Báo cáo " Chế định hợp đồng kinh tế - tồn tại hay không tồn tại " - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 3/2003

23
PGS.TS. Lê hồng hạnh *
rong các văn bản pháp luật đợc xây
dựng và ban hành sau khi Đảng và Nhà
nớc ta khởi xớng chính sách đổi mới thì
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (PLHĐKT) đợc
coi là một trong những bớc đi lập pháp tiên
phong, một trong những phản ứng nhanh
chóng trớc đòi hỏi của kinh tế thị trờng.
Điểm thành công lớn nhất trong số những
thành công ít ỏi của Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế là sự khẳng định nguyên tắc tự do hợp
đồng Bằng quy định kí kết hợp đồng kinh tế
là quyền của các đơn vị kinh tế; không có cơ
quan, cá nhân, tổ chức nào đợc áp đặt ý chí
của mình cho đơn vị kinh tế khi kí kết hợp
đồng. PLHĐKT đ đặt dấu chấm hết cho sự
tồn tại của cơ chế kế hoạch hoá trong lĩnh
vực quan hệ hợp đồng, nơi mà các chủ thể
phải đợc tự do, tự nguyện thể hiện ý chí của
mình. Nguyên tắc tự do hợp đồng xuất hiện
trong pháp luật nớc ta kể từ thời điểm đó.
Hệ quả tích cực của PLHĐKT là tạo ra đợc

1. Một số bất cập xét từ góc độ lí luận
Điểm đầu tiên cần nêu chính là sự mâu
thuẫn giữa t tởng xuyên suốt Pháp lệnh về
quyền tự do hợp đồng của các chủ thể với
những quy định của nó trong việc xử lí các
khía cạnh cụ thể của đời sống sản xuất kinh
doanh. Nh đ nêu ở trên, t tởng xuyên
suốt của cơ quan soạn thảo Pháp lệnh này
khẳng định quyền tự do hợp đồng. Một số
nguyên tắc chung về kí kết và thực hiện hợp
đồng kinh tế đợc đa vào trong Pháp lệnh
T

* Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
24
Tạp chí luật học số 3/2003

hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của cơ chế
kinh tế thị trờng, đó là: Hợp đồng kinh tế
đợc kí kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình
đẳng, không trái pháp luật. Những nguyên
tắc này tồn tại trong chế định hợp đồng của
bất cứ hệ thống pháp luật nào, cho dù nó
thuộc hệ Common Law hay hệ Civil Law.
Tuy nhiên, khi xem xét các quy định cụ thể
trong Pháp lệnh thì quyền tự do hợp đồng lại
bị ràng buộc và triệt tiêu một cách khó giải

Có thể nói định nghĩa về HĐKT nêu ở
Điều 1 là rất thiếu tính khái quát. Sự liệt kê
của Điều 1 về hình thức lẫn những lĩnh vực
áp dụng hợp đồng vừa thiếu, vừa trùng lặp.
Ngoài ra, định nghĩa này còn đợc hình
thành bởi t duy pháp lí của thời kì bao cấp.
Việc kí hợp đồng kinh tế đối với nhiều chủ
thể không nhất thiết là để xây dựng và thực
hiện kế hoạch. Tính năng động của kinh tế
thị trờng buộc các chủ thể sản xuất kinh
doanh nhiều khi kí các hợp đồng ngoài kế
hoạch. Đối với họ, kế hoạch lớn nhất là lợi
nhuận.
- Về đại diện trong kí kết hợp đồng kinh tế.
Điều 8 PLHĐKT quy định việc đại diện
trong kí kết và thực hiện hợp đồng kinh tế
không xuất phát từ những nhận thức đúng về
các khái niệm đại diện hợp pháp, đại diện
đơng nhiên, đại diện theo pháp luật.
Trong hệ thống pháp luật nớc ta, ngời
đứng đầu pháp nhân là đại diện đơng nhiên
của pháp nhân. Chỉ có ngời đứng đầu pháp
nhân mới đợc uỷ quyền. Vấn đề này đợc
quy định rất chuẩn xác trong các văn bản
pháp luật ban hành trớc PLHĐKT, đặc biệt
là trong Điều lệ về chế độ HĐKT ban hành
theo nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975.
Quy định của Điều 8 Pháp lệnh cho phép đại
diện hợp pháp của pháp nhân ủy quyền kí
kết hợp đồng là không đúng với lí luận về

