Tiểu luận
Đạo đức và trách nhiệm xã
hội trong kinh doanh
1
1
A.MỞ ĐẦU
Đạo đức và trách nhiệm xã hội rõ ràng là những vấn đề không thể thiếu trong kinh
doanh. Nhưng thực tế lại cho thấy rằng những vấn đề này chưa được doanh nghiệp chú ý.
Thật khó mà thuyết phục doanh nghiệp thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng
những luận cứ dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt. Bài viết này muốn thuyết phục rằng việc
thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ đem lại nhiều lợi ích mang tính chiến lược cho các doanh
nghiệp. Đạo đức và trách nhiệm xã hội không chỉ là những vấn đề gây tốn kém và bó buộc mà
còn có thể là những cơ hội tiềm tàng trong kinh doanh cho những ai nhận ra và đón bắt được.
Xem đạo đức và trách nhiệm xã hội là một phần thiết yếu của chiến lược kinh doanh, các
doanh nghiệp cũng sẽ cảm thấy tự nguyện và chủ động hơn trong việc thực hiện. Khi đó,
những vấn đề này không còn là một gánh nặng hay điều bắt buộc mà là nguồn và cơ sở của
những thành công.
Trong thời đại ngày nay, do sự phát triển ngày càng cao của nhận thức con người về
những hậu quả khó lường của các tiến bộ kỹ thuật cũng như kinh tế, nhất là sau những thảm
họa về môi trường do nền công nghiệp gây ra trong vài thập niên gần đây, các nhà doanh
nghiệp ngày càng bị áp lực khi buộc phải giải trình và thuyết minh về các phương pháp sản
xuất mà mình sử dụng, cũng như về cứu cánh của các hoạt động mình. Người tiêu dùng ngày
nay đòi hỏi các nhà doanh nghiệp phải có “ý thức trách nhiệm công dân” nhiều hơn. Chính vì
thế, gần đây người ta không chỉ nói tới “đạo đức kinh doanh”, mà còn đề cập thêm khái niệm
“đạo đức quản trị” (management ethics) hiểu theo nghĩa là một nền đạo đức nằm ngay trong
bản thân tổ chức của doanh nghiệp, trong việc quản lý các mối quan hệ nội bộ cũng như quan
hệ với cộng đồng và môi trường sinh thái ở bên ngoài.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tất yếu đi liền với kinh doanh, bởi nó
mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích đáng kể: khẳng định thương hiệu doanh nghiệp
trong lòng khách hàng và tăng lợi nhuận doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
đóng vai trò người kiến tạo lòng trung thành nơi khách hàng bằng những giá trị đạo đức rất
• Tôn trọng
- Đối với những người cộng sự và dưới quyền, nhà quản trị cần tôn trọng phẩm giá,
quyền lợi chính đáng, tôn trọng hạnh phúc, tôn trọng tiềm năng phát triển của nhân viên, quan
tâm đúng mức, tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác.
-Đối với khách hàng: Tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng. Đối với đối
thủ cạnh tranh, tôn trọng lợi ích của đối thủ
-Gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng và xã hội, coi trọng hiệu quả
gắn với trách nhiệm xã hội
-Bí mật và trung thành với các trách nhiệm đặc biệt
Các thương hiệu nổi tiếng thường là những thương hiệu của các nhà quản trị biết tôn
trọng đạo đức kinh doanh
• Giá trị và sự công bằng
-Trong mối quan hệ kinh doanh, sự khác biệt quan trọng giữa một quyết định quản trị
thông thường với một quyết định hướng đạo đức thể hiện một mặt ở chỗ những thông lệ
3
3
không còn được coi là cơ sở ra quyết định, mà người ra quyết định phải gánh vác trách nhiệm
cân nhắc về giá trị và đảm bảo sự công bằng trong những hoàn cảnh không giống bất kỳ
trường hợp nào đã gặp trước đó; mặt khác nhấn mạnh vào giá trị con người (giá trị tinh thần)
khi ra quyết định. Vì vậy quan điểm về giá trị và triết lý đạo đức về sự công bằng luôn đóng
vai trò cực kì quan trong trong các quyết định liên quan đến đạo đức
1.3. Ý nghĩa của việc thực hiện tốt đạo đức kinh doanh
*) Đạo đức trong kinh doanh góp phần điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh doanh.
