BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM TRỌNG THỊNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ LÀM CƠ SỞ CHO VIỆC
TỈA THƯA RỪNG ĐƯỚC (Rhizophora apiculata Blume)
TRỒNG Ở VÙNG VEN BIỂN NAM BỘ
Chuyên ngành: Lâm sinh
Mã số: 4.04.04 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
năm 2004, trang 255-257, Hà Nội.
2. Phạm Trọng Thịnh (2004), “Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh
trưởng của rừng Đước ở vùng ven biển Nam Bộ”, Tạp chí Nông
nghiệp và phát triển nông thôn, số 4 năm 2004, trang 521-523,
Hà Nội. 24
(7). Với các chỉ tiêu tỉa thưa mà đề tài đã xác lập, tổng trữ lượng gỗ của
rừng Ðuớc trên cấp đất I là 465,9 m3/ha (phần nuôi dưỡng 407,7 m3/ha,
phần tỉa thưa 58,2 m3/ha). Trên cấp đất II là 291,4 m3/ha (phần nuôi
dưỡng 256,3 m3/ha, phần tỉa thua 35,1 m3/ha). Trên cấp đất III là 159,2
m3/ha (phần nuôi dưỡng 138,6 m3/ha, phần tỉa thưa 20,6 m3/ha)
(8). Tỉa thưa đúng cơ sở khoa học chính là biện pháp nâng cao hiệu quả
kinh tế của rừng Đướ
c trồng. So với các quần thụ không tỉa thưa thì quần
thụ được tỉa thưa có giá trị hiện tại thuần ở các cấp đất I, II và III lớn gấp
2,5 đến 3,8 lần so với quần thụ không tỉa thưa. Tỷ lệ nội hoàn (IRR) ở các
cấp đất I, II và III lớn gấp 1,6 đến 1,7 lần so với quần thụ không tỉa thưa.
5.2 ĐỀ NGHỊ
(1). Kết quả nghiên cứu củ
a đề tài đã cho thấy, quá trình sinh trưởng của
cá thể và sự đào thải tự nhiên trong rừng Đước đều phụ thuộc vào cấp đất,
do đó các biện pháp nuôi dưỡng và kinh doanh rừng Đước cần được xác
lập theo từng cấp đất.
(2). Trong thực tiễn hiện nay chỉ áp dụng một phương thức tỉa thưa cơ giới
cho rừng Đước trồng là không hợp lý. Nên áp dụng hai phương thức tỉ
a
thưa cho rừng đước là tỉa thưa tầng dưới và tỉa thưa phối hợp.
(3). Khi thực hiện các hoạt động tỉa thưa cần nghiên cứu kỹ về cấu trúc
chưa quan tâm đầy đủ đến yếu tố cấp đất, về sự phân hóa và đào thải tự
nhiên trong quần thụ, về mật độ
tối ưu của quần thụ và các phương thức
tỉa thưa…nên đã hạn chế hiệu quả kinh doanh rừng Đước, làm cho các nhà
đầu tư chưa quan tâm đến các dự án trồng rừng Đước ở vùng ven biển. Do
đó, việc nghiên cứu đầy đủ những yếu tố làm cơ sở khoa học cho tỉa thưa
rừng Đước trồng ở vùng ven biển Nam bộ là rất cần thiết.
1.2. MỤ
C ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu làm sáng tỏ các quy luật sinh trưởng của cây cá thể
và những đặc điểm phân hóa, đào thải tự nhiên của rừng Đước làm cơ sở
để đề xuất các chỉ tiêu kỹ thuật cho tỉa thưa rừng Đước trồng ở vùng ven
biển Nam bộ.
Các kết quả nghiên cứu của đề tài giúp các nhà quản lý đưa ra những
quy phạm kỹ thuật tỉa thư
a, nuôi dưỡng và kinh doanh rừng Đước một
cách khoa học, giúp người trồng rừng điều chỉnh hoạt động nuôi dưỡng
2
rừng nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao, giúp nhà đầu tư dự đoán trữ lượng và
hiệu quả kinh tế của kinh doanh rừng Đước.
1.3. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
(1) Rừng Đước trồng ở vùng ven biển Nam bộ thuộc ba cấp đất. Ranh
giới của các cấp đất được xác định bằng các phương trình sinh trưởng
chiều cao bình quân của tầng cây trội (H
0
). Tại tuổi cơ sở 20 năm, chiều
cao bình quân của tầng cây trội (H
0
) ở cấp đất I là 17,5 mét, cấp đất II là
quản lý kinh doanh rừng Đước như biểu thể tích thân cây, biểu tỉa thưa
rừng Đước, biểu quá trình sinh trưởng của rừng Đước.