vô hiệu toàn bộ nếu một trong các bên không
có đăng kí kinh doanh theo quy định của
pháp luật để thực hiện công việc đ thoả
thuận trong hợp đồng. Thoáng qua thì quy
định này tởng nh có cơ sở pháp lí. Tuy
nhiên, xét về bản chất, việc coi đăng kí kinh
doanh là điều kiện của HĐKT vô hiệu là
không đúng với lí luận về hợp đồng nói
chung và hợp đồng kinh tế nói riêng. Đối với
các bên, khi tham gia kí kết hợp đồng, điều
quan trọng là họ hoàn toàn tự nguyện, nội
dung hợp đồng không trái pháp luật, không
trái đạo đức x hội, sự thể hiện ý chí của các
bên rõ ràng thì hợp đồng phải có hiệu lực.
Việc một bên không đủ điều kiện thực hiện
hợp đồng thì trách nhiệm thuộc về bên đó.
Không thể coi hợp đồng vô hiệu vì lí do một
bên không có năng lực thực hiện hợp đồng.
Hình thức hợp đồng cũng là một trong
những điều kiện mà pháp luật hiện hành coi
là điều kiện tuyên bố HĐKT vô hiệu, thậm
chí là yếu tố làm thay đổi bản chất của hợp
đồng từ kinh tế thành dân sự.
(1)
Xét về lí
luận, việc các bên thoả thuận với nhau bằng
miệng hay bằng văn bản đều phải đợc tôn
trọng nh nhau. Vai trò của hình thức văn
bản là ngăn chặn việc bội ớc. Việc không
thể hiện dới hình thức văn bản sẽ làm cho

phép xác định chính xác thời điểm có hiệu nghiên cứu - trao đổi
26
Tạp chí luật học số 3/2003

lực của hợp đồng kinh tế ngoại trừ các hợp
đồng kinh tế đợc các bên đàm phán và kí
kết trực tiếp. Về lí luận, khi các bên kí kết
HĐKT thì có thể có những khả năng khác
nhau để xác định thời điểm có hiệu lực của
hợp đồng. Việc pháp luật chỉ ra thời điểm
nào có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác
định thời điểm phát sinh các quyền và nghĩa
vụ pháp lí của các bên, tránh đợc những
xung đột pháp luật không cần thiết, nhất là
trong lĩnh vực mua bán hàng hoá quốc tế.
2. Những bất cập trong thực tiễn áp dụng
Những bất cập về lí luận trên thể hiện
khá rõ trong thực tiễn 15 năm áp dụng các
quy định của PLHĐKT. Có thể nói những
bất cập đó đ trở thành những cản trở lớn đối
với việc điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ
kinh tế trong điều kiện nền kinh tế nớc ta
phát triển mạnh hơn theo xu hớng kinh tế
thị trờng, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế
khu vực và thế giới. Khó có thể liệt kê hết
những tác động tiêu cực trong thực tiễn áp
dụng các quy định chứa đựng những bất cập

nhất hai hậu quả lớn sau đây:
- Tạo ra khoảng trống lớn trong việc điều
chỉnh các quan hệ kinh tế nảy sinh giữa các
chủ thể là pháp nhân và những chủ thể kinh
doanh không phải là pháp nhân. Hơn nữa,
với cách tiếp cận này, Pháp lệnh không cho
phép trả lời thống nhất câu hỏi liệu quan hệ
giữa cá nhân có đăng kí kinh doanh với nhau
có thuộc phạm vi điều chỉnh của nó hay
không?
- Tạo ra mâu thuẫn lớn trong việc xác
định đối tợng điều chỉnh của PLHĐKT và
từ đó là sự lúng túng, mâu thuẫn trong việc
xác định thẩm quyền của các cơ quan giải
quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế. Mẫu
thuẫn này thể hiện ở ngay Điều 1 và Điều 2
của Pháp lệnh. Điều 1 xác định hợp đồng kí
giữa các chủ thể có mục đích kinh doanh là
hợp đồng kinh tế. Điều 2 quy định hợp đồng
kinh tế đợc kí kết giữa pháp nhân với pháp
nhân và pháp nhân với cá nhân có đăng kí
kinh doanh. Do Pháp lệnh không quy định
tiêu chí ở Điều 1 và Điều 2 là những điều nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 3/2003