Đạo đức kinh doanh bổ sung và kết hợp với pháp luật điều chỉnh các hành vi kinh
doanh theo khuôn khổ pháp luật và quỹ đạo của các chuẩn mực đạo đức xã hội. Không một
pháp luật nào, dù hoàn thiện đến đâu chăng nữa cũng có thể là chuẩn mực cho mọi hành vi
của đạo đức kinh doanh. Nó không thể thay thế vai trò của đạo đức kinh doanh trong việc
khuyến khích mọi người làm việc thiện, tác động vào lương tâm của doanh nhân. Bởi vì phạm
vi ảnh hưởng của đạo đức rộng hơn pháp luật, nó bao quát mọi lĩnh vực của thế giới tinh thần,
trong khi pháp luật chỉ điều chỉnh những hành vi liên quan đến chế độ nhà nước, chế độ xã
hàng. Các nhà đầu tư cũng rất quan tâm đến vấn đề đạo đức, trách nhiệm xã hội và uy tín của
các doanh nghiệp mà họ đầu tư, và các doanh nghiệp quản lý tài sản có thể giúp các nhà đầu
tư mua cổ phiếu của các doanh nghiệp có đạo đức.
Hầu hết các doanh nghiệp đáng ngưỡng mộ nhất trên thế giới đều chú trọng vào
phương pháp làm việc theo nhóm, quan tâm nhiều đến khách hàng, đề cao việc đối xử công
bằng với nhân viên, và thưởng cho các thành tích tốt.
*) Đạo đức kinh doanh góp phần vào sự cam kết và tận tâm của nhân viên.
Sự tận tâm của nhân viên xuất phát từ việc các nhân viên tin rằng tương lai của họ gắn
liền với tương lai của doanh nghiệp và chính vì thế họ sẵn sàng hy sinh cá nhân vì tổ chức của
mình. Môi trường đạo đức của doanh nghiệp rất quan trọng đối với các nhân viên. Đa số nhân
viên tin rằng, hình ảnh của một doanh nghiệp đối với cộng đồng là vô cùng quan trọng . Sự
cam kết làm các điều thiện, quan tâm đến nhân viên và tôn trọng nhân viên thường tăng sự tận
tâm, trung thành của nhân viên đối với tổ chức và sự ủng hộ của họ với các mục tiêu của tổ
chức. Các vấn đề có ảnh hưởng đến sự phát triển của một môi trường đạo đức cho nhân viên
bao gồm một môi trường lao động an toàn, thù lao thích đáng, và thực hiện đầy đủ các trách
nhiệm được ghi trong hợp đồng với tất cả các nhân viên. Các chương trình cải thiện môi
trường đạo đức có thể là chương trình “gia đình và công việc” hoặc chia/bán cổ phần cho
nhân viên.
*) Đạo đức kinh doanh góp phần làm hài lòng khách hàng.
Các nghiên cứu và kinh nghiệm hiện thời của nhiều quốc gia cho thấy mối quan hệ
chặt chẽ giữa hành vi có đạo đức và sự hài lòng của khách hàng. Các hành vi vô đạo đức có
thể làm giảm lòng trung thành của khách hàng và khách hàng sẽ chuyển sang mua hàng của
các doanh nghiệp. Các khách hàng thích mua sản phẩm của các doanh nghiệp có danh tiếng
tốt, quan tâm đến khách hàng và xã hội. Khách hàng nói rằng họ ưu tiên những thương hiệu
nào làm điều thiện nếu giá cả và chất lượng các thương hiệu như nhau. Các doanh nghiệp có
đạo đức luôn đối xử với khách hàng công bằng và liên tục cải tiến chất lượng sản phẩm, cũng
như cung cấp cho khách hàng các thông tin dễ tiếp cận và dễ hiểu, sẽ có lợi thế cạnh tranh tốt
5
5
hơn và dành được nhiều lợi nhuận hơn. Điểm mấu chốt ở đây là chi phí để phát triển một môi
trước mắt, sản xuất ở dạng “chộp giật” thậm chí làm giả nhãn, mác, giảm chất lượng lừa dối
người tiêu dùng.
