LUẬN VĂN: Tính khoa học và trách nhiệm xã hội trong hoạch định chính sách công tại Đà Nẵng potx - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Tính khoa học và trách nhiệm xã
hội trong hoạch định chính sách
công tại Đà Nẵng Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hay cản trở sự phát triển
của một quốc gia. Nó là công cụ thiết yếu để nhà nước lãnh đạo điều hành đất nước,
vận hành đời sống xã hội theo mục tiêu đặt ra. Các chính sách vì thế liên quan đến vận
mệnh, đời sống của hầu hết mọi người trong xã hội. Do đó, ngay từ khi hình thành giai

trưởng kinh tế. Do đó, mặc dù có các chỉ số tăng trưởng GDP và xuất khẩu cao, nhưng
Việt Nam vẫn có một số tồn tại: các dự án đầu tư công lựa chọn kém, hệ thống tài
chính yếu, năng lực quản lý và kỹ thuật ở nhiều công ty thấp và mất cân đối giữa các
vùng, và những vấn đề này có thể kìm hãm sự phát triển bền vững của Việt Nam”
[59].
Thực tế các khảo sát về hoạch định và thực thi chính sách công Việt Nam cũng
cho thấy, bên cạnh các thành tựu và tiến bộ to lớn trong việc hoạch định và triển khai
chính sách đã góp phần nâng cao thế và lực của nước ta trong thời gian vừa qua, việc
ban hành văn bản triển khai chính sách công, đặc biệt ở địa phương, còn nhiều khiếm
khuyết, thể hiện nổi bật ở tính chưa ổn định, thiếu nhất quán, thiếu đồng bộ. Trong các
khảo sát gần đây về các địa phương, có thể thấy số lượng các văn bản pháp lý trái với
chủ trương, đường lối, luật pháp của Trung ương, sự tuỳ tiện, tính kinh nghiệm chủ
nghĩa, tính cục bộ địa phương, vẫn chưa khắc phục triệt để, Có nhiều chính sách gây
lãng phí lớn, hiệu quả kinh tế - xã hội thấp, làm hạn chế hoặc cản trở việc thực hiện
các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, thậm chí đi ngược lại lợi ích
của nhân dân cho nên khó đi vào cuộc sống. Không ít trường hợp cách thức, biện
pháp, chủ trương mà chính sách đề cập đã lạc hậu, không thể tồn tại ngay sau khi mới
ban hành. Do đó, dưới góc độ thực thi quyền lực chính trị các chính sách đó không có
hiệu lực.
Lý giải và góp phần tháo gỡ những hạn chế nêu trên, từ lý luận đến thực tiễn đã
có nhiều hướng tiếp cận, đưa ra các biện pháp ở góc độ kinh tế, hành chính, xã hội,
nhằm cải thiện tình hình. Song với cách tiếp cận chính trị học hiện đại, các nghiên cứu
chính sách công đáng chú ý gần đây cho thấy cần phải xem xét vấn đề này ở một khía
cạnh rất cơ bản khác. Đó là xem xét quá trình hoạch định và triển khai chính sách công
với tư cách là một quá trình chính trị. Trong quá trình này, hai vấn đề nổi bật được các
nghiên cứu đề cập đến nhiều là thái độ tôn trọng tính khoa học và trách nhiệm xã hội
của chủ thể hoạch định chính sách công.

