nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 21
ThS. Bùi Kiên Điện *
hững thông tin về đặc điểm nhân thân
của bị can có ý nghĩa rất quan trọng
đối với toàn bộ công tác giải quyết vụ án
hình sự nói chung, điều tra vụ án nói riêng.
Những thông tin này là căn cứ không thể
thiếu của phần lớn các hành vi tố tụng và
quyết định tố tụng. Trong khi ấy, những
quy định pháp luật liên quan đến việc
nghiên cứu và sử dụng các đặc điểm nhân
thân của bị can trong hoạt động điều tra
hình sự lại cha đầy đủ, cha cụ thể. Đó là
thực tế khó chấp nhận và tác động tiêu cực
đến hiệu quả của công tác điều tra hình sự
trong thực tế. Để hoàn thiện cơ sở pháp lí
của lĩnh vực hoạt động quan trọng này của
công tác điều tra hình sự, theo chúng tôi,
cần kịp thời hoàn thiện những quy định liên
quan đ có đồng thời bổ sung một số quy
định mới nhằm sớm đa hoạt động này vào
nền nếp, hiệu quả theo các hớng sau đây:
Trớc hết, phải hoàn thiện một số quy
định của Bộ luật hình sự (BLHS), Bộ luật tố
tụng hình sự (BLTTHS) có liên quan đến
còn giúp điều tra viên nâng cao hơn nữa
trách nhiệm thu thập đầy đủ các thông tin
cụ thể về đặc điểm nhân thân của bị can
cũng nh công tác đấu tranh với bị can,
nhất là áp dụng thủ thuật giáo dục thuyết
phục khi hỏi cung bị can trong thực tiễn.
Trong BLTTHS, theo chúng tôi, có
nhiều quy định liên quan đến vấn đề đợc
N
* Giảng viên chính Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
22 - Tạp chí luật học
thảo luận cần có sự hoàn thiện, bổ sung.
Trớc hết, liên quan đến đối tợng chứng
minh trong các vụ án hình sự đợc quy
định tại Điều 47 BLTTHS hiện hành.
Chúng tôi cho rằng kết cấu đang có của
điều luật là không khoa học, có thể dẫn đến
cách hiểu và áp dụng không thống nhất của
các chủ thể tiến hành tố tụng. Theo tinh
thần của khoản 2, khoản 3 điều luật này thì
khi tiến hành tố tụng, điều tra viên, kiểm
sát viên, thẩm phán phải thu thập chứng cứ
để làm rõ ai là ngời đ thực hiện hành vi
phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý
Khoản 5 Điều 44 BLTTHS hiện hành
quy định về các trờng hợp bắt buộc phải
trng cầu giám định. Theo đó, trong quá
trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình
sự khi cần xác định 3 vấn đề sau đây thì
các cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải
trng cầu giám định, không phụ thuộc vào
ý chí chủ quan của họ: "a. Nguyên nhân
chết ngời, tính chất thơng tích, mức độ
tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;
b. Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo
trong trờng hợp có sự nghi ngờ về năng
lực trách nhiệm hình sự của họ; c. Tình
trạng tâm thần của ngời làm chứng hoặc
ngời bị hại trong trờng hợp có sự nghi
ngờ về khả năng nhận thức và khai báo
đúng đắn đối với những tình tiết của vụ
án.". Việc quy định nh trên là hợp lí.
Nhng trong thực tế điều tra vụ án hình sự
nói riêng, giải quyết vụ án hình sự nói
chung còn gặp trờng hợp khác liên quan
đến vấn đề đang đợc trình bày ở mức độ
khá phổ biến là việc xác định độ tuổi chính
xác của ngời đ thực hiện hành vi phạm
tội khi không thể xác định đợc bằng các
cách thông thờng khác (không có giấy
khai sinh; không ai nhớ chính xác ngày,
tháng, năm sinh của bị can, bị cáo; các
giấy tờ tài liệu liên quan khác không có
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình
sự. Nhng đây là vấn đề khá nhạy cảm nên
khi các biện pháp đó đợc áp dụng một
cách không có căn cứ sẽ gây tác hại không
nhỏ đến hiệu quả của công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm, thậm chí cả công
tác đối nội, đối ngoại của đất nớc. Cho
nên, việc xác định một cách đầy đủ, chính
xác những căn cứ pháp lí để áp dụng các
biện pháp này có ý nghĩa rất quan trọng.
Hiện nay, các căn cứ chung để áp dụng các
biện pháp ngăn chặn đợc xác định dựa
vào tinh thần của Điều 61 BLTTHS bao
gồm: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm; có
căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó
khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; có
căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục
phạm tội; để bảo đảm thi hành án. Ngoài
ra, trong thực tế khi việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn cụ thể đối với bị can, bị
cáo, các cơ quan tiến hành tố tụng còn phải
dựa vào các đặc điểm nhân thân của bị can,
bị cáo nh giới tính, nghề nghiệp, độ tuổi,
tình trạng sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình của
họ cũng nh mức độ nghiêm trọng của tội
phạm mà họ đ thực hiện. Thực tế nêu trên
cần đợc thể chế hoá thành nguyên tắc
trong BLTTHS tại điều luật quy định về
căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn.