Tình trạng thực phẩm mất an toàn thường phổ biến trên thị trường gây hoang mang, lo
lắng cho người tiêu dùng, người tiêu dùng không biết ăn gì, uống gì? Khá phổ biến hiện nay,
6
6
tình trạng dụng cụ đo không được kiểm định, taximét bị phá niêm chì để chỉnh lại đồng hồ,
cột đo nhiệt liệu gắn thêm thiết bị điều chỉnh dung tích xăng, diezen có thể một bộ phận nhỏ
các Doanh nghiệp không thấy tác hại việc làm của mình, song đa số các Doanh nghiệp này đã
mất hết “đạo đức”. Quyền và lợi ích người tiêu dùng đã bị xâm hại một cách nghiêm trọng.
II. Trách nhiệm xã hội
2.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được hiểu là sự cam kết của doanh nghiệp đóng
góp cho việc phát triển kinh tế bền vững thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời
sống của người lao động và các thành viên trong gia đình họ, theo cách đó có lợi cho doanh
nghiệp, cũng như sự phát triển chung của xã hội.
2.2. Các quan niệm về trách nhiệm xã hội:
- Quan niệm thứ nhất:
• Chỉ có một trách nhiệm duy nhất, đó là giải quyết các vấn đề nguồn lực và năng lực
hoạt động của tổ chức để nâng cao hiệu quả hoạt động, hay là đạt được các mục tiêu mà nhà
quản trị mong muốn đạt được trong phạm vi giới hạn của pháp luật cho phép
• Lợi ích xã hội được đảm bảo một cách tốt nhất gián tiếp qua hoạt động kinh tế, cụ
thể là qua việc thu lợi ích và sử dụng (phân phối) lợi ích của tổ chức
- Quan niệm thứ hai:
• Trách nhiệm xã hội được thực hiện không phải chỉ bằng kinh tế, mà phải bằng hàng
loạt các yếu tố ngoài kinh tế
• Quan điểm này coi trách nhiệm xã hội là sự thừa nhận một nghĩa vụ xã hội
nằm ngoài phạm vi yêu cầu của luật pháp
*) Tổng hợp cả hai quan niệm trên, có thể rút ra kết luận sau đây:
- Các tổ chức hoạt động trong nền kinh tế thì phải cân bằng giữa lợi ích kinh tế và lợi
mình một hệ thống ứng xử chiến lược và ứng xử tình thế để có thể:
+ Được môi trường chấp nhận
+ Đón được các cơ hội và hạn chế các rủi ro,
+ Tạo ra các cơ hội từ sự biến động của môi trường
2.4. Một số vấn đề nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp có ý thức thực hiện trách
nhiệm xã hội
Thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam là sự cần thiết khách
quan trong quá trình hội nhập; tuy nhiên trên thực tế nhiều khi sự nhận thức và vận dụng rất
khác nhau. Bởi vậy, để các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của mình
cần thiết phải có nhận thức đúng và lưu ý các điểm sau:
Một là, cần khẳng định rằng các bộ quy tắc ứng xử không thể thay thế và đứng trên
luật quốc gia. Phần lớn các nội dung của bộ quy tắc ứng xử dựa trên các công ước là thông lệ
quốc tế và luật quốc gia. Do vậy việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử ở bất cứ quốc gia nào
phải phù hợp với luật quốc gia và hỗ trợ việc thực hiện luật quốc gia, vấn đề quan trọng là đưa
ra cách thức quản lý, theo dõi, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện những quy định này.
Hai là, việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử là tự nguyện, hoàn toàn không mang tính
bắt buộc. Ba là, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được quy định trong các bộ quy tắc ứng
8
8
xử được hiểu là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với toàn xã hội thông qua sản phẩm của
mình.
Bốn là, việc thực hiện các quy định thể hiện trách nhiệm xã hội trong các bộ quy tắc
ứng xử là một khoản chi phí mang tính chất đầu tư của doanh nghiệp, được thực hiện trước và
trong khi làm ra sản phẩm, chứ không phải là một đóng góp của doanh nghiệp mang tính chất
nhân đạo, từ thiện.