Hơn nữa thái độ tôn trọng tính khoa học và tinh thần trách nhiệm xã hội vì dân vì
nước là những giá trị phải được hun đúc, xây dựng trong thời gian dài, bằng nhiều biện
pháp cả về giáo dục và bằng các quy định pháp lý.
Tất cả những vấn đề bao gồm cả ưu điểm và hạn chế trong hoạch định chính sách
công nói trên cũng thể hiện rõ nét ở Đà Nẵng. Ngoài ra, còn nhiều yếu tố khác có ảnh
hưởng quan trọng đến hiệu quả chính sách công, song do phạm vi của một luận văn,
tôi chỉ khảo sát chủ yếu hai phương diện này trong hoạch định chính sách công tại
Thành phố Đà Nẵng.
Với lý do đó chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề “Tính khoa học và trách nhiệm
xã hội trong hoạch định chính sách công tại Đà Nẵng”.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề chính sách và nghiên cứu chính sách dưới các góc độ khác nhau đã được
bàn đến nhiều trên thế giới, các quốc gia phát triển, đặc biệt tập trung ở các chuyên
ngành: kinh tế, hành chính, xã hội. ở Việt Nam, đây là lĩnh vực còn khá mới mẻ. Các
công trình nghiên cứu nhỏ, rải rác trên các chuyên san, chuyên luận chỉ dừng ở mức độ
khái quát, mô tả khái niệm, đặc điểm chính sách công. Nếu có điều kiện hơn, các
nghiên cứu thường đi sâu vào lĩnh vực phân tích chính sách. Tài liệu tham khảo về
chính sách công dịch ra tiếng Việt còn rất ít ỏi. Công trình “Chính sách công ở Hoa Kỳ
giai đoạn 1935- 2001” bao quát khá toàn diện về quá trình chính sách công với tư cách
một nội dung của hành chính học. Ngoài ra Viện Nghiên cứu và Đào tạo về quản lý,
trong công trình “Hành chính công và quản lý hiệu quả của Chính phủ", phần chính
sách công đã được trình bày khá chi tiết về khái niệm, tính chất, nội dung, quy trình và
các nhân tố ảnh hưởng đến quy trình chính sách. Tuy nhiên, chính sách công và quy
trình hoạch định được xem xét với tư cách một nội dung của hành chính công. Tương
tự cách trình bày đó, “Hoạch định và phân tích chính sách công” đã đề cập một cách
toàn diện về chính sách công trong tính hệ thống của nó. ở các công trình này, chính
sách công và quy trình hoạch định, thực thi với tư cách là đối tượng của khoa học hành

lượng chính sách.
- Tập hợp các báo cáo phát triển Việt Nam 2005 chuyên đề “Quản lý và điều
hành” của các nhà tài trợ cho Hội nghị nhóm tư vấn các Nhà tài trợ Việt Nam, Hà Nội
ngày 1 và 2 tháng 12, năm 2004 nêu những vấn đề mang tính thực tiễn về chính sách
công trong sự vận động của nó tại Việt Nam ở khía cạnh tầm nhìn và quan hệ đối tác.
- Kỷ yếu hội thảo “Nghiên cứu và đào tạo chính sách công ở Việt Nam của Viện
Ngân hàng phát triển châu á” đi vào những vấn đề rất cơ bản của khoa học và thực
tiễn chính sách công. Các bài viết chủ yếu đi sâu vào lý luận và thực tiễn về công tác
nghiên cứu, đào tạo và mối liên kết giữa chúng với hoạch định chính sách tại Việt
Nam có sự so sánh liên hệ với các nước. ở một nghĩa chung nhất, tài liệu này đề cập
trực diện những vấn đề về tính khoa học, trách nhiệm của chủ thể.
Đáng chú ý là kết quả thu được từ một cuộc khảo sát gần đây ở ba miền Bắc-
Trung-Nam về hoạch định chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, cho thấy:
- Các ý kiến trả lời đều cho rằng chất lượng hoạch định chính sách công thấp.
- Cơ quan nghiên cứu (Viện, Trường đại học, ) có vai trò rất nhỏ bé trong hoạch
định chính sách công.
- Các thể chế hiện còn yếu, đặc biệt là thể chế giám sát và đánh giá chính sách
công.
- Lợi ích cá nhân và lợi ích cục bộ có những tác động tiêu cực lên mục tiêu của
chính sách.
Ngoài ra, khi phân tích các chủ thể hoạch định và triển khai chính sách công, các
nhà nghiên cứu theo trường phái lý thuyết “Lựa chọn công cộng” cũng cho rằng: Các
chủ thể hoạch định chính sách công có thể không có tinh thần trách nhiệm, họ thường
có khuynh hướng tối đa hóa các ích lợi của bản thân hay của nhóm, do vậy phải thông
qua sự ràng buộc bằng các qui định, văn bản, nâng cao tính minh bạch, tạo ra các cơ
chế giám sát rộng rãi và ít tốn kém để buộc họ phải làm tốt hơn. Hơn thế nữa, một
khi nhìn nhận đây là hiện thực khách quan, chúng ta hoàn toàn có thể thiết kế qui trình

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Lý luận: Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý thuyết về
khoa học chính sách công, lý luận văn hoá chính trị.
Thực tiễn: Quá trình thực hiện chính sách công của Đảng và Nhà nước ta ở Đà
Nẵng
Ngoài phương pháp luận của CNDVBC và CNDVLS, đề tài sử dụng các phương
pháp cụ thể: Phân tích, tổng hợp, khảo sát văn bản kết hợp quan sát thực tiễn, điều tra
qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu,
6. Đóng góp khoa học của luận văn
Lần đầu tiên luận chứng ở quy mô luận văn thạc sĩ một vấn đề cụ thể về chính
sách công gắn với thành phố Đà Nẵng.
Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách công và hoàn
thiện quy trình chính sách công.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, tìm hiểu
chính sách công ở địa phương, bổ trợ cho các nhà hoạch định chính sách công ở địa
phương những hiểu biết nhất định về chính sách công và quy trình ban hành.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
có 3 chương, 8 tiết.

