Báo cáo " Nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cuả đương sự trong tố tụng dân sự " pot - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 3ThS. Nguyễn Công Bình *
ảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của đơng sự là một trong những
nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự.
Nguyên tắc này đợc ghi nhận tại Điều 132
Hiến pháp 1992, Điều 9 Luật tổ chức tòa án
nhân dân và đợc cụ thể hóa trong Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
(PLTTGQCVADS). Việc ghi nhận nguyên tắc
này trong pháp luật là sự phản ánh khách quan
của hoạt động tố tụng dân sự vì mục đích của
tố tụng dân sự là bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mọi chủ thể. Mặt khác, trớc tòa án
thì quyền lợi chỉ có nghĩa khi chứng minh
đợc sự tồn tại của nó.
Thuật ngữ bảo đảm trong tiếng Việt là
làm cho chắc chắn thực hiện đợc.
(1)
Do
vậy, bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của đơng sự trong tố dụng dân sự là
làm cho đơng sự chắc chắn thực hiện đợc
quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ
trớc tòa án. Việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của đơng sự đợc thực hiện thông qua

tố tụng dân sự, tòa án phải bảo đảm cho các
đơng sự thực hiện đợc các quyền sau:
- Quyền đa ra yêu cầu, thay đổi yêu cầu
và phản đối yêu cầu của đơng sự bên kia;
- Quyền cung cấp chứng cứ, đợc biết
chứng cứ do đơng sự bên kia cung cấp, yêu
cầu tòa án tiến hành những biện pháp điều tra
B

* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
4 - Tạp chí luật học

cần thiết;
- Quyền yêu cầu tòa án áp dụng các biện
pháp khẩn cấp tạm thời;
- Quyền yêu cầu thay đổi thẩm phán, hội
thẩm nhân dân, kiểm sát viên, th kí tòa án,
ngời giám định, ngời phiên dịch;
- Quyền tham gia hoà giải, tham gia phiên
tòa;
- Quyền kháng cáo bản án, quyết định của
tòa án.
Khi tham gia tố tụng, các đơng sự đợc
thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nhng
việc thực hiện có hiệu quả hay không còn phụ

xét xử, tòa án cần giải thích, giúp đỡ các
đơng sự biết và thực hiện các quyền, nghĩa
vụ tố tụng của họ cho có hiệu quả. Tòa án
không đợc hạn chế đơng sự thực hiện các
quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ đ đợc pháp
luật thừa nhận. Trong tố tụng, nếu có đơng
sự không có năng lực hành vi tố tụng, vắng
mặt không có tin tức mà không có ai đại diện
thì tòa án phải cử ngời đại diện cho họ.
Trên thực tế, việc thực hiện nguyên tắc
này đ đạt nhiều kết quả, tuy vậy, vẫn không
tránh khỏi những hạn chế nhất định. Một số
vụ án việc giải quyết kéo dài, gây khó khăn,
thiệt hại cho đơng sự. Những hạn chế nêu
trên là do nhiều nguyên nhân khác nhau cả về
lập pháp và thực hiện pháp luật.
Về lập pháp, vẫn còn tình trạng pháp luật
cha theo kịp sự phát triển của x hội; trong
nhiều lĩnh vực vẫn còn thiếu pháp luật để điều
chỉnh hoặc tuy đủ nhng cha phù hợp. Pháp
luật tố tụng dân sự càng chậm đổi mới, sau
nhiều năm Bộ luật dân sự đợc ban hành
nhng Nhà nớc ta vẫn cha ban hành Bộ luật
tố tụng dân sự. Việc giải quyết các vụ án dân
sự phải căn cứ vào PLTTGQCVADS và các
văn bản hớng dẫn của Tòa án nhân dân tối
cao. Nhiều vấn đề PLTTGQCVADS quy định
còn đơn giản; nhiều vấn đề còn cha đợc quy
định nên làm cho các tòa án lúng túng khi vận
dụng. Ví dụ, vấn đề công nhận sự thỏa thuận