Năm là, nếu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và bộ quy tắc ứng xử được hiểu
đúng và thực hiện đúng, phù hợp với luật pháp quốc gia thì việc thực hiện trách nhiệm xã hội
chính là một việc làm mà các bên đều có lợi
*) Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam là một công việc không
thể bỏ qua trên con đường hội nhập, vừa lợi ích cho doanh nghiệp, vừa lợi ích cho xã hội, đặc
Kết quả khảo sát gần đây do Viện Khoa học lao động và xã hội tiến hành trên 24 doanh
nghiệp thuộc hai ngành Giầy da và Dệt may cho thấy, nhờ thực hiện các chương trình trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp, doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%, năng suất
lao động cũng tăng từ 34,2 triệu đồng lên 35,8 triệu đồng/1 lao động/năm; tỷ lệ hàng xuất
khẩu tăng từ 94% lên 97%.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, phải thừa nhận rằng, trong thời gian qua ở Việt Nam, nhiều
doanh nghiệp đã không thực hiện một cách nghiêm túc trách nhiệm xã hội của mình. Điều đó
thể hiện ở các hành vi gian lận trong kinh doanh, báo cáo tài chính, không bảo đảm an toàn
lao động, sản xuất, kinh doanh hàng kém chất lượng, cố ý gây ô nhiễm môi trường. Điển hình
là các vụ xả nước thải không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho các dòng
sông và cộng đồng dân cư của các Công ty Miwon, Công ty thuộc da Hào Dương, Công ty
Giấy Việt Trì, công ty Hyundai Vinashin (Khánh Hòa), các vụ sản xuất thực phẩm chứa chất
có hại cho sức khỏe con người, như nước tương có chứa chất 3-MCPD gây ung thư, bánh phở
chứa phormol, thực phẩm chứa hàn the, sữa có chứa melamine. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp
vi phạm các quy định pháp luật về lương bổng, chế độ bảo hiểm, vấn đề an toàn lao động cho
người lao động cũng không còn là hiện tượng hiếm thấy, đã và đang gây bức xúc cho xã hội.
III: Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh.
[*] Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội có mỗi liên hệ mật thiết với nhau, vì
vậy kinh doanh có đạo đức là một phần trách nhiệm xã hội của các nhà quản trị
- Trong thực tế khái niệm trách nhiệm xã hội được nhiều người sử dụng đồng nghĩa
với đạo đức kinh doanh. Tuy nhiên giữa chúng có sự phân biệt:
+ Trách nhiệm xã hội là những nghĩa vụ mà một doanh nghiệp hay cá nhân nhà quản
trị phải thực hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác độngt ích cực và giảm
thiếu các tác động tiêu cực đối với xã hội. đó là sự cam kết của doanh nghiệp hay nhà quản trị
đối với xã hội. Trách nhiệm xã hội quan tâm đến tác động của các quyết định về mặt tổ chức
đối với xã hội
+ Đạo đức kinh doanh đề cập đến những quy tắc ứng xử được cân nhắc kỹ lưỡng về
mặt tổ chức của doanh nghiệp làm cơ sở cho việc ra quyết định trong quan hệ kinh doanh.
Đạo đức kinh doanh đề cập đến các nguyên tắc, quy tắc có tác dụng chi phối quyết định của
cá nhân hay tập thể
Omo, Sunsilk, Clear, Dove, Pond’s, Closep, Cornetto, Paddle Pop, Lipton, Knorr cùng
các nhãn hàng truyền thống của Việt Nam là Viso, và P/S đã được giới thiệu rộng rãi và với
ưu thế về chất lượng hoàn hảo và giá cả hợp lý phù hợp với túi tiền của người tiêu dùng Việt
Nam cho nên các nhãn hàng này đã nhanh chóng trở thành những hàng hoá được tiêu
11
11
dùng nhiều nhất tại thị trường Việt Nam và cùng với nó công ty Unilever đã nhanh chóng có
lãi và thu được lợi nhuận không nhỏ trên thị trường Việt Nam.
