Hoạt động nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học của công ty FPT - Thực trạng và giải pháp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, khi mà xu thế quốc tế hoá đang diễn ra mạnh
mẽ trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế thì việc nền
kinh tế của mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của nền kinh tế thế giới là
một tất yếu xảy ra. Đối với Việt Nam nói riêng, những quan hệ mua bán
với các nước không còn là vấn đề xa lạ nữa mà nó ngày càng trở nên sôi
động hơn, nhất là sau sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên
của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) ngày 7-11-2006. Và một trong
những hoạt động thương mại quốc tế không thể không kể đến là hoạt động
nhập khẩu hàng hoá.
Sở dĩ như vậy là vì hoạt động này mang lại nhiều lợi ích, không chỉ với
nền kinh tế quốc dân mà còn với cả các tổ chức, các cá nhân trong nền
kinh tế. Chính vì vậy, nhập khẩu không chỉ dừng lại ở một hoạt động mà
nó đã trở thành một lĩnh vực mũi nhọn, không thể thiếu của một quốc gia.
Đối với Công ty FPT nói riêng, nhập khẩu hàng hoá đóng vai trò to lớn
trong sự tồn tại và lớn mạnh của Công ty:
Thứ nhất: Nhập khẩu giúp cho công ty có thêm nguồn cung cấp đầu vào
cho sản xuất kinh doanh, đặc biệt là những vật tư, hàng hóa mà trong nước
chưa sản xuất được như: máy tính, các phụ kiện, điện thoại, các thiết bị
khác,…
Thứ hai: Thông qua nhập khẩu, các doanh nghiệp có thể nhập về được
những hàng hóa có chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh. Từ đó không những
tạo ra lợi ích cho bản than Công ty mà còn cả lợi ích cho người tiêu dung.
Thứ ba: Nhập khẩu cũng tạo điều kiện tốt cho việc giao lưu, học hỏi
kinh nghiệm và thắt chặt mối quan hệ với các nhà cung cấp, bởi thông qua
hoạt động này FPT sẽ tiếp cận gần hơn với các nhà cung cấp.Qua đó, học
hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu, cũng như quan hệ với họ ngày càng
được củng cố.
Ngoài những vai trò trên, đối với FPT, nhập khẩu hàng hoá còn có vai
trò cung cấp trang thiết bị cho cán bộ công nhân viên làm việc và đảm bảo
Hoạt động nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học của công ty FPT - Thực trạng và giải pháp
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA NHẬP KHẨU HÀNG
HÓA.
1.1.1. Khái niệm nhập khẩu hàng hóa:
Có thể nói, từ khi nước ta mở cửa thị trường cho đến nay thì việc nhập
khẩu không phải là vấn đề gì mới mẻ và lạ lẫm nữa, nhưng để hiểu rõ hơn ,
trước hết ta sẽ xem xét thế nào là nhập khẩu hàng hoá.
Theo Luật Thương mại(6/2005) “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa
được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt
nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy
định của pháp luật.”
Vậy nhập khẩu có những đặc trưng gì hay nhập khẩu khác với những
loại hình kinh doanh khác như thế nào?
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của nhập khẩu hàng hóa:
Nhập khẩu hàng hoá cũng có nhiều điểm giống như những hoạt động
kinh doanh khác, nhưng bên cạnh đó cũng có những điểm đặc thù:
Thứ nhất: Về chủ thể tham gia.
Chủ thể tham gia hoạt động này có trụ sở kinh doanh ở các nước khác
nhau, thường thường có quốc tịch khác nhau. Vì vậy, khi tiến hành hoạt
động này cần quan tâm nhiều đến vấn đề ngôn ngữ, văn hoá, khí hậu,…vì
những điểm khác nhau này tạo ra nhiều khó khăn trong quá trình giao dịch
và kí kết cũng như thực hiện hợp đồng nhập khẩu giữa các bên.
Do vậy, người tiến hành hoạt động này cần phải là người có trình độ
nghiệp vụ cao, hiểu biết về văn hóa, kinh tế, xã hội của các nước trên thế
giới, giỏi ngoại ngữ và có những đức tính cần thiết khác.
Thứ hai: Về đối tượng nhập khẩu.