27


quả là thúc đẩy sự vi phạm hợp đồng kinh tế
đ kí kết. Các bên vi phạm thờng có lợi khi
hợp đồng bị tuyên là vô hiệu.
- Nhiều tranh chấp kinh tế không đợc
giải quyết kịp thời vì các quy định của Pháp
lệnh cha giải đáp đợc câu hỏi đặt ra là:
Những tranh chấp này thuộc phạm vi điều
chỉnh của PLHĐKT hay không? Trên cơ sở
của câu trả lời này là việc xác định thẩm
quyền giải những tranh chấp nh vậy. Ví dụ,
tranh chấp giữa hai pháp nhân có những hoạt
động không phải vì mục đích kinh doanh,
tranh chấp giữa hai cá nhân có đăng kí kinh
doanh; tranh chấp giữa thơng nhân là thể
nhân với thơng nhân là pháp nhân, tranh
chấp giữa bên khi tham gia quan hệ hợp
đồng có mục đích kinh doanh và bên không
có mục đích kinh doanh Cách xử lí vấn đề
này của các toà kinh tế rất khác nhau và điều
này tạo nên vòng tròn khá luẩn quẩn: Toà án
cấp sơ thẩm coi là tranh chấp kinh tế, toà án
cấp phúc thẩm coi là tranh chấp dân sự, giám
đốc thẩm coi là kinh tế v.v Nhiều vụ tranh
chấp bị kéo dài do không phân định đợc
thẩm quyền. Điển hình có những vụ kéo dài
gần chục năm nh vụ Bavico kéo dài từ năm
1993 đến gần đây mới giải quyết xong và kết
quả đó là vụ án hình sự.
- Tiêu chí một trong các bên không có
đăng kí kinh doanh để thực hiện công việc đ

(3)
PLHĐKT đợc ban hành trớc
Bộ luật dân sự 6 năm, Bộ luật dân sự chứa
đựng nhiều quy định về nguyên tắc kí kết, về
hợp đồng vô hiệu và xử lí tài sản trong các
hợp đồng vô hiệu. Những quy định của Bộ
luật dân sự chi tiết hơn, hợp lí hơn so với các
quy định của PLHĐKT song việc áp dụng
các quy định của Bộ luật dân sự khó có thể
thực hiện đợc do PLHĐKT vẫn đang còn
hiệu lực mặc dù về nguyên tắc các quy định
của Bộ luật dân sự có thể áp dụng để điều
chỉnh những vấn đề mà Pháp lệnh còn cha
đề cập. Hơn nữa, do cách phân chia các cơ
quan tài phán hiện nay thì thẩm phán toà
kinh tế khó chấp nhận việc họ áp dụng các
quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết
tranh chấp HĐKT. Luật thơng mại cũng có
những mâu thuẫn với PLHĐKT. Luật thơng
mại 1997 điều chỉnh một số hành vi liên
quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá, tức là
một phần các hoạt động nằm trong phạm trù
kinh tế theo các tiếp cận của PLHĐKT. Sự
khác nhau trong một số quy định của Luật
thơng mại và Pháp lệnh HĐKT liên quan
đến chủ thể hợp đồng, hình thức hợp đồng,
mức trách nhiệm vật chất đối với vi phạm
hợp đồng dẫn đến xung đột pháp luật. Các
cơ quan tài phán khi thì vận dụng PLHĐKT,
khi thì vận dụng Luật thơng mại một cách

cho số phận của văn bản này lại có nhiều sự
khác nhau. Một số nhà nghiên cứu, một số
nhà thực tiễn chọn giải pháp sửa đổi, bổ sung
PLHĐKT
(6)
trong lúc một số khác lại cho
rằng cần ban hành đạo luật về hợp đồng kinh
tế. Cũng có những ý kiến về giải pháp mạnh
mẽ hơn là chấm dứt hiệu lực của PLHĐKT,
dùng các quy định của Bộ luật dân sự về hợp
đồng để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng
trong các lĩnh vực khác nhau.
(7)