Tính trung bình mỗi năm doanh số và lợi nhuận của Unilever Việt Nam tăng khoảng 30-35%/
năm kể từ khi các dự án của công ty đi vào hoạt động ổn định và có lãi. Nếu năm 95 doanh số
của công ty là 20 triệu USD, năm 96 doanh số của công ty là 40 triệu USD thì
đến năm 1998 doanh số của công ty đã là 85 triệu USD và tính đến hết năm 2002 thì doanh số
của công ty là khoảng 240 triệu USD. Với tốc độ tăng trưởng chóng mặt như vậy
Unilever Việt Nam đã và đang chứng tỏ rằng mình là công ty nước ngoài thành đạt nhất ở
Việt Nam hiện nay.
Unilever Việt Nam không chỉ được biết với những sản phẩm quen thuộc với người tiêu
dùng Việt Nam như OMO, P/S, Sunsil… mà họ còn được biết như là doanh nghiệp hoạt động
hướng về cộng đồng.
4.2 Hoạt động thực tế và kết quả của việc thực hiện đạo đức kinh doanh và
trách nhiệm xã hội của công ty Unilever Việt Nam
Đạo đức kinh doanh của nhà quản trị xuất phát từ phẩm chất con người của anh ta. Vì
đạo đức kinh doanh không nằm trong pháp luật nên nó được thể hiện chủ yếu thông qua nhân
cách, tính tự giác của mỗi nhà quản trị; nó là cơ sở, là tiền đề để nhà quản trị thực hiện trách
nhiệm xã hội của mình. Hay nói cách khác đạo đức kinh doanh được thể hiện gián tiếp thông
qua trách nhiệm xã hội. Unilever Việt Nam đã xây dựng cho mình một đội ngũ nhân viên
không những mạnh về chuyên môn, giàu kinh nghiệm mà còn có ý thức đạo đức kinh doanh
rất tốt. trong công ty Unilever Việt Nam, từ nhà quản trị cấp cao nhất cho đến những người nhân
viên sản xuất, tất cả họ luôn ý thức rằng làm sao để sản xuất ra những sản phẩm không những
đem lại lợi nhuận cho công ty mà điều quan trọng hơn là những sản phẩm đó có lợi cho sức khỏe,
cho cuộc sống hàng ngày của người tiêu dùng, được người tiêu dùng ưa thích và lựa chọn
Việt Nam cải thiện cuộc sống thông qua kết quả tăng trưởng kinh doanh vững chắc, đóng góp
vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, cũng như việc liên tục đầu tư vào những
chương trình phát triển xã hội, cộng đồng, và những nỗ lực trong công tác bảo vệ môi trường.
Unilever Việt Nam đã thực hiện những cam kết đó thông qua chương trình hợp tác với chính
phủ, các tổ chức phi chính phủ, các đơn vị đối tác và khách hàng của mình, cũng như thông
qua những đóng góp to lớn của các nhân viên Unilever tại Việt Nam. Tính đến nay, với sự hỗ
trợ của các cơ quan chức năng, Unilever VN đã đóng góp hơn 200 tỷ đồng cho hàng loạt các
dự án hỗ trợ cộng đồng trải dài trên phạm vi toàn quốc, trong đó có nhiều dự án tiêu biểu như:
[*]Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng:
[*]Unilever VN đã tài trợ 1,5 tỷ đồng cho chương trình "Vì ánh mắt trẻ thơ" giai đoạn
2002-2005, nhằm giúp trẻ em các gia đình nghèo được chữa bệnh, mổ mắt miễn phí; Chương
trình dài hạn "P/S bảo vệ nụ cười VN" giúp cho 1,5 triệu người khám chữa răng miễn phí.
[*]Chương trình “P/S bảo vệ nụ cười Việt Nam” (ProtectionVietnamese Smile), được
chính thức bắt đầu từ năm 1998, sau một năm khi P/S chính thức gia nhập Unilever. Hiểu
được tầm quan trọng của việc giáo dục và chăm sóc sức khỏe răng miệng của trẻ em và cộng
đồng. Chương trình “P/S Bảo vệ nụ cười Việt Nam “do nhãn hiệu P/S, công ty Unilever khởi
xướng và thực hiện, đã và đang được đánh giá là chương trình hoạt động hiệu quả và mang ý
nghĩa xã hội cao. Qua hơn 10 năm hoạt động, chương trình đã đóng góp hơn 100 tỷ đồng cho
13
13
cộng đồng thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức chăm sóc răng miệng, khám
chữa răng miễn phí cho trẻ em. Chương trình cũng đã cung cấp hơn một triệu giáo cụ giảng
dạy Nha Học Đường cho hơn 2.5 triệu trẻ em tiểu học và hơn 270.000 học sinh mẫu giáo cả
nước. Đoàn xe Nha lưu động gồm 14 xe của Protection Vietnamese smile đã tổ chức khám
chữa răng cho hơn 5 triệu trẻ em và phụ nữ tại 64 tỉnh thành trên cả nước.