Sinh viên : Dương Thị Bích Lệ Lớp
TM46B
Cash Against Document, hoặc chỉ đảm bảo cho người mua như phương
thức Nhờ thu phiếu trơn, hoặc có thể đảm bảo cho cả hai bên như phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ. Vì vậy, cần đảm bảo lựa chọn phương
thức thanh toán an toàn, có lợi cho công ty và giữ được mối quan hệ lâu
dài với các đối tác.
Sinh viên : Dương Thị Bích Lệ Lớp
TM46B
4
Hoạt động nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học của công ty FPT - Thực trạng và giải pháp
Ba là: Việc thanh toán giữa các chủ thể tham gia hoạt động này diễn ra
thông qua sử dụng các phương tiện thanh toán quốc tế, như: séc, hối phiếu,
thẻ tín dụng,… Chính vì vậy các bên cần phải hiểu các phương tiện thanh
toán trên để áp dụng vào từng trường hợp một cách chính xác và an toàn.
Như vậy có thể thấy nhà nhập khẩu muốn đảm bảo hiệu quả của nhập
khẩu thì trong thanh toán cần phải hiểu và lựa chọn đúng ba điểm cơ bản
là: đồng tiền thanh toán, phương thức thanh toán và công cụ thanh toán.
Thứ tư: Về luật điều chỉnh hoạt động nhập khẩu.
Vì hoạt động nhập khẩu được diễn ra giữa các chủ thể thông thường có
quốc tịch khác nhau. Do vậy nếu như hoạt động kinh doanh trong nước chỉ
chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia thì hoạt động nhập khẩu hàng
hoá chịu sự điều chỉnh của Luật các quốc gia (bao gồm Luật của nước xuất
khẩu, nước nhập khẩu hoặc nước thứ ba), Luật thương mại quốc tế và các
tập quán thương mại quốc tế.
Thứ năm: Những tác động của môi trường quốc tế đến doanh nghiệp
tham gia trong hoạt động nhập khẩu.
Vì bản thân hoạt động nhập khẩu đã diễn ra trong môi trường quốc tế
trong đó giữa các chủ thể và môi trường có mối quan hệ tương tác qua lại.
Do đó, tất cả những biến động của môi trường quốc tế đều tác động sâu sắc
đến hoạt động nhập khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp . Trong đó, sự
thay đổi đó có thể là sự thay đổi tỷ giá hối đoái, sự sụt giảm hay tăng lên
tiềm năng, thế mạnh của các nước khác để thúc đẩy quá trình sản xuất xã
hội phát triển trên cơ sở tiếp thu những tiến bộ về khoa học công nghệ và
sử dụng những hàng hoá tốt, rẻ mà mình chưa sản xuất được hoặc sản xuất
không hiệu quả.
Thứ tư: Từ những hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá, các chủ thể
kinh doanh, các quốc gia thấy được lợi ích của việc hợp tác trong thương
mại quốc tế. Vì vậy, thương mại quốc tế nói chung và nhập khẩu hàng hoá
nói riêng góp phần thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế thế giới.
Thứ năm: Thông qua nhập khẩu hàng hoá cho phép quốc gia tiêu dùng
các mặt hàng với số lượng nhiều hơn, giá rẻ hơn và chủng loại phong phú
hơn, góp phần nâng cao khả năng tiêu dùng và mức sống của dân cư.
1.1.3.2. Vai trò của việc nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học.
Ngoài những vai trò chung kể trên, đối với riêng việc nhập khẩu mặt
hàng thiết bị tin học còn có những vai trò đáng kể sau:
Đối với quốc gia, việc nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học góp phần
nâng cao trình độ tin học cho toàn dân. Nhờ được tiếp xúc với những thiết
bị tin học những kiến thức về công nghệ thông tin được cập nhật, tránh sự
lạc hậu so với thế giới. Hơn nữa, sự có mặt của công nghệ thông tin đã tác
động không nhỏ đến tất cả các nghành, các lĩnh vực trong toàn nền kinh tế.
Sinh viên : Dương Thị Bích Lệ Lớp
TM46B
6
Hoạt động nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học của công ty FPT - Thực trạng và giải pháp
Nhờ nó mà các công việc được thực hiện nhanh hơn, chính xác hơn, từ đó
tạo ra hiệu quả trong sản xuất và trong các hoạt động khác.