(2). Luận án đã thiết lập được liên hệ giữa thể tích thân cây có vỏ (V) với
đường kính có vỏ (D) và chiều cao cây Đước (H) thể hiện dưới dạng
phương trình hai biến số phụ thuộc V= 10
(-4,346)
x D
(2,01)
x H
(0,965)
. Đây là
phương trình thích hợp để lập biểu thể tích hai nhân tố, phục vụ cho kiểm
kê trữ lượng rừng Đước trồng ở vùng ven biển Nam Bộ.
(3). Cấp đất của rừng Đước được xác lập với chỉ tiêu phân chia cấp đất là
chiều cao bình quân H
0
. Cự ly chiều cao giữa các cấp đất là 3 m. Tại tuổi
cơ sở là 20 năm, các chỉ số cấp đất (Si) là 17,5 m (cấp đất I), 14,5m (cấp
đất II), và 11,5 (cấp đất III).
(4). Luận án đã xác lập được quy luật sinh trưởng của cây cá thể bình
quân trên từng cấp đất. Lượng tăng trưởng hàng năm về thể tích thân cây
đạt giá trị cực đại lúc 14 (cấp đất I), 15 tuổi (cấp đất II) và 16 tuổi (cấp đấ
t
III). Lượng tăng trưởng bình quân của thể tích thân cây đạt cực đại lúc 19
tuổi (cấp đất I), 22 tuổi (cấp đất II) và 23 tuổi (cấp đất III). Chu kỳ kinh
doanh của rừng Đước trồng được xác định là 25 năm cấp đất I và cấp đất
II; từ 20-25 năm ở cấp đất III.
(5). Quá trình phân hóa và đào thải tự nhiên trong quần thể cũng phụ thuộc
vào tuổi và cấp đất. Tại cùng một tu
ổi, tỷ lệ % số cây ở tầng rừng bị đào
3
/ha.
Tổng lượng tăng trưởng hàng năm của quần thụ đạt cực đại là 13,6
m
3
/ha/năm lúc 18 tuổi. Tổng lượng tăng trưởng bình quân của rừng trong
25 năm là 6,4 m
3
/ha/năm và đạt giá trị cực đại là 6,6 m
3
/ha/năm lúc 23
tuổi. Bộ phận nuôi dưỡng có lượng tăng trưởng của trữ lượng bình quân là
5,5 m
3
/ha/năm.
4.4.7. Hiệu quả của tỉa thưa rừng Ðước trồng
Kết quả nghiên cứu cho thấy, với chu kỳ kinh doanh 25 năm, nếu thực
hiện tỉa thưa đúng cơ sở khoa học như đề tài đề xuất, so với điều kiện
không thực hiện tỉa thưa, thì:
- Tổng trữ lượng quần thụ sẽ tăng 207,9 m
3
/ha (cấp đất I), 143,4 m
3
/ha
(cấp đất II), 82,6 m
3
/ha (cấp đất III) và sản lượng của quần thụ tăng
166,7m
3
/ha (cấp đất I), 114,5 m
đoạn trước khi tỉa thưa, sau khi tỉa thưa và giữa hai lần tỉa thưa trên từng
cấp đất. Các chỉ tiêu kỹ thuật trong tỉa thưa rừng Đước và biểu quá trình
sinh trưởng của rừng Đước được xây dựng một cách hệ thống theo tuổi và
cấp đất.
1.4.2. Về mặt thực tiễn
Đề tài đã xây dựng được phương trình tính thể tích thân cây phụ
c vụ
công tác điều tra, thống kê tài nguyên rừng Đước. Các kết quả nghiên cứu
về quá trình sinh trưởng của cây cá thể và sự phân hóa, đào thải tự nhiên
của quần thụ, giúp xác định các giai đoạn sinh trưởng của rừng, phục vụ
cho nghiên cứu và thực hiện các biện pháp nuôi dưỡng rừng.
Đề tài đã xác định được các chỉ tiêu kỹ thuật cho tỉa thưa rừng Đước
một cách khoa học, đ
ã xây dựng được biểu quá trình sinh trưởng của rừng
Đước sau tỉa thưa giúp chủ rừng điều chỉnh quá trình kinh doanh rừng
Đước nhằm đạt được hiệu quả cao.
Kết quả nghiên cứu về quá trình sinh trưởng của rừng Đước qua tỉa
thưa giúp dự đoán được năng suất và hiệu quả kinh tế của rừng Đước dưới