Chương 1
Một số vấn đề lý luận về vai trò của tính khoa học và tinh thần trách nhiệm xã
hội trong hoạch định chính sách công


Nhu cầu về nghiên cứu chính sách công vì thế ngày càng quan trọng. Các chính sách
cũng trở nên phức tạp hơn do mở rộng đối tượng tác động, mang tính liên ngành, liên
vùng, yêu cầu cao về khả năng dự báo, khả năng cạnh tranh. Nhận thức về tầm quan
trọng, tính khoa học, lý luận của chính sách công vì thế là tiêu chí đầu tiên cần chú ý.
Thực tế cũng cho thấy dù có chủ trương đường lối đúng nhưng việc cụ thể hóa
bằng chính sách mắc phải hạn chế hoặc chính sách không hiệu quả có khi gây tác hại
không kém chủ trương đường lối sai lầm. Từ đó cho thấy trong bối cảnh hịên nay cần
phải có những nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế - xã hội, chính trị, môi trường mang
tính khoa học làm căn cứ cho quá trình xây dựng chính sách, chiến lược. Hơn nữa điều
đó phù hợp với xu thế phân quyền, trao quyền cho chính quyền địa phương, các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, từng người dân để họ đồng thời tham gia vào thị
trường. Do đó, các chính sách phải tính đến tác động, phản ứng của nhiều đối tượng
khác nhau trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Cần nhận thức đúng tầm quan trọng của
sự phối hợp lực lượng nghiên cứu của các Viện, trường, tổ chức phi chính phủ, đoàn
thể quần chúng, các tổ chức quốc tế với các Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách
trong hoạt động nghiên cứu nhằm tham mưu tư vấn cho Chính phủ trong việc hoạch
định, ban hành. Cho nên khoa học về chính sách công đang là tâm điểm thu hút sự chú
ý của giới nghiên cứu chính trị đương đại trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Về mặt định nghĩa, chính sách công là vấn đề luôn gây nhiều tranh cãi. Bản thân
chính sách công liên quan đến hầu hết mọi người nên càng có rất nhiều cách hiểu về
nó xuất phát từ ý đồ tiếp cận chính sách công của người nghiên cứu. Theo kết quả
nghiên cứu, được trình bày trong tài liệu về Khoa học chính sách công của Viện Chính
trị học thuộc Học viện CTQG Hồ Chí Minh sắp được hoàn tất và phát hành, hiện đang
có sự phân loại định nghĩa chính sách công theo các nhóm như:
Với tư cách như là sản phẩm có mục đích của nhà nước, chính sách công được
xem là “tất cả những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” (Thomas Dye). Hoặc
ở góc độ cụ thể song có xu hướng khái quát, có định nghĩa như sau: “ Chính sách công
là toàn bộ các hoạt động của nhà nước, đều có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến
cuộc sống của mọi công dân” (B.Guy Peters). Hay chính sách công được khẳng định