Giải pháp cơ bản cho PLHĐKT nói riêng
và cho pháp luật về HĐKT nói chung cần
phải xuất phát từ việc giải quyết vấn đề: Cần
hay không cần đến khái niệm hợp đồng kinh
tế. Chỉ khi giải quyết đợc vấn đề này mới có
thể bàn đến hớng hoàn thiện pháp luật về nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 3/2003

29

nó. Logic của vấn đề là ở chỗ liệu chúng ta
có cần bàn đến việc hoàn thiện chế định pháp
luật hiện tại không còn thực hiện đợc vai trò

quyền và nghĩa vụ pháp lí. Đối với các chủ
thể thì hợp đồng chính là luật và các cam kết
trong hợp đồng ràng buộc các xử sự của họ.
Trong bất cứ lĩnh vực quan hệ chiều ngang
nào thì bản chất này không thay đổi. Vì vậy,
hoàn toàn có cơ sở lí luận để xây dựng quy
định pháp luật để điều chỉnh hành vi của các
chủ thể khi tham gia các quan hệ hợp đồng,
cho dù chúng tham gia với mục đích gì?
trong lĩnh vực cụ thể nào.
- Khái niệm kinh tế có nội hàm rất rộng.
Không ai có thể phủ nhận rằng các quan hệ
nh thừa kế, mua bán hàng tiêu dùng không
có nội dung kinh tế, đặc biệt là đối với các
quan hệ mua bán hàng tiêu dùng mà chúng
ta hiện đang coi là thuần tuý dân sự. Các
quan hệ này là bộ phận của quan hệ sản xuất
mà cụ thể là quan hệ phân phối. Không có
tiêu dùng thì không có sản xuất. Chính vì
vậy, khó có thể tách quan hệ dân sự ra khỏi
quan hệ kinh tế hiểu theo nghĩa kinh doanh
nh hiện nay ở trong hệ thống pháp luật của
nớc ta. Càng tìm cách tách bạch, chúng ta
càng gặp phải những rắc rối. Mặt khác, liệu
chúng ta có thể tách các quan hệ hợp đồng
theo nhiều chế định riêng với các văn bản
pháp luật riêng nh hợp đồng xây dựng, hợp
đồng dân sự, hợp đồng chuyển giao công
nghệ, hợp đồng lao động, hợp đồng tín
dụng Rõ ràng điều mà chúng ta cần đạt tới

quan niệm về hợp đồng kinh tế. Nếu vẫn duy
trì khái niệm hợp đồng thơng mại, duy trì
định chế pháp luật dựa trên quan niệm này
thì rất khó tạo ra đợc sự tơng thích, sự hài
hoà của pháp luật nớc ta với pháp luật quốc
tế về thơng mại. Mặt khác, cũng có thể
nhận thấy rằng pháp luật của nhiều nớc trên
thế giới không phân biệt hợp đồng dân sự,
hợp đồng kinh tế. Một số nớc ban hành các
đạo luật về hợp đồng để quy định việc đàm
phán, kí kết và thực hiện hợp đồng. Các quy
định này đợc áp dụng vào từng lĩnh vực cụ
thể với một số đặc thù riêng do chính các bên
tham gia hợp đồng thoả thuận. ở một số
nớc, quan hệ mua bán hàng hoá đợc điều
chỉnh bằng đạo luật riêng còn trong các lĩnh
vực khác thì áp dụng các quy định chung về
hợp đồng của Bộ luật dân sự.
- Khái niệm hợp đồng kinh tế gắn
nhiều hơn với cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
Hợp đồng kinh tế xuất hiện do nhu cầu phải
điều chỉnh quan hệ hợp đồng mà trong đó
quyền và nghĩa vụ của các bên đợc xác định
không phải thông qua sự thể hiện ý chí của
các bên mà thông qua chỉ tiêu kế hoạch. Nền
kinh tế nớc ta hiện nay là nền kinh tế thị
trờng định hớng XHCN nên sự đoạn tuyệt
với định chế đặc trng của cơ chế kế hoạch
hoá tập trung cũng sẽ có những giá trị thực
tiễn của nó.

đồng kinh tế ở nớc ta, Tạp chí nhà nớc và pháp
luật. 1998, số 1, tr. 30 -35.
(7).Xem: TS. Dơng Đăng Huệ, Hoàn thiện pháp
luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí nhà
nớc và pháp luật số 5/2002, tr. 22.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status