Báo cáo " Công ước quyền trẻ em năm 1989 - cơ sở cho việc bảo vệ quyền trẻ em " - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 3/2003
31

Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai
đó là khẩu hiệu mà các quốc gia và cộng
đồng quốc tế hớng tới nhằm mục đích
chăm sóc, bảo vệ tơng lai của mỗi quốc
gia và nhân loại.
Quyền con ngời nói chung và quyền
trẻ em nói riêng ngày nay trở thành vấn đề
quan tâm của cộng đồng quốc tế. Trẻ em ở
tất cả các nớc trên thế giới vẫn còn sống
trong những điều kiện khó khăn và chúng
cần đợc quan tâm đặc biệt. Do đó, sự hợp
tác quốc tế đối với việc cải thiện điều kiện
của trẻ em ở mọi nớc, đặc biệt là các nớc
đang phát triển là yêu cầu bức thiết. Cộng
đồng quốc tế mà trung tâm là Liên hợp
quốc đ có nhiều nỗ lực trong việc xây
dựng các văn bản pháp lí quốc tế nhằm xác
lập các quyền cơ bản của trẻ em cũng nh
nghĩa vụ, trách nhiệm của các quốc gia đối
với trẻ em.
Trớc khi Liên hợp quốc đợc thành
lập, các quốc gia đ thông qua Tuyên ngôn

quan đến trẻ em có một số đặc điểm sau:
- Các văn bản pháp lí quốc tế mặc dù
đ đề cập quyền trẻ em nhng cha xác lập
đợc các cơ chế, nghĩa vụ mà các quốc gia
phải thực hiện để đảm bảo quyền cho trẻ
* Giảng viên Khoa luật quốc tế
Trờng đại học luật Hà Nội
Chu Mạnh Hùng

*

nghiên cứu - trao đổi
32

Tạp chí luật học số 3/2003

em. Hơn nữa, các văn bản nh Tuyên bố
năm 1959 của Đại hội đồng Liên hợp
quốc không có giá trị pháp lí bắt buộc
mà chỉ nêu lên những t tởng của quyền
trẻ em để khuyến cáo hành động của các
quốc gia.
- Các văn bản pháp lí quốc tế chỉ đề
cập quyền của trẻ em trong một số lĩnh vực
(ví dụ: Quyền đăng kí khai sinh, cấm bóc
lột lao động trẻ em).
Có thể nói trớc năm 1989, có rất nhiều

thiểu số.
So với các điều ớc quốc tế nói chung,
điều ớc quốc tế về quyền con ngời nói
riêng, Công ớc quyền trẻ em năm 1989 có
những điểm nổi bật sau:
Thứ nhất: Thời gian từ khi kí đến khi
Công ớc có hiệu lực là rất ngắn (9 tháng
18 ngày) và là điều ớc quốc tế đa phơng
có số lợng các quốc gia thành viên lớn
nhất (197 quốc gia) so với tất cả các điều
ớc quốc tế đợc kí trên thế giới. Đặc điểm
này phản ánh tầm quan trọng của vấn đề
bảo vệ quyền trẻ em cũng nh sự quan tâm
của các quốc gia đối với thế hệ trẻ.
Thứ hai: Công ớc quyền trẻ em năm
1989 lần đầu tiên đ khái quát đợc các
khía cạnh của quyền trẻ em và xác định rõ
nghĩa vụ của các quốc gia trong việc đảm
bảo quyền của trẻ em. Mối quan hệ giữa
quyền trẻ em với quyền con ngời nói
chung.
Thứ ba: Theo Điều 43 Công ớc quyền
trẻ em năm 1989, Uỷ ban về quyền trẻ em
đợc thành lập nhằm xem xét sự tiến bộ mà
các quốc gia thành viên đạt đợc trong việc
thực hiện các nghĩa vụ mà họ đ cam kết
thông qua các báo cáo định kì. Đồng thời
theo Điều 45, bên cạnh Uỷ ban về quyền trẻ
em thì các cơ quan chuyên môn, UNICEF
và các tổ chức khác thuộc Liên hợp quốc

phối hợp với Uỷ ban năm quốc tế trẻ em
của Liên hợp quốc, Uỷ ban năm Quốc tế
thiếu nhi của Việt Nam đợc thành lập và
Uỷ ban thờng vụ Quốc hội đ thông
qua Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em.
Năm 1989 - 1990 đợc coi là năm thiếu
nhi của Việt Nam đồng thời trong Chiến
lợc ổn định và phát triển kinh tế - x hội
giai đoạn 1991 - 2000, vấn đề trẻ em đ
đợc đề cập với tinh thần bảo vệ và
chăm sóc nhằm phát triển thế hệ tơng lai
của dân tộc.
Ngày 26/1/1990 Việt Nam đ kí Công
ớc về quyền trẻ em và phê chuẩn ngày
20/2/1990 (không có bảo lu nào). Việt
Nam là quốc gia đầu tiên ở châu á và là
quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn
Công ớc (ngày 20/12/2001 Việt Nam phê
chuẩn 2 nghị định th bổ sung Công ớc,
đó là: Nghị định th (không bắt buộc) về
buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn
hóa khiêu dâm trẻ em; Nghị định th
(không bắt buộc) về sử dụng trẻ em trong
xung đột vũ trang).
Nh vậy, Việt Nam phê chuẩn Công
ớc quyền trẻ em 1989 đ tạo cơ sở pháp lí
quốc tế cho việc bảo vệ quyền trẻ em ở
Việt Nam đồng thời làm thay đổi nhiều
hoạt động đảm bảo có hiệu quả quyền của

để hài hoà với các điều khoản của Công
ớc, cụ thể là:
+ Quyền trẻ em đợc ghi nhận trong
Hiến pháp 1992 (sửa đổi);
+ Ban hành Luật bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em (1991); Luật phổ cập giáo
dục tiểu học (1991);
+ Sửa đổi, bổ sung pháp luật quốc gia
(Bộ luật hình sự 1999);
+ Chiến lợc phát triển kinh tế - x hội
10 năm (2001 - 2010);
- Kiện toàn các cơ quan điều phối
chính sách liên quan đến trẻ em và giám
sát việc thực hiện Công ớc. Trớc đây,
việc chăm lo công tác trẻ em là Uỷ ban
thanh thiếu niên và nhi đồng, từ ngày
9/9/1991 Uỷ ban này đổi tên thành Uỷ ban
bảo vệ và chăm sóc trẻ em và nay là Uỷ
ban dân số, gia đình và trẻ em. Sự thay đổi
này phản ánh vai trò, ý nghĩa của công tác
trẻ em cũng nh sự quan tâm của Nhà nớc
đối với quyền trẻ em ở Việt Nam.
Kể từ khi Việt Nam phê chuẩn Công
ớc quyền trẻ em năm 1989, công tác trẻ
em đ thu đợc nhiều kết quả trên các
phơng diện khác nhau. Chơng trình tiêm
chủng quốc gia thực sự có ý nghĩa đảm bảo
cho sự phát triển lành mạnh của thế hệ
tơng lai; Chơng trình phổ cập giáo dục
tiểu học cơ bản đ hoàn thành trên phạm vi

trong môi trờng an toàn và lành mạnh,
phát triển hài hoà cả về thể chất, trí tuệ,
tinh thần và đạo đức. Điều này thực sự
có ý nghĩa khi cộng đồng quốc tế đang
xây dựng thập kỉ hoà bình, phi bạo lực vì
trẻ em./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status