Đối với doanh nghiệp nói chung, việc đưa công nghệ thông tin vào
trong hoạt động của mình góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất
lượng của quản lý, của sản xuất trong mỗi doanh nghiệp.
Đối với riêng các doanh nghiệp tổ chức kinh doanh mặt hàng thiết bị tin
học thì việc nhập khẩu mặt hàng này là nguồn đầu vào quan trọng trong
trường xuất nhập khẩu cần làm rõ những vấn đề như:
Thứ nhất: Khối lượng sản xuất được và nhu cầu để biết được khối
lượng hàng hoá cần nhập khẩu. Thông tin này phục vụ đắc lực cho khâu
đặt mua hàng, tránh được tình trạng nhập về mà không dùng đến gây ứ
đọng, lãng phí.
Thứ hai: Tìm hiểu nguồn cung cấp hàng hoá trên thị trường mà doanh
nghiệp kinh doanh, nhu cầu hàng hoá của từng khu vực để chọn được
nguồn cung cấp đảm bảo, tìm được thị trường mục tiêu.
Thứ ba: Tìm hiểu được những nhân tố tác động đến hoạt động xuất
nhập khẩu, các nhân tố chủ quan cũng như khách quan để doanh nghiệp có
thể dự đoán được những biến động của thị trường. Từ đó vạch ra được
chiến lược kinh doanh cho mình.
Hai là: Về hàng hóa.
Doanh nghiệp muốn kinh doanh tốt thì phải hiểu được đối tượng mà
mình kinh doanh.Đó là các thông tin về thương phẩm, về nhu cầu thị
trường đối với hàng hóa, về điều kiện sản xuất và tiêu dùng có tính thời vụ
hay liên tục, hàng hóa đang ở thời kì nào của chu kì sống và tỷ suất ngoại
tệ của việc nhập khẩu hàng hoá (doanh nghiệp chỉ nên nhập khẩu nếu tỷ
suất nhập khẩu lớn hơn hoặc bằng tỷ giá hối đoái).
Ba là: Về giá cả.
Giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Trong buôn
bán quốc tế các nhà kinh doanh hàng hoá nhập khẩu phải nắm được chính
xác giá của hàng hoá định nhập và xu hướng biến động của nó. Giá cả của
hàng hoá được cấu thành bởi: giá vốn, giá bao bì, chi phí bảo hiểm, chi phí
vận chuyển và các chi phí khác tuỳ theo thoả thuận của các bên tham gia.
Thông thường giá cả hàng hóa nhập khẩu chịu ảnh hưởng của rất nhiều
nhân tố, như: giá cả trên thị trường quốc tế, độc quyền, lạm phát, cung-
cầu,… Vì vậy, người kinh doanh nhập khẩu phải phân tích được ảnh
hưởng của từng nhân tố để có thể lựa chọn được từng mức giá phù hợp.
Sinh viên : Dương Thị Bích Lệ Lớp
Ba là: Hệ thống các giải pháp để đạt được chỉ tiêu.
Đây là phần việc tất yếu phải vạch ra nhằm biến những mục tiêu trên
thành hiện thực. Những mục tiêu này kết hợp với những khả năng của
doanh nghiệp là cơ sở để xây dựng nên những giải pháp thực hiện. Các
giải pháp này có thể chia ra thành nhóm giải pháp ở thị trường trong nước
và nhóm giải pháp ở thị trường quốc tế, nhưng dù là nhóm giải pháp nào
Sinh viên : Dương Thị Bích Lệ Lớp
TM46B
9
Hoạt động nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học của công ty FPT - Thực trạng và giải pháp
thì cũng cần chỉ ra cụ thể những việc cần phải làm, làm bởi ai, làm như thế
nào, thời gian để thực hiện trong bao lâu, ngân sách để thực hiện ra sao,…
Như vậy, lập phương án kinh doanh trong hoạt động xuất nhập khẩu nói
chung và nhập khẩu nói riêng là một công việc cần phải được thực hiện bởi
những người có chuyên môn, có trình độ hiểu biết về ngoại thương vì các
bộ phận trong phương án kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau,
lập phương án kinh doanh có tốt thì hoạt động kinh doanh mới đạt hiệu
quả mong muốn.