[*] Chương trình P/S Bảo vệ nụ cười Việt Nam đã triển khai chương trình: "Năm triệu
nụ cười Việt Nam" trong giai đoạn 2012-2016, bước đầu đã khám và tư vấn sức khỏe răng
miệng miễn phí cho hơn 1,500,000 người dân và các em học sinh ở các tỉnh thành lớn trên cả
nước trong năm 2012. Đồng hành và hưởng ứng "Ngày Sức Khỏe Răng Miệng Thế Giới"
chính là một trong những hoạt động thiết thực đóng góp cho cộng đồng mà chương trình
Đây là kết quả từ dự án “Nâng cao sức khỏe cộng đồng thông qua việc cải thiện hành
vi vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường” của Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) và Quỹ
Unilever Việt Nam- được triển khai thực hiện trong năm 2012 – 2016
[*] Công bố Quỹ 1 triệu bánh xà phòng Lifebuoy
Cục Y Tế Dự Phòng & Môi Trường (YTDP&MT) phối hợp với Quỹ Unilever và nhãn
hàng Lifebuoy (thuộc Công ty Liên doanh Unilever Việt Nam) tổ chức hội thảo chia sẻ kinh
nghiệm “Vệ sinh cá nhân bảo vệ sức khỏe cộng đồng – Vì một Việt Nam khỏe mạnh”.
Lifebuoy đã phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam triển khai chương trình “Hãy rửa
với xà phòng cho đôi tay sạch khuẩn” kéo dài từ năm 2009 đến năm 2012, với mục tiêu
biến rửa tay với xà phòng thành một thói quen của cả cộng đồng. Ngoài ra, Lifebuoy cũng
phối hợp với Thành đoàn TP.HCM trong chiến dịch Mùa hè xanh 2009, trong đó, ngoài các
hoạt động giúp nâng cao đời sống người dân, nội dung “Vì vệ sinh và sức khỏe cộng đồng”
cũng được chú trọng thực hiện nhằm mang đến cho họ những kiến thức thiết thực về việc giữ
gìn vệ sinh cá nhân, rửa tay với xà phòng để thay đổi hành vi của họ, giúp phòng chống các
dịch bệnh lây lan nguy hiểm.
[*] Quỹ Unilever Việt Nam hỗ trợ triển khai chương trình Giáo dục vệ sinh cá nhân
cho trẻ mầm non tại 5 tỉnh miền núi phía Bắc. (HGĐT)- Quỹ Unilever Việt Nam cho biết đã
bắt đầu giải ngân số tiền 2 tỷ đồng để thực hiện chương trình Giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ
em tại 5 tỉnh miền núi phía Bắc trong năm 2008 là Hà Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lào
Cai và Cao Bằng.Đây là năm triển khai thứ hai trong khuôn khổ chương trình hợp tác liên
ngành 5 năm giữa Vụ Giáo dục Mầm non (Bộ Giáo dục - Đào tạo) với Quỹ Unilever Việt
Nam để triển khai chương tình “Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục vệ sinh cá nhân
cho trẻ mầm non” với tổng số tiền Quỹ Unilever cam kết tài trợ là 10 tỷ đồng.Mục tiêu của dự
án là nhằm góp phần nâng cao nhận thức cũng như cải thiện điều kiện vệ sinh cho trẻ em dưới
6 tuổi, đặc biệt là các cháu ở các vùng sâu, vùng xa và khó khăn trên cả nước.
