Xây dựng pháp luật
Tạp chí luật học số 1/2004 59
ThS. Trơng Hồng Hải *
khi Lut phỏ sn doanh nghip c
Quc hi thụng qua ngy 30/12/1993 n
nay ó gn 10 nm ỏp dng. Bờn cnh nhng
vai trũ tớch cc khụng th ph nhn thỡ ng
thi, t ni dung iu chnh cng nh thc
tin ỏp dng ó bc l khụng ớt bt cp.
gúp phn vo vic ỏnh giỏ cng nh xut
sa i lut phỏ sn doanh nghip hin hnh,
bi vit ny phõn tớch v vn xỏc nh ti
sn ca doanh nghip phỏ sn, mt trong
nhng ni dung phc tp ca phỏp lut phỏ
sn v hin ang cũn nhiu cỏch quan nim
khỏc nhau trong gii nghiờn cu cng nh
qun lớ.
1. c im ca quy ch xỏc nh khi ti
sn phỏ sn trong Lut phỏ sn doanh
nghip ca Vit Nam
Vic xỏc nh khi ti sn ca doanh
nghip l vn mu cht ca Lut phỏ sn
bi suy cho cựng mt doanh nghip cú thuc
sn cú tớnh n phm vi khụng gian (nguyờn
tc hiu lc lónh th) m ti sn ca doanh
nghip ang hin hu. Trong lut phỏ sn ca
a s cỏc nc hoc khụng cú s gii hn
hoc khụng cú s quy nh v vn ny.
Ngc li, lut phỏ sn ca mt s nc li
ch tha nhn nhng ti sn ca doanh nghip
T
* Ging viờn chớnh B mụn lut kinh t
Hc vin ti chớnh X©y dùng ph¸p luËt
60
T¹p chÝ luËt häc sè 1/2004
hiện đang nằm trong phạm vi lãnh thổ của quốc
gia đó (ví dụ: Luật phá sản của Nhật Bản).
Thứ ba, việc xác định khối tài sản phá sản
có tính đến loại hình tài sản hay nguồn tài sản.
Ví dụ: Trong luật phá sản của Hoa Kì, tài sản
của doanh nghiệp được xem xét đó là loại tài
sản hiện có tại thời điểm mở thủ tục, hay tài
sản có được do xiết nợ trong quá trình tiến
hành thủ tục tố tụng… Trong luật phá sản của
các nước như Nga, Đức tài sản của doanh
nghiệp được phân loại là bất động sản hay
hoặc chiếm đoạt;
- Tài sản mà doanh nghiệp đang cho thuê
hoặc cho mượn;
- Các quyền về tài sản.
Tài sản của doanh nghiệp tư nhân còn bao
gồm cả tài sản mà chủ doanh nghiệp tư nhân
không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh
doanh (Điều 19 Luật phá sản doanh nghiệp).
So sánh với luật phá sản của nhiều nước
(ví dụ: Luật phá sản của Hoa Kì, Nhật Bản,
Nga,…) cách xác định về khối tài sản của
doanh nghiệp mắc nợ như trên trong Luật phá
sản doanh nghiệp của Việt Nam nhìn chung
có sự tương đồng khá cơ bản thể hiện trên các
mặt:
Về phạm vi khối tài sản phá sản bao gồm
các bộ phận chính như tài sản hiện có tại
doanh nghiệp, tài sản thuộc sở hữu (hoặc quản
lí) của doanh nghiệp đang đầu tư, cho vay,
cho thuê mượn trong các doanh nghiệp, cá
nhân khác và các quyền về tài sản.
Về căn cứ chứng minh tình hình tài sản là
các tài liệu kế toán cũng như các giấy tờ
khác chứng nhận về tài sản của doanh nghiệp
theo pháp luật kế toán và các quy định khác
có liên quan.