Đó có thể là Điều 61a với nội dung cụ thể
24 - Tạp chí luật học
BLHS thì chỉ những ngời đạt độ tuổi nhất
định do Bộ luật này quy định thì mới phải
chịu trách nhiệm hình sự. Đối với ngời
phạm tội nhng cha đạt độ tuổi đó thì có
thể xử lí bằng biện pháp hành chính. Cho
nên, khi quy định về những căn cứ không
đợc khởi tố vụ án hình sự", Điều 89
BLTTHS ghi nhận 7 căn cứ, trong đó căn
cứ thứ 3 là: Ngời thực hiện hành vi nguy
hiểm cho x hội cha đến tuổi chịu trách
nhiệm hình sự". Vì vậy, theo chúng tôi,
khoản 1 Điều 103 BLTTHS cần sửa lại nh
sau: Khi có đủ căn cứ để xác định một
ngời có đủ dấu hiệu quy định tại Điều 12
Bộ luật hình sự đ thực hiện tội phạm thì cơ
quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can".
Quy định nh trên sẽ tránh cho cơ quan
điều tra khởi tố cả những trờng hợp không
cần và không thể xử lí về hình sự theo quy
định của pháp luật.
Điều 138 BLTTHS quy định về việc đề
nghị truy tố: Khi có đầy đủ chứng cứ để
xác định có tội phạm và bị can thì cơ quan
điều tra làm bản kết luận điều tra và đề
nghị truy tố. Bản kết luận điều tra trình
bày diễn biến của hành vi tội phạm, nêu rõ
các chứng cứ chứng minh tội phạm, ý kiến
đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lí do và
trình bày diễn biến hành vi phạm tội, nêu
rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm,
những đặc điểm nhân thân cần chú ý của bị
can, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án,
có nêu rõ lí do và căn cứ".
Để hoạt động nghiên cứu và sử dụng
những đặc điểm nhân thân của bị can trong
công tác điều tra hình sự đạt hiệu quả
mong muốn, cùng với việc sớm bổ sung
trong BLHS, BLTTHS một số đề xuất với
nội dung cụ thể nh đ trình bày, trong thời
gian tới, Bộ công an cần chủ động giải
quyết tốt một số công việc liên quan thuộc
trách nhiệm, quyền hạn, quản lí của ngành.
Đó là hớng thứ hai nhằm hoàn thiện các
quy định pháp lí về nghiên cứu và sử dụng
những đặc điểm nhân thân của bị can trong
hoạt động điều tra hình sự. Cụ thể: nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 25
- Bộ cần ban hành văn bản quy định về
trách nhiệm của điều tra viên phải nghiên
cứu cụ thể, đầy đủ, sử dụng một cách có cơ
sở khoa học các đặc điểm nhân thân của bị
can trong toàn bộ công tác điều tra hình sự
(trong các hoạt động nhận tin báo, tố giác,
khởi tố, áp dụng các biện pháp ngăn chặn,
thiết phục vụ công tác điều tra, nhất là các
hoạt động khai sinh, khai tử, quản lí hộ
tịch, lập lí lịch t pháp.
Nh đ khẳng định, đối tợng đấu
tranh chủ yếu của công tác điều tra hình sự
là bị can. Do đó, việc nắm vững đầy đủ và
khai thác triệt để, khoa học mọi thông tin
về các đặc điểm nhân thân của đối tợng
này sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho hoạt động
điều tra đạt hiệu quả cao trong thực tế. Xây
dựng đợc chế độ pháp lí chặt chẽ, hợp lí
điều chỉnh lĩnh vực phức tạp nêu trên
không chỉ giúp hoạt động đó đợc diễn ra
thuận lợi, tác động tích cực đến hiệu quả
công tác điều tra mà còn góp phần quan
trọng trong việc bảo vệ, tôn trọng một số
quyền cơ bản của công dân có liên quan do
Hiến pháp và pháp luật quy định./.
(1). Việc sử dụng giới từ về trong cụm từ những
đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo nh trong
khoản 3 Điều 47 BLTTHS nh hiện nay là không
cần thiết, không đúng ngữ pháp. Thực tế, những tình
tiết này cũng là một đặc điểm tạo nên nhân thân của
bị can, bị cáo nhng do tính độc lập tơng đối và
vai trò quan trọng của nó khi giải quyết vụ án nên
có thể tách riêng làm một yếu tố thuộc đối tợng
chứng minh.
(2). Quan điểm tơng tự đ đợc tác giả Nguyễn Vạn
Nguyên đề xuất. Theo tác giả này thì: Trong khi áp