[*] Với lĩnh vực bảo vệ môi trường
Unilever Việt Nam: bảo vệ môi trường là ưu tiên hàng đầu với các hoạt động tiêu biểu:
[*] Thành công điển hình về giảm thiểu tác động tới môi trường tại Việt Nam là
Comfort Một Lần Xả giúp giảm đáng kể lượng nước tiêu thụ trong quá trình xả sạch quần áo
- chỉ với một xô nước thay vì ba như trước. Từ năm 2007 đến 2012, Unilever giúp các hộ
liền với tiết kiệm chi phí và phát triển bền vững cũng được công ty đặc biệt chú trọng.
Ví dụ, sáng kiến sử dụng công nghệ mới để sản xuất nhằm giảm khối lượng dầu đốt,
điện năng như công nghệ sản xuất OMO Matic đậm đặc, nước giặt OMO, dự án chuyển hóa
năng lượng mặt trời thành nhiệt để đun nước nóng cho phân xưởng Dầu Gội với công suất
3.650 m3/năm, phân xưởng Kem Đánh Răng với công suất 1.000 m3/năm và góp phần giảm
lượng khí CO2 đến 420 tấn/năm.
16
16
[*]Với lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề:
[*]Unilever VN đã tài trợ trên 7, 5 tỷ đồng cho dự án "Nâng cao năng lực giáo viên
dạy nghề toàn quốc giai đoạn 2001-2005".
[*] Ngoài ra, Unilever VN còn hỗ trợ gần 2 tỷ đồng cho dự án Xây dựng Trung tâm
dạy nghề cho người tàn tật và trẻ mồ côi tại TP HCM; OMO áo trắng ngời sáng tương lai
quyên góp áo trắng và tặng học bổng khuyến học cho các học sinh, sinh viên nghèo; dành hơn
5 tỷ đồng Xây mới trường khiếm thị Nguyễn Đình Chiểu (Đà Nẵng).
[*] Unilever đã sửa chữa nâng cấp toàn bộ cơ sở hạ tầng của Làng Hi vọng - mái nhà
yên ấm của 200 trẻ em mồ côi, khuyết tật.
[*]Năm 2002 đánh dấu sự ra đời của một chương trình PR thành công của Omo, là
chương trình “Omo áo trắng ngời sáng tương lai”. Chương trình này vẫn được duy trì đến tận
bây giờ vì nó vẫn tiếp tục đem lại hiệu quả marketing lớn. Tất cả mọi hoạt động của Omo đều
hướng đến mục tiêu định vị là khai thác sự trải nghiệm và phát triển của trẻ em. Đây là lúc họ
bước vào thời kỳ củng cố thương hiệu và xây dựng tình cảm của khách hàng đối với thương
hiệu. Hàng loạt chương trình ra đời đều hướng đến mục tiêu nhất quán này: tổ chức các
chương trình hướng về cộng đồng như “ngày hội những chiếc túi tài năng”, “OMO áo trắng
ngời sáng tương lai, ngày hội “Triệu tấm lòng vàng”, “Tết làm điều phúc sung túc cả năm”,
khuyến mãi “Vạn tim vàng cho triệu tấm lòng vàng”, chương trình sơn trường học tại 6 tỉnh
vùng sâu vùng xa, hỗ trợ 3000 sinh viên về quê ăn tết. Các chương trình đã thực sự mang lại
lợi ích thiết thực cho xã hội và Omo nhanh chóng nhận được tình cảm tốt đẹp trong mắt với
khách hàng.
[*]Có thể thấy PR thường mở đầu bằng việc tạo “xu hướng dư luận” . Điển hình là
ngân sách năm 2004 gấp 40 lần so với năm 1995.
UVN đã phát triển rất tốt các mối liên kết hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp địa
phương (như hỗ trợ họ cả về tài chính và công nghệ). Đây là những đóng góp không nhỏ vào
sự phát triển lớn mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam.
Không chỉ dừng ở các chỉ tiêu tăng trưởng và phát triển kinh doanh, Unilever đã thể
hiện trách nhiệm của một công ty đa quốc gia khi xác định xu hướng đầu tư lâu dài ở Việt
Nam. Công ty đã cam kết và coi việc bảo vệ môi trường và an toàn lao động là một trong
những ưu tiên hàng đầu. Cam kết này đã thể hiện rất rõ trong toàn bộ quá trình sản xuất:
- Tất cả các nhà máy của Unilever đều tiến hành hoạt động sản xuất theo nguyền tắc
không có nước thải công nghiệp ra môi trường.