nhanh chóng ban hành Bộ luật tố tụng dân sự
để tạo hành lang pháp lí chuẩn mực làm cơ sở
cho hoạt động của tòa án, viện kiểm sát và
những ngời tham gia tố tụng.
Bộ luật tố tụng dân sự phải có đủ các quy
định đảm bảo cho các đơng sự chủ động thực
hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng. Theo quy
định của PLTTGQCVADS thì các đơng sự
hầu nh không chủ động đợc việc thực hiện
các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ. Tuy
Điều 20 Pháp lệnh quy định đơng sự có
quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng
cứ, đợc biết chứng cứ do bên kia cung cấp
nhng trên thực tế không có cơ chế thực hiện.
Sau khi thụ lí vụ án, tòa án thờng triệu tập
các đơng sự đến để lấy lời khai, xác minh,
thu thập chứng cứ, lập hồ sơ vụ án, đơng sự
không biết đợc chứng cứ, lí lẽ bên kia đa ra.
Điều này vừa bất lợi cho các đơng sự trong
việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình,
vừa gây cho tòa án khó khăn trong việc giải
quyết vụ án. Quy trình tố tụng cần đợc quy
định lại theo hớng khi nộp đơn khởi kiện,
ngời khởi kiện phải cung cấp cho tòa án các
chứng cứ, căn cứ pháp lí, lí lẽ chứng minh cho
yêu cầu của họ. Sau khi tòa án thụ lí vụ án, bị
đơn, ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
phải đợc tòa án cho biết yêu cầu, các chứng
cứ, các căn cứ pháp lí, lí lẽ ngời khởi kiện
đa ra Nếu không chấp nhận yêu cầu của

quyết vụ án. Thủ tục tiến hành phiên tòa phải
đợc quy định nh vậy mới phản ánh đợc
bản chất dân chủ của tố tụng dân sự, tôn trọng
quyền tự định đoạt của đơng sự. Thủ tục tiến
hành phiên tòa dân sự đợc quy định trong
pháp luật tố tụng dân sự hiện hành mang
nhiều điểm tơng tự nh thủ tục tố tụng hình
sự nên hạn chế tính tích cực, chủ động của
đơng sự trong tố tụng.
Hiện nay, trong thực tiễn xét xử của tòa
án, lợi dụng vào quy định của Điều 44, 48
PLTTGQCVADS, nhiều đơng sự cố ý không
đến tòa án khi đợc triệu tập để kéo dài quá
trình tố tụng, gây thiệt hại cho đơng sự khác,
lng phí thời gian, tiền của của tòa án. Điều
đó càng phức tạp hơn khi trong vụ án có nhiều
đơng sự. Để tránh sự lạm dụng của đơng sự,
cần quy định chặt chẽ hậu quả pháp lí việc họ
vắng mặt. Theo chúng tôi, nếu đơng sự đ
đợc triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lí
do chính đáng, ngoài việc phạt tiền với mức
phạt hợp lí (khoảng 100.000đ đến 200.000đ)
thì tòa án đợc giải quyết vụ án vắng mặt
đơng sự. Trờng hợp tòa án triệu tập hợp lệ
đơng sự đến tham gia hoà giải mà trong các
đơng sự nếu có ngời vắng mặt không có lí
do chính đáng thì tòa án vẫn quyết định đa
vụ án ra xét xử, trừ trờng hợp tòa án thấy cần
thiết phải hòa giải thì triệu tập lại. Chúng tôi
ủng hộ cách giải quyết trong trờng hợp vụ án

ngời không có trình độ pháp lí và kinh
nghiệm tham gia tố tụng thì không thể bảo vệ
tốt quyền, lợi ích hợp pháp cho đơng sự trớc
tòa án. Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành quy
định đơng sự có thể uỷ quyền hoặc nhờ luật
s hay ngời khác đại diện hoặc bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp trớc tòa án là quá
rộng. Để bảo đảm việc tham gia tố tụng có
hiệu quả của ngời đại diện, ngời bảo vệ
quyền lợi của đơng sự pháp luật cần quy
định chỉ có luật s hoặc ngời có trình độ
pháp lí từ trung cấp luật trở lên thì đơng sự nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 7