Về khối tài sản của doanh nghiệp cũng
như trong luật phá sản của các nước, trong
Luật phá sản doanh nghiệp của Việt Nam,
khối tài sản không chỉ bao gồm tài sản thực
Việt Nam cũng cho thấy không có sự phân
biệt rõ các khái niệm “Tài sản của doanh
nghiệp” (Điều 19) và “Tài sản còn lại của
doanh nghiệp” (Điều 38, 39). Vấn đề đặt ra là
tài sản còn lại của doanh nghiệp mắc nợ có
phải là hệ quả từ việc tính toán các khoản đã
được loại trừ từ khối tài sản của doanh
nghiệp? Các chuyên gia pháp lí hiện vẫn đang
có sự lúng túng khi xác định sự khác biệt này.
Có quan điểm cho rằng tài sản còn lại được
hiểu chính là tài sản của doanh nghiệp ở thời
điểm doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản bao
gồm tài sản thuộc quyền sở hữu (hoặc quyền
quản lí đối với doanh nghiệp nhà nước) của
doanh nghiệp (được liệt kê tại Điều 19 của
Luật phá sản doanh nghiệp).
(1)
Theo quan
điểm này thì ngay trong quyết định mở thủ
tục tuyên bố phá sản đã ấn định thời điểm
phải ngừng thanh toán nợ và thẩm phán ra
quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp
tạm thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp.
Pháp luật cũng quy định khi phân chia tài sản
còn lại theo danh sách chủ nợ phải có cả tên
của chủ nợ có đảm bảo và chủ nợ không có
đảm bảo. Quan điểm khác lại cho rằng tài sản
còn lại của của doanh nghiệp không bao gồm
tài sản có đảm bảo. Thời điểm ấn định thanh
toán nợ chẳng qua chỉ là biện pháp nhằm để
T¹p chÝ luËt häc sè 1/2004
sản của các cá nhân nhằm bảo hộ các nhu cầu
sinh hoạt tối thiểu hoặc các khoản tài chính
mang tính nhân đạo xã hội hay các khoản tài
sản loại trừ liên quan đến các công trình sản
xuất, hạ tầng quan trọng đối với đời sống
công cộng như trong luật phá sản doanh
nghiệp của Nga… Sự phân biệt tính chất tài
sản trong cấu trúc tài sản doanh nghiệp nhà
nước của Việt Nam cho thấy có nhiều điểm
tương đồng với luật phá sản doanh nghiệp của
Trung Quốc, đó là việc quy định mang nặng
dấu ấn của sự bảo hộ đối với phần tài sản
thuộc quyền sở hữu nhà nước. Tuy nhiên,
cũng cần lưu ý là phạm vi đối tượng của việc
xử lí phá sản trong luật phá sản doanh nghiệp
của Trung Quốc chỉ giới hạn đối với các
doanh nghiệp nhà nước để có thể nhận thức rõ
hơn về vấn đề mang tính so sánh này.
Với các quy định về khối tài sản của
doanh nghiệp trong Luật phá sản doanh
nghiệp của Việt Nam được áp dụng trong thời
gian qua đang nổi lên một số vấn đề cần giải
quyết là:
- Việc xác định tài sản của hợp tác xã. Tài
sản của hợp tác xã có nguồn gốc hình thành
chính là tài sản do xã viên đóng góp, tài sản
phát sinh trong hoạt động của hợp tác xã và
tài sản do Nhà nước trợ cấp. Thế nhưng trong
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản mà
không có khả năng phục hồi, cơ quan quản lí
cấp trên quyết định thu hồi số tài sản đó để
cấp cho cho các đơn vị khác hoặc không cho
phép hoàn tất thủ tục. Rõ ràng với cách thực
hiện quyền sở hữu như thế đã không tạo ra
được cơ sở ổn định và an toàn cho việc xác
định thực trạng tài sản của doanh nghiệp.
- Đối với các công ti trách nhiệm hữu hạn,
trường hợp trong hồ sơ thành lập công ti có
nhiều thành viên nhưng tài sản thực chất chỉ
thuộc một thành viên. Khi công ti làm ăn thua
lỗ và bị khởi kiện yêu cầu giải quyết phá sản
mới phát sinh tranh chấp giữa các thành viên
với nhau. Thực tế này đã đặt ra rất nhiều khó
khăn cho việc xác định quyền về tài sản cũng X©y dùng ph¸p luËt
T¹p chÝ luËt häc sè 1/2004 63
như sự định giá tài sản của công ti và của các
thành viên công ti.