- Đầu tư và sẵn sàng tiếp tục đầu tư cho thiết bị và phương tiện, thiết lập những hệ
thống quản lý cần thiết để duy trì các tiêu chuẩn an toàn về môi trường theo quy định của Nhà
nước Việt Nam và của UVN đối với những hoạt động sản xuất của Công ty.
- Liên tục phát triển và liên tục cải tiến các hệ thống quản lý tiêu chuẩn quốc tế đã
được áp dụng trong tất cả các cơ sở sản xuất của Unilever như: hệ thống quản lý chất lượng
quốc tế ISO 9001 - 2000, hệ thống quản lý môi trường ISO 14001, hệ thống quản lý sức khỏe
và an toàn nghề nghiệp OHSAS 18001 và đặc biệt là chương trình TPM - bảo trì năng suất
toàn diện.
Công ty đã chú trọng đầu tư vào tất cả các nhà máy của mình để đảm bảo đáp ứng các
tiêu chuẩn về an toàn và bảo vệ môi trường. Công ty đã đạt được các chứng chỉ về hệ thống
18
18
quản lý môi trường ISO 14001, hệ thống quản lý sức khỏe và an toàn nghề nghiệp OHSAS
18001 cho mọi nhà máy của mình. Đặc biệt chương trình "Bảo trì năng suất toàn diện" đã
được triển khai ở tất cả các nhà máy để giảm tối đa việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên
nhiên như nước, năng lượng và nguyên liệu trong khi vẫn đảm bảo tăng năng suất lao động.
Công ty cũng đã nhận được chứng chỉ ISO 9001-2000 cho hệ thống quản lý chất lượng quốc
tế và các dây chuyền sản xuất.
Phương châm làm việc của Công ty là liên tục phát triển và liên tục cải tiến các hệ
thống quản lý tiêu chuẩn quốc tế đã được áp dụng trong tất cả các cơ sở sản xuất. Với phương
19
19
KẾT LUẬN
Đạo đức và trách nhiệm xã hội là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh. Rất
nhiều cơ hội và lợi ích chiến lược sẽ đến khi doanh nghiệp xem đạo đức và trách nhiệm xã hội
là trọng tâm của các hoạt động kinh doanh. Sự tồn vong của doanh nghiệp không chỉ đến từ
chất lượng của bản thân các sản phẩm dịch vụ cung ứng mà còn chủ yếu từ phong cách kinh
doanh của doanh nghiệp. Hành vi kinh doanh thể hiện tư cách của doanh nghiệp, và chính tư
cách ấy tác động trực tiếp đến thành bại của tổ chức. Đạo đức kinh doanh trong chiều hướng
ấy trở thành một nhân tố chiến lược trong việc phát triển doanh nghiệp
Thể hiện giá trị đạo đức tốt đẹp ngàn đời của dân tộc Việt Nam; thể hiện trách nhiệm
của mỗi người đối với xã hội không phải là điều quá khó mà trước hết phụ thuộc vào thái độ,
nhận thức của từng con người cụ thể. Điều này rất dễ, nếu mỗi người dù ở cương vị nào, làm
việc trong lĩnh vực gì, chỉ cần hy sinh chút ít quyền lợi của cá nhân mình vì cái chung, vì
cộng đồng, chắc hẳn chúng ta sẽ xây dựng được một xã hội tốt đẹp, mang lại hạnh phúc cho
nhân dân, cho dân tộc.
Vì một xã hội tốt đẹp, vì sự hưng thịnh của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân, tất cả
đang phụ thuộc vào suy nghĩ, thái độ và hành động của mỗi người, mà trước hết là tinh thần
đoàn kết, trên dưới đồng lòng vì Tổ quốc, vì nhân dân.
Tóm lại, trách nhiệm xã hội ở Việt Nam đã được nhận thức và bước đầu được thực
hiện. Chắc chắn rằng, cùng với quá trình phát triển của đất nước, trách nhiệm đó sẽ được đề
cao hơn cùng với sự hoàn thiện của khung pháp luật, bộ máy nhà nước, thể chế kinh tế thị
trường và các thể chế của xã hội dân sự.
20
20
MỤC LỤC