1.2.1.3.Tìm kiếm đối tác nhập khẩu.
Sau khi lập được phương án kinh doanh phù hợp thì bước tiếp theo là
tìm kiếm đối tác, giao dịch và đàm phán kí kết hợp đồng.
Để tìm kiếm đối tác cung cấp hàng hoá thì nhiều công ty có những tiêu
chí lựa chọn khác nhau như giá cả, độ tin cậy, uy tín, quy mô của nhà cung
cấp, chất lượng,... Từ việc đặt các trọng số cho các tiêu chí trên và tính
điểm cho mỗi đối tác mà công ty tiến hành so sánh và lựa chọn đối tác phù
hợp nhất.
1.2.1.4. Đàm phán, kí kết hợp đồng nhập khẩu.
Trong hoạt động nhập khẩu việc kí kết hợp đồng giữa các bên là cực kì
cần thiết vì hợp đồng thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
một cách rõ ràng và được đảm bảo thực hiện trước pháp luật.
phức tạp mà nếu chỉ giao dịch qua điện thoại hay thư tín thì không thể
chuyển tải hết được thông tin và không thể thống nhất được quan điểm của
hai bên trong một vấn đề nào đó. Vì vậy, hiện nay hình thức này được áp
dụng nhiều cho những hợp đồng lớn hoặc khi đối tác và doanh nghiệp lần
đầu tiên hợp tác với nhau.
Ngoài ra, người ta còn kết hợp các hình thức trên trong giao dịch tùy
vào từng giai đoạn, từng yêu cầu cụ thể của công việc cũng như trong từng
hợp đồng cụ thể.
Kí kết hợp đồng ngoại thương.
Trước hết để tránh những rủi ro không đáng có trong việc kí kết hợp
đồng các doanh nghiệp cần hiểu rõ về hợp đồng ngoại thương với một số
nét cơ bản sau:
Về khái niệm: hợp đồng ngoại thương hay còn gọi là hợp đồng xuất
nhập khẩu, là sự thỏa thuận của bên mua và bên bán giữa hai nước khác
nhau, trong đó quy định bên bán phải cung cấp hàng hóa và chuyển giao
các chứng từ có liên quan đến hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa cho bên
mua và bên mua phải thanh toán tiền hàng.
Sinh viên : Dương Thị Bích Lệ Lớp
TM46B
11
Hoạt động nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học của công ty FPT - Thực trạng và giải pháp
Về yêu cầu đối với hợp đồng ngoại thương:
Hợp đồng ngoại thương muốn có giá trị pháp lý thực hiện trong thực tế
và trở thành cơ sở để giải quyết tranh chấp (nếu có) xảy ra giữa các bên
trong quá trình thực hiện hợp đồng, thì hợp đồng ngoại thương phải đồng
thời thỏa mãn được các yêu cầu
Yêu cầu 1: Hợp đồng phải được xây dựng trên cơ sở pháp lý vững chắc.
Điều này có nghĩa là hợp đồng ngoại thương phải được xây dựng dựa trên
cơ sở Luật của nước người bán, các luật và các tập quán có liên quan đến
hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế như: Inconterms, Công ước Viên năm
• Đối với phần mở đầu của một hợp đồng ngoại thương thường bao
gồm: Tiêu đề hợp đồng, số và ký hiệu hợp đồng và thời gian ký kết
hợp đồng.
• Đối với phần thông tin về chủ thể kí kết hợp đồng, phần này sẽ nêu
những thông tin cần thiết về mỗi chủ thể tham gia. Đó là các thông
tin về:Tên đơn vị, địa chỉ đơn vị, các số máy Fax, điện thoại và địa
chỉ Email, Website nếu có, số tài khoản và tên ngân hàng mà đơn vị
có tài khoản giao dịch thường xuyên.
• Đối với phần nội dung của hợp đồng ngoại thương thường bao gồm
các điều khoản trong đó gồm 6 điều khoản bắt buộc bao gồm:
Điều khoản về hàng hoá (Commodity): Điều khoản này sẽ mô tả về đối
tượng trao đổi, đó là các loại hàng hoá với những đặc trưng cơ bản.