(2)
- Đối với các doanh nghiệp tư nhân, xuất
phát từ nguyên tắc chịu trách nhiệm vô hạn
của loại doanh nghiệp này, Luật phá sản
doanh nghiệp quy định tài sản của doanh
nghiệp tư nhân bao gồm cả những tài sản
định giá đất; thành phần chuyên gia định giá
đất; quy chế thu hồi đất;
(4)
…
2. Những giải pháp hoàn thiện quy chế
pháp lí xác định khối tài sản phá sản
Từ những vấn đề nêu trên về đặc điểm
cũng như hiện trạng áp dụng quy chế pháp lí
về việc xác định khối tài sản phá sản trong
Luật phá sản doanh nghiệp của Việt Nam, để
góp phần hoàn thiện quy chế này, tôi xin được
nêu một số những giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, cần quy định rõ về thời điểm
xác định khối tài sản. Như đã đề cập, trên thế
giới hiện nay có hai cách xác định thời điểm
đó là thời điểm mở thủ tục giải quyết phá sản
và một thời điểm nhất định trong quá trình
giải quyết phá sản. Quy định của Luật phá sản
doanh nghiệp của Việt Nam có nhiều nét
tương đồng với khuynh hướng xem khối tài
sản của doanh nghiệp phá sản bao gồm cả
những tài sản phát sinh trong quá trình giải
quyết phá sản. Điều này được coi là thích hợp
với bối cảnh mà cơ chế kỉ luật tín dụng cũng
như kỉ luật hợp đồng còn thấp, tình hình tài
chính doanh nghiệp còn nhiều bất cập. Với
việc mở rộng thời điểm xác định khối tài sản
phá sản đã tạo ra những cơ hội nhất định cho
việc thu hồi tài sản của doanh nghiệp mắc nợ.
Tuy nhiên, Luật phá sản doanh nghiệp sửa đổi
xử lí phá sản. Đối với những tài sản thuộc sở
hữu chung (ví dụ: Sở hữu cộng đồng) có liên
quan đến doanh nghiệp phá sản cũng cần được
quy định cụ thể.
+ Công dụng và giá trị của tài sản: Trong
Luật phá sản doanh nghiệp của Việt Nam chỉ đề
cập vấn đề này trong việc xử lí khối tài sản của
doanh nghiệp tư nhân cho dù trong thực tiễn
giải quyết phá sản các doanh nghiệp lại liên
quan đến hàng loạt các đối tượng mà quyền và
lợi ích tài sản của họ là vấn đề cũng hết sức
nhạy cảm (ví dụ: Một số khoản trợ cấp đối với
người lao động trong doanh nghiệp hoặc những
tài sản gắn liền và đảm bảo cho nhu cầu sinh
hoạt tối thiểu của người lao động).
+ Phạm vi không gian lãnh thổ của tài
sản: Vấn đề đặt ra là tài sản của doanh nghiệp
hiện đang nằm ngoài phạm vi lãnh thổ Việt
Nam có nên đưa và phạm vi khối tài sản phá
sản hay không? Các quy định của Nhật Bản là
đáng cân nhắc. Tuy nhiên, chúng ta cũng
không loại trừ những khả năng có được từ
triển vọng thông qua các nỗ lực mở rộng mối
quan hệ hợp tác quốc tế, nhất là trong lĩnh vực
xây dựng pháp luật cũng như hỗ trợ tư pháp
để giải quyết hiệu quả vấn đề này.
- Cần có sự quy định thống nhất các khái
niệm như “tài sản của doanh nghiệp” và “tài
sản còn lại của doanh nghiệp”. Với cách quy
định như hiện tại có thể hiểu là: Các khái
TP. Hồ Chí Minh, 1996.
(4).Xem: Nguyễn Thị Mai, "Giải quyết phá sản, những
vấn đề pháp luật về đất đai Việt Nam và hướng hoàn
thiện", H. 2001.