mới đợc uỷ quyền đại diện hoặc nhờ bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của họ trớc tòa án.
Tuy nhiên, với điều kiện kinh tế x hội của
nớc ta hiện nay, nếu quy định chỉ có luật s,
ngời có trình độ pháp lí từ trung cấp luật trở
lên đơng sự mới đợc uỷ quyền đại diện bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trớc tòa án
thì không thực tế và sẽ hạn chế quyền tham
gia tố tụng của đơng sự. Vì vậy, ngoài những
ngời đó, cần quy định đơng sự đợc ủy
quyền cho ngời thân đại diện tham gia tố
tụng. Đồng thời pháp luật cũng phải quy định
thủ tục uỷ quyền cho ngời đại diện, thủ tục

hại bằng tài sản của mình (Điều 611). Qua
nghiên cứu, chúng tôi thấy việc tham gia tố
tụng dân sự của cá nhân khác với việc tham
gia vào các quan hệ dân sự, lao động của cá
nhân. Khi tham gia tố tụng dân sự, đơng sự
phải đa ra yêu cầu, cung cấp chứng cứ, dựa
vào chứng cứ và pháp luật đa ra lí lẽ để bảo
vệ quyền, lợi ích của mình. Việc đó đòi hỏi
đơng sự không những phải có đầy đủ lí trí để
nhận thức, điều khiển hành vi của mình mà
còn phải có sự hiểu biết về pháp luật nội dung
và pháp luật tố tụng. Ngay cả ngời từ đủ 18
tuổi trở lên nếu không có sự hiểu biết pháp
luật và kinh nghiệm tham gia tố tụng thì việc
tham gia tố tụng của họ cũng không tránh
khỏi những hạn chế. Pháp luật tố tụng dân sự
của nhiều nớc còn quy định ở một số loại
việc và một số cấp xét xử bắt buộc đơng sự
phải có luật s đại diện.
ở nớc ta theo quy định của pháp luật,
ngời từ đủ 15 tuổi đến dới 18 tuổi có thể
giao kết hợp đồng lao động, nếu có tài sản để
thực hiện đợc nghĩa vụ dân sự thì đợc tự
mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự;
khi gây thiệt hại thì phải bồi thờng bằng tài
sản của mình nhng không thể lấy đó là điều
kiện để khẳng định họ có thể tự mình tham
gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích trớc tòa
án. Vì vậy, không thể quy định ngời từ đủ 15
tuổi đến dới 18 tuổi là ngời độc lập tham

và trách nhiệm của những ngời tiến hành tố
tụng dân sự lại càng cần thiết.
Về thực hiện pháp luật, phải nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất
đạo đức của thẩm phán, luật s.
Hiện nay các vụ án xảy ra rất đa dạng,
phức tạp. Ngời thẩm phán chỉ làm tròn đợc
nhiệm vụ của mình khi có trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của
ngời cán bộ xét xử. Vì vậy, phải tổ chức việc
đào tạo, bồi dỡng chuyên môn, nghiệp vụ và
phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ xét
xử cho thẩm phán. Để khuyến khích việc thẩm
phán học tập nâng cao trình độ, phải tổ chức
việc thi chuyên môn, nghiệp vụ khi bổ nhiệm,
bổ nhiệm lại thẩm phán và nâng ngạch thẩm
phán.
Ngoài ra, cũng phải củng cố và phát triển
đội ngũ luật s. Đội ngũ luật s hiện nay phát
triển chậm, chất lợng hạn chế sẽ ảnh hởng
không nhỏ tới kết quả bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của đơng sự. Trớc mắt phải củng
cố đội ngũ luật s hiện có, phát triển thêm các
luật s mới để đáp ứng nhu cầu của x hội về
hoạt động luật s, nâng cao vai trò luật s
trong tố tụng dân sự. Phải tổ chức việc đào tạo
luật s, bồi dỡng kiến thức pháp lí và nghiệp
vụ cho luật s. Các luật s hoạt động phải có
hiệu quả, đúng pháp luật, bảo đảm luật pháp
đợc áp dụng công bằng và bất cứ vi phạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status