Điều khoản về chất lượng hàng hoá (Quality) mà bên bán phải giao cho
bên mua hàng.
Điều khoản về giá cả (Price): Ghi rõ đơn giá theo điều kiện thương mại
lựa chọn và tổng số tiền thanh toán của hợp đồng.
Điều khoản về giao hàng (Shipment): Trong điều khoản này hai bên cần
thoả thuận rõ vè thời hạn và địa điểm giao hàng, việc giao hàng một lần
hay nhiều lần và việc chuyển tải hàng hóa sẽ do bên nào phụ trách.
Điều khoản về thanh toán (Payment): Trong điều khoản này hai bên
thoả thuận với nhau về thời hạn trả, đông tiền thanh toán, thanh toán bằng
phương thức nào.
Trên đây là các điều khoản chủ yếu, không thể thiếu đối với một hợp
đồng ngoại thương hợp pháp.
Ngoài ra còn có một số điều khoản phụ, như: Quy cách đóng gói bao bì
và nhãn hiệu hàng hóa, bảo hành hàng hóa, phạt và bồi thường, bảo hiểm
hàng hóa, bất khả kháng,…
• Đối với phần cuối của một hợp đồng ngoại thương, thông thường sẽ
bao gồm các nội dung về: Số bản của hợp đồng, hình thức của hợp
đồng là viết tay hay bản fax hay telex, ngôn ngữ hợp đồng sử dụng,
gọi điện để đôn đốc người bán chuẩn bị hàng hóa và chuyển cho mình theo
đúng thời gian quy định. Tuy bước này thực hiện đơn giản nhưng rất quan
trọng vì có nhiều trường hợp vì một lí do nào đó đối tác thực hiện không
đúng hoặc chuyển hàng chậm cho công ty làm ảnh hưởng đến kế hoạch
kinh doanh, gây ứ đọng vốn, làm thiệt hại cho công ty.
Bước 3: Bước đầu thực hiện các thủ tục thanh toán.
Sinh viên : Dương Thị Bích Lệ Lớp
TM46B
14
Hoạt động nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học của công ty FPT - Thực trạng và giải pháp
Tùy từng hợp đồng cụ thể quy định việc tiến hành các thủ tục thanh
toán được thực hiện như thế nào. Nhìn chung, các thủ tục thanh toán sơ bộ
được thực hiện ở bước này phụ thuộc vào việc trong hợp đồng hai bên thỏa
thuận sử dụng phương thức thanh toán nào.
Nếu sử dụng phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ, thanh toán
bằng phương thức chuyển tiền trả trước, thanh toán bằng phương thức Đổi
chứng từ trả tiền ngay(CAD) thì hai bên phải tiến hành những thủ tục
thanh toán sơ bộ ban đầu.
Nếu hợp đồng quy định sử dụng phương thức thanh toán khác, như:
Điện chuyển tiền (T/T), Trả tiền đề đổi chứng từ (D/P), Chấp nhận trả tiền
đổi chứng từ, Thanh toán bằng séc,… thì không có bước này.
Bước 4: Thuê phương tiện vận tải.
Hiện nay, theo Incoterms có 13 điều kiện giao hàng, trong đó quy định
nghĩa vụ thuê phương tiện vận tải có thể thuộc về người mua hoặc người
bán tùy theo từng điều kiện giao hàng.
Theo Incoterms 2000 thì:
Nếu trong hợp đồng chi rõ điều kiện giao hàng theo Incoterms 2000 với
điều kiện giao hàng loại E và F, gồm: EXW, FOB,FAS,FCA thì người mua
có nghĩa vụ phải thực hiện thuê phương tiện vận tải. Có thể dùng hình thức
thuê phương tiện vận tải bằng phương thức tàu chuyến, tàu chợ.
cầu của cơ quan hải quan và thông quan hàng hóa.
Bước 7: Nhận hàng từ người vận tải.
Để nhận được hàng hoá từ người vận tải cán bộ đi nhận hàng cần xuất
trình lệnh giao hàng và kí kết hợp đồng uỷ thác cho cảng tiến hành dỡ
hàng.