Gramlich năm 1981, cho rằng chính sách công là toàn bộ các chương trình của nhà
nước (Phân bổ các nguồn lực xã hội, Phân phối và ổn định) nhằm hai mục tiêu căn
bản: cung cấp hàng hoá công cộng và cải thiện sự bất bình đẳng.
Khác hoàn toàn với các cách định nghĩa chính sách công nói trên, hướng tiếp cận
nghiên cứu chính sách công của lý thuyết Lựa chọn công cộng (Public Choice School)
đã gây sự chú ý của giới khoa học chính trị trên thế giới và gần đây là ở các nước đang
phát triển khi nó hoài nghi chính khả năng can thiệp của nhà nước, hoài nghi cả tính
duy lí và công bằng của chính sách công. Điều các tác giả này quan tâm nhất không
phải là định nghĩa mà là việc đưa ra các giải pháp cho các vấn đề chính sách. Vì thế
nhận thức của họ về chính sách công rất khác. Họ cho rằng: “Trong tính thực tiễn của
nó, chính sách công chỉ là sự phản ánh nghèo nàn tinh thần và lợi ích công cộng, vì nó
đã bị khúc xạ và bóp méo bởi những lợi ích cá nhân và cục bộ của các nhóm có thẩm
quyền và ảnh hưởng trong bộ máy hoạch định chính sách”. Họ đề cao giá trị thực tiễn
(cái thực sự là) của chính sách công và không cố gắng định nghĩa nó là cái gì. Cũng
như các nhà kinh tế học, giới khoa học chính trị thuộc trường phái Lựa chọn công
cộng phản đối kịch liệt những cách tiếp cận với các giả định có tính lí tưởng và chuẩn
mực đạo đức không thực tế về các chủ thể hoạch định và triển khai chính sách công.
Họ đòi hỏi phải nhìn nhận những nhà hoạch định đó như những người bình thường,
chứ không phải là các ông thánh, với cách thiên hướng về lợi ích cá nhân và các động
cơ tối đa hóa lợi ích đó. Từ đó, họ nhấn mạnh một thực tế là con người dù ở vị trí nào
đều có khuynh hướng vị kỷ và do vậy, nếu không nhìn thẳng vào sự thật này, các
chính sách công “phục vụ các mục tiêu cộng đồng chung” sẽ dễ trở thành ảo tưởng và
bị lợi dụng cho các mục đích cá nhân hay nhóm cục bộ. Nói cách khác, để vươn lên
tầm khoa học, các nghiên cứu chính sách cần nhìn nhận tính vị kỷ, động cơ tối đa hóa
lợi ích cá nhân như những dữ kiện thực tế, cho trước. Chỉ có như vậy, mới có thể đối
phó chính xác với chúng cả bằng việc thiết kế bộ máy, qui trình chính sách, đánh giá
tác động, khả năng thực thi

chính trị. Do đặc điểm nói trên mà các nghiên cứu chính sách nhà nước ở Việt Nam
phải tính đến các chính sách của Đảng. Vì thế thông thường nói đến chính sách công
bao gồm các chính sách của Nhà nước, còn các chính sách của Đảng được hiểu là chủ
trương đường lối của Đảng.
Khái niệm: Theo nghĩa chung nhất, chính sách là những hành động ứng xử của
chủ thể tác động tới các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm
đạt mục tiêu nhất định. Do đó, thực thi quá trình chính sách chính là thực thi quyền lực
nhà nước của chủ thể. Bởi trên hết, chính sách công là chương trình hành động hướng
đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng. Nó chính là cái để khẳng
định tính chính đáng của quyền lực nhà nước. ở tầm vĩ mô, có chính sách quốc gia và
ở phạm vi hẹp hơn có chính sách địa phương. Trong đó, địa phương có quyền quyết
định những chính sách thuộc thẩm quyền của mình để phát huy tiềm năng địa phương
và giải quyết các vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội khác có tính đặc thù của mình.
Theo Từ điển chính quyền và chính trị Hoa Kỳ: “Chính sách (policy) là bản
tuyên bố các mục đích chung có thể được chuyển thành kế hoạch hay chương trình có
thể nêu rõ những mục tiêu cần đạt được” [5, tr.687].
Theo giáo trình Học viện HCQG: “Chính sách công là những hành động ứng xử
của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng
nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [13, tr.24]. Khái niệm này
vừa bao hàm các đặc trưng: Chính sách công là do nhà nước ban hành để tác động đến
các đối tượng thuộc cộng đồng một cách ổn định; vừa thể hiện bản chất của chính sách
là công cụ định hướng của nhà nước cho mọi hành vi xã hội đối với các quá trình phát
triển. Tuy nhiên, trong các nền kinh tế thị trường, xuất phát từ sự cần thiết phối hợp
giữa nhà nước với thị trường mà Paul samuelson cho rằng: “chính sách còn là sự thỏa
hiệp của chính phủ đối với nền kinh tế ngay cả khi không ban hành chính sách”. Hoặc
xuất phát từ ý chí của nhà nước trong hoạt động quản lý xã hội mà James E. Anderson
cho rằng: “Chính sách công là những hành động làm hay không nên làm do Nhà nước

nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể của thực tiễn. Bao gồm các biện pháp liên quan với
nhau, phụ thuộc lẫn nhau, được luận giải khoa học (khác với các quyết định nhất thời).
Do đó, chính sách công chính là chương trình hành động của nhà nước (phân biệt rõ
với đường lối - chính sách - biện pháp ở mức độ cụ thể hóa).
- Những hoạt động (được coi là chính sách công) mang tính hệ thống, ổn định và
phù hợp với quan điểm chính trị của chủ thể hoạch định. Dù đơn lẻ hay một chương
trình thì các chính sách công đều nằm trong một chuỗi các tác động có chủ đích của
chủ thể theo một trật tự đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Dù không được đặt ra trực tiếp
nhưng quan điểm chính trị của chủ thể chính sách công là nguyên tắc bất di bất dịch.
Nhờ đó tính không (ít) thay đổi cũng như tính hệ thống của chính sách công được đảm
bảo.
- Quá trình hoạch định chủ yếu diễn ra trong bộ máy nhà nước, là sản phẩm của
quá trình thực thi quyền lực chính trị. Lẽ dĩ nhiên do vậy, chính sách công có tính hợp
pháp giúp phân biệt nó với các chính sách của các tổ chức cá nhân trong khu vực tư
nhân hay của các đảng, đoàn thể xã hội không nắm quyền lực công.
- Quá trình hoạch định bao hàm sự trao đổi thông tin và các nguồn lực, thảo luận,
thương thuyết giữa và trong các thể chế nhà nước, sự tương tác với các tổ chức bên ngoài
nhà nước. Lấy đối tượng tác động là số đông (cộng đồng) nên một đặc điểm không thể thiếu
để có một chính sách công đúng đắn (phù hợp) là sự tham gia rộng rãi của mọi loại đối
tượng trong xã hội. Với tinh thần đó, xem xét cái căn cốt nhất của chính sách công, năm
1993, Paul Sabatier và Hank Jenkins-Smith đi đến nhận định: Việc tạo ra những quan điểm
và sự nhất trí chung giữa các đảng phái là nền tảng của quá trình chính sách.
Ngoài ra, một đặc điểm khá nổi bật ở bản chất chính sách công là tính liên ngành:
kinh tế học, khoa học quản lý, khoa học thông tin, tâm lý xã hội, Và xã hội càng văn
minh thì tính liên ngành trong chính sách công càng mở rộng.
Tóm lại, đặc điểm chính sách công có thể còn rất nhiều song các vấn đề trên là cơ
bản để nhận diện một chính sách công. Trong đó phải kể đến một số tính chất nổi bật của

tích tác động và cuối cùng là những phản hồi dẫn tới việc xem xét lại hay chấm dứt. Vì
vậy nó là chu kỳ khép kín” [5, tr.766].
* Cơ sở khoa học của việc hoạch định chính sách chính là các điều kiện tổng quát (tài
chính - con người - thẩm quyền chính trị) để một chính sách có thể thực thi và đem lại hiệu
quả, được hình dung ở các khía cạnh rất cơ bản sau:
- Cơ sở kinh tế: Khoa học kinh tế về sử dụng tài nguyên và các nguồn lực cung
cấp luận cứ và luận chứng cho các vấn đề chính sách.
- Cơ sở chính trị: Chính sách thể hiện bản chất của quyền lực giai cấp, đại diện
cho lợi ích của toàn dân tộc, thể hiện được trình độ phát triển của đất nước thông qua tính
giai cấp - tính dân tộc - tính khoa học có trong chính sách.
- Hệ giá trị của giai cấp cầm quyền (tư tưởng, văn hóa, kinh tế, ): Chính sách
đúng là chính sách đồng thời cũng là lựa chọn chính trị, do đó thể hiện tư tưởng, quan
điểm của giai cấp thống trị trên mọi mặt.
* Quá trình hoạch định và thực thi các chính sách công có thể được coi là bao
gồm 4 giai đoạn chính như sau:
Một là, xác lập nghị trình
Một vấn đề xã hội trở thành chính sách phải trải qua giai đoạn tìm kiếm sự đồng
thuận, thống nhất tư tưởng, cách làm để đạt được mục tiêu. Đây là giai đoạn phát hiện
vấn đề, những bức xúc nổi cộm trong đời sống cộng đồng cần được tháo gỡ.
Yêu cầu cao nhất của giai đoạn này là: khả năng nhìn ra vấn đề, năng lực nhận
thức và biểu đạt nó cũng như cơ chế nêu vấn đề, để một vấn đề xã hội trở thành
chính sách. Từ dữ kiện thực tế, thông qua 3 nguồn cơ bản: