước
được khiến cho giá cổ phiếu xụt giảm dẫn đến tổn thất cho nhà đầu tư. Khi những
tác động của những nguyên nhân bất khả kháng đối với người vay là nặng nề, khả
năng trả nợ của họ bị suy giảm, nhà đầu tư có thể không trả được một phần hoặc
toàn bộ cả gốc và lãi cho ngân hàng.
* Nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay
Nguyên nhân này là do trình độ yếu kém của người vay trong việc phân tích
dự đoán giá cổ phiếu trong tương lai. Họ kì vọng giá cổ phiếu mà họ đầu tư sẽ tăng
và họ sẽ thu được lợi nhuận trong khi trên thực tế phán đoán đó của họ là sai. Đây
là những nguyên nhân hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư do không đủ kiến thức cũng
như kinh nghiệm phân tích dẫn đến rủi ro.
Nguyên nhân này thường là nguyên nhân phổ biến dẫn đến rủi ro trong cho
vay cầm cố cổ phiếu vì vay tiền để cầm cố cổ phiếu là cá nhân mà nhà đầu tư tư các

Tỷ lệ cho vay cầm cố cho vay cầm cố cổ phiếu quá hạn trong kì
cổ phiếu quá hạn trên = x 100%
tổng dư nợ trong kỳ tổn dư nợ cho vay trong kì
Ngoài ra ta có thể sử dụng một chỉ tiêu khác cụ thể hơn đó là tỷ lệ quá hạn từ
cho vay cầm cố cổ phiếu trên tổng dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán. Ta có công
thức thức sau:
tỷ lệ cho vay cầm cố cho vay cầm cố cổ phiếu
cổ phiếu quá hạn trên tổng quá hạn trong kỳ
dư nợ cho vay đầu tư = x 100%
chứng khoán trong kỳ dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán trong kỳ
Để chi tiết hơn nữa và đánh giá chính xác hơn nữa tình hình rủi ro của
nghiệp vụ này ta có thể dùng chỉ tiêu tỷ lệ cho vay cầm cố cổ phiếu quá hạn trên dự
nợ cho vay cầm cố cổ phiếu:
Tỷ lệ cho vay cho vay cầm cố cổ phiếu quá hạn trong kỳ
cầm cố cổ phiếu = x 100%
quá hạn trong kỳ dư nợ cho vay cầm cố cổ phiếu trong kỳ
Sự tăng giảm của tỷ lệ này cho biết mức độ rủi ro của nghiệp vụ này đang tố
lên hay xấu đi.
* Dư nợ cho vay cầm cố cổ phiếu trên tổng dư nợ
là tỷ lệ dư nợ cho vay cầm cố cổ phiếu so với tổng dư nợ của tất cả các
nghiệp cho vay, nó phản ánh mức độ cho vay cầm cố cổ phiếu chiếm tỷ trọng bao
nhiêu trong tổng dư nợ cho vay của ngân hang. Dư nợ cho vay cầm cố cổ phiếu
càng cao thì mức độ rủi ro càng cao vì dư nợ quá hạn cho vay cầm cố cổ phiếu
càng cao và độ tín nhiệm của khách hang cũng giảm đi nếu tỷ lệ cho vay cam cố cổ
phiếu cũng giảm đi.
* Tỷ lệ cho vay trên thị giá
Đây là một chỉ tiêu quan trọng mà ngân hang phải tính toán kỹ cho phù hợp
với khả năng chịu đựng rủi ro của mình. chỉ tiêu này phản ánh mức cho vay tối đa
mà nhà đầu tư có thể vay so với thị giá cổ phiếu được cầm cố. Tỷ lệ này càng cao,
khả năng mất vốn của ngân hàng càng lớn, mức độ rủi càng cao. thị trường chứng

vừa gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng vì đây là một hoạt động đem lại lợi nhuận
cao hơn hẳn so với các hoạt động tín dụng khác, tốc độ quay vòng vốn nhanh, thòi
gian cho vay lại ngắn. đây là các ưu điểm vượt trội của hình thức tín dụng này.
1.3.4.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG CHO VAY CẦM CỐ CỔ PHIẾU
TẠI NGÂN HÀNG NGÂN HÀNG No&PTNT HÀ NỘI
2.1. Khái quát về ngân hàng No&PTNT Hà Nội
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Được thành lập theo quyết định 51 – QĐ/NH/QĐ ngày 27/6/1988 của Tổng
giám đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (nay là thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam) Chi Nhánh Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Thành phố Hà Nội (nay
là NHNo&PTNN Hà Nội) trên cơ sở 28 cán bộ cùng 21 Công ty, xí nghiệp thuộc
lĩnh vực Nông, Lâm, Ngư nghiệp được điều động từ Ngân hàng Công – Nông –
Thương thành phố Hà Nội và 12 Chi nhánh Ngân hàng Phát triển nông nghiệp
huyện đã hội tụ về tụ sở chính tại số 77 phố Lạc Trung, Quận Hai Bà Trưng, Hà
Nội.
Với 1.182 lao động, 18 tỷ nguồn vốn, chủ yếu là tiền gửi Ngân sách huyện
và 16 tỷ dư nợ mà hầu hết là nợ cho vay các xí nghiệp Quốc doanh, các hợp tác xã
đã thành nợ tồn đọng. Cơ sở vật chất không đáp ứng được yêu cầu kinh doanh.
Ngân hàng Phát triển nông nghiệp Hà Nội sớm phải hoạt động trong môi trường
cạnh tranh với các Ngân hàng có bề dày hoạt động kinh doanh và có nhiều lợi thế
hơn hẳn. Không những thế ngân hàng còn luôn trong tình trạng thiếu vốn, thiếu tiền
mặt. Những năm đầu, sự hỗ trợ nguồn vốn của Ngân hàng phát triển Nông nghiệp
Trung ương cũng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu vay vốn của Liên hiệp các
Công ty Lương thực Hà Nội để mua gạo cho nhân dân nội thành, một phần nhu cầu
tiền mặt chi lương cho các doanh nghiệp.
Nhận rõ tránh nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất
nước, mà trọng tâm là phát triển kinh tế nông nghiệp, góp phần đổi mới Nông thôn
ngoại thành Hà Nội. Ngân hàng đã thực hiện những quyết sách táo bạo, đổi mới

Tháng 12/2004, bàn giao chi nhánh Chương Dương về Long Biên và chi
nhánh Tây Hồ về Quảng An.
Năm 2005 thành lập chi nhánh Trần Duy Hưng.
Năm 2006 bàn giao chi nhánh NHNo Cầu Giấy về trực thuộc NHNo&PTNT
Việt Nam
Đến tháng 12/2007, NHNo&PTNT Hà Nội có 11 chi nhánh cấp 2 và 23
phòng giao dịch.
2.1.2. Mô hình tổ chức
2.1.2.1. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng No&PTNT Hà Nội
* Giám đốc.
* Các Phó giám đốc
* Trưởng phòng Kế toán – Ngân quỹ.

Trích đoạn Điều kiện áp dụng: Quy trình cho vay cầm cố cổ phiếu tại ngân hàng No&PTNT Hà Nộ Tình hình cho vay cầm cố cổ phiếu của ngân hàng No&PTNT Hà Nộ thực trạng rủi ro từ hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu của ngân hàng No&PTNT Hà Nộ Công ty cổ phần chứng khoán FPT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status