Bước 8: Kiểm tra hàng hóa trước sự chứng kiến của đại diện của chủ
phương tiện vận tải, đại diện cảng biển (nếu có), đại diện hải quan và đại
diện của người bảo hiểm. Sau đó, lập biên bản nhận hàng trong đó ghi rõ
những vấn đề về hàng hoá, những phát sinh tổn thất,… để hai bên cùng
giải quyết.
Bước 9: Thực hiện thanh toán tiền hàng cho người bán.
Đây là nghiệp vụ vận dụng tổng hợp các điều kiện thanh toán quốc tế là
công việc quan trọng và cuối cùng trong việc thực hiện hợp đồng nhập
khẩu. Thủ tục thanh toán sẽ tùy thuộc vào hình thức thanh toán và qui định
trong hợp đồng. Tuy nhiên doanh nghiệp cần phải chú ý có nhiều hình thức
thanh toán khác nhau, mỗi hình thức lại có cách thức và trình tự thanh toán
khác nhau.
Bước 10: Khiếu nại (nếu có).
Sinh viên : Dương Thị Bích Lệ Lớp
TM46B
16
Hoạt động nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học của công ty FPT - Thực trạng và giải pháp
Bước này chỉ thực hiện khi xảy ra những sai khác đối với những thỏa
thuận của hai bên. Có thể thực hiện khiếu nại qua việc thương lượng, hòa
giải giữa hai bên, thông qua trung gian hòa giải, thông qua trọng tài thương
mại hoặc tòa án để giải quyết. Nhưng phổ biến hơn cả là việc thương
lượng giữa hai bên, các hình thức khác chỉ tiến hành khi thương lượng
không đạt sự thống nhất của các bên tham gia.
1.2.2. Các phương thức nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học
Trải qua nhiều thế kỉ, các phương thức trao đổi hàng hoá quốc tế cũng
gian tìm hiểu lâu cho nên trong trường hợp mua không thường xuyên, số
lượng ít, cần đáp ứng ngay thì không nên sử dụng phương thức này.
Mặt khác, kinh doanh nhập khẩu trực tiếp đòi hỏi có những cán bộ
nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu giỏi: Giỏi về giao dịch đàm phán,
am hiểu và có kinh nghiệm buôn bán quốc tế đặc biệt là nghiệp vụ thanh
toán quốc tế thông thạo, có như vậy mới bảo đảm kinh doanh nhập khẩu
trực tiếp có hiệu quả.
Đây vừa là yêu cầu để đảm bảo hoạt động kinh doanh nhập khẩu trực
tiếp, vừa thể hiện điểm yếu của đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Việt Nam khi tiếp cận với thị trường thế giới.
1.2.2.2. Phương thức xuất nhập khẩu đối lưu-Counter Trade.
Khái niệm:
Xuất nhập khẩu đối lưu (Counter – Trade) hay còn gọi là hình thức xuất
khẩu liên kết là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ
với nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là người mua, lượng hàng trao
đổi với nhau, có giá trị tương đương. Ở đây mục đích của xuất khẩu không
phải nhằm thu ngoại tệ, mà thu về một hàng hóa khác có giá trị tương
đương.
Hiện nay, phương thức buôn bán đối lưu chiếm khoảng 24% kim
nghạch buôn bán toàn cầu với 6 hình thức buôn bán chủ yếu, như:
Hàng đổi hàng (Barter):
Là việc hai bên trao đổi với nhau những hàng hóa có giá trị tương
đương, việc giao hàng diễn ra hầu như đồng thời.
Trao đổi bù trừ (Compensation)
Trong nghiệp vụ bù trừ (Compensation) hai bên trao đổi hàng hóa với
nhau trên cơ sở giá trị hàng giao, đến cuối kỳ hạn, hai bên mới so sánh, đối
chiếu giữa trị giá hàng giao với trị giá hàng nhận. Nếu sau khi bù trừ tiền
hàng như thế mà còn số dư thì số tiền đó được giữ lại để chi trả theo yêu
cầu của bên chủ nợ về những khoản chi tiêu của bên chủ nợ tại nước bị nợ.
Mua đối ứng (counter – purchase): Hai bên ký kết với nhau hai hợp
có nhiểu bên tham gia vào việc trao đổi làm thúc đẩy thương mại toàn cầu
và việc buôn bán vẫn có thể diễn ra khi một trong hai bên không có nhu
cầu hàng hoá của bên kia.
Mặt khác, thông qua việc kết hợp xuất khẩu với nhập khẩu và việc
thanh toán có thể thực hiện sau khi sản xuất nhờ vào vốn của bên kia cũng
tạo điều kiện cho sản xuất phát triển.
Về nhược điểm:
Cũng như phương thức nhập khẩu trực tiếp việc thực hiện buôn bán đối
lưu cũng thể hiện một số nhược điểm:
Sinh viên : Dương Thị Bích Lệ Lớp
TM46B
19
Hoạt động nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học của công ty FPT - Thực trạng và giải pháp
Một là: Do có nhiều bên tham gia hợp đồng nên việc thực hiện hợp
đồng phải thật chính xác sao cho các hợp đồng đều được đảm bảo, việc
một hợp đồng có trục trặc thì hợp đồng kia cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Hai là: Khi tiến hành buôn bán theo hình thức này thì việc thực hiện
nguyên tắc cân bằng là rất quan trọng, nhưng đôi khi do tương quan sức
mạnh của hai bên không cân bằng và do sự cần thiết của một bên có thể bị
bên mạnh hơn tạo áp lực và có những đòi hỏi trong trao đổi gây thiệt hại
cho bên kia.
1.2.2.3. Phương thức nhập khẩu qua trung gian (Agent).
Khái niệm
Giao dịch qua trung gian là hình thức mua bán quốc tế được thực hiện
nhờ sự giúp đỡ của trung gian thứ ba. Người thứ ba này được hưởng một
khoản tiền nhất định.
Người trung gian phổ biến trong giao dịch quốc tế là đại lý môi giới.
Nhập khẩu qua đại lý:
Đại lý là một người hoặc một công ty ủy thác cho người khác, công ty
khác thực hiện việc mua bán hoặc dịch vụ phục vụ cho việc mua bán như
trung gian, phải đáp ứng những yêu sách của đại lý và môi giới đưa ra.
Đồng thời, nếu nhập khẩu trực tiếp nhà nhập khẩu sẽ mua được với
giá cả thấp nhất vì trực tiếp mua hàng mà không phải trả chi phí trung gian
trong khi đó, sử dụng các trung gian thì giá cả hàng hoá sẽ cao hơn vì
trong đó đã cộng thêm chi phí lưu thông và lợi nhuận của các trung gian.
Vì vậy, lợi nhuận bị chia sẻ.
Một vấn đề nữa là về việc vốn kinh doanh hay bị bên nhận đại lý chiếm
dụng do phải thanh toán cho bên trung gian để họ nhập hàng về và không
chủ động được kế hoạch nhập hàng gây ra việc vốn bị đóng băng.
Do những lợi hại nêu trên, trung gian chỉ được sử dụng trong những
trường hợp thật cần thiết như:
• Khi thâm nhập vào thị trường mới,
• Khi mới đưa vào thị trường một mặt hàng mới,
• Khi tập quán đòi hỏi phải bán hàng qua trung gian.
• Khi mặt hàng đỏi hỏi sự chăm sóc đặc biệt. Ví dụ: Hàng tươi sống…
1.2.2.4. Phương thức kinh doanh tái xuất.
Khái niệm:
Tái xuất khẩu là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang các nước
khác, những hàng hóa đã mua ở nước ngoài nhưng chưa qua chế biến ở
nước tái xuất.
Mục đích:
Sinh viên : Dương Thị Bích Lệ Lớp
TM46B
21
Hoạt động nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học của công ty FPT - Thực trạng và giải pháp
Mục đích của thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua rẻ hàng hóa ở
nước này bán đắt hàng hóa ở nước khác và thu số ngoại tệ lớn hơn số vốn
bỏ ban đầu. Giao dịch này luôn luôn thu hút ba nước tham gia: nước xuất
khẩu, nước tái xuất khẩu và nước nhập khẩu.
Phân loại hoạt động tái xuất khẩu
22
Hoạt động nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học của công ty FPT - Thực trạng và giải pháp
Đấu giá quốc tế.
Đấu giá quốc tế là phương thức bán hàng đặc biệt, được tổ chức công
khai ở một nơi nhất định. Tại đó, sau khi xem xét hàng hóa những người
mua sẽ tự do cạnh tranh trả giá và cuối cùng hàng hóa sẽ được bán cho
người mua trả giá cao nhất.
Đấu thầu quốc tế
Đấu thầu quốc tế là một phương thức giao dịch đặc biệt, trong đó người
mua (tức người gọi thầu) công bố trước điều kiện mua hàng để người bán
(tức người dự thầu) báo giá mình muốn bán, sau đó người mua sẽ chọn
mua của người nào bán giá rẻ nhất và điều kiện tín dụng phù hợp cả với
những điều kiện đã nêu.
Phương thức đấu thầu được áp dụng tương đối phổ biến trong việc mua
sắm và thi công các công trình của Nhà nước, nhất là tại các nước đang phát
triển.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC NHẬP KHẨU MẶT
HÀNG THIẾT BỊ TIN HỌC.
Doanh nghiệp từ khi ra đời, tồn tại và phát triển đều ở trong môi trường
kinh doanh. Môi trường kinh doanh tồn tại một cách khách quan và không
thể phủ nhận được nó. Mỗi một sự thay đổi của môi trường đều ảnh hưởng
đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Là một trong những doanh
nghiệp tồn tại trong môi trường kinh doanh, Công ty cổ phần Phát triển và
Đầu tư công nghệ FPT cũng chịu những tác động đó, nhất là trong việc
nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học. Mặt khác, vì nhập khẩu là hoạt động
diễn ra trong môi trường quốc tế nên kết quả hoạt động này chịu ảnh
hưởng sâu rộng bởi những yếu tố không chỉ thuộc về bản thân FPT mà còn
chịu ảnh hưởng của môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế.
1.3.1.Các nhân tố khách quan
Trước hết, các nhân tố khách quan là những nhân tố tồn tại ngoài ý chí
còn phải tính thêm mức thuế mà mình phải chịu sao cho đảm bảo vẫn có
lợi nhuận, điều này cho thấy rằng thuế đóng vai trò rất quan trọng đối với
doanh nghiệp .
Hai là: Hạn ngạch nhập khẩu.
Đây là một biện pháp chính phủ sử dụng để quản lý hoạt động nhập
khẩu, hạn ngạch nhập khẩu có thể được hiểu là những quy định về số
lượng, trị giá của mặt hàng hoặc nhóm hàng được nhập khẩu từ một thị
trường nhất định, trong thời gian nhất định của chính phủ. Đối với những
mặt hàng bị chính phủ hạn chế bằng hạn ngạch doanh nghiệp nhập khẩu sẽ
gặp phải rất nhiều khó khăn ảnh hưởng đến quy mô kinh doanh của doanh
nghiệp.
Sinh viên : Dương Thị Bích Lệ Lớp
TM46B
24
Hoạt động nhập khẩu mặt hàng thiết bị tin học của công ty FPT - Thực trạng và giải pháp
Còn đối với những hàng nhập khẩu không bị chính phủ hạn chế bằng
hạn ngạch thì doanh nghiệp nhập khẩu sẽ gặp rất nhiều thuận lợi.
Ba là: Chính sách đối ngoại và cơ chế tỷ giá.
Hoạt động nhập khẩu cũng phụ thuộc nhiều vào quan hệ giữa các Quốc
gia, điều này khiến cho các doanh nghiệp gặp phải ưu đãi hoặc cản trở khi
tiến hành hoạt động nhập khẩu .
Việc quản lý tỷ giá của chính phủ hay sự sử dụng cơ chế tỷ giá thả nổi
hay cố định cũng ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu .
Như vậy, luật pháp bao giờ cũng là cơ sở pháp lý để tổ chức và thực
hiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Với hoạt động nhập khẩu thì
luật pháp không chỉ là luật pháp của nước sở tại mà còn bao gồm luật pháp
của các nước khác và luật pháp quốc tế. Vì vậy, FPT cần quan tâm đến
việc phân tích và cập nhật những thông tin về hệ thống chính sách trong
nước và quốc tế.
Thứ hai: Những yếu tố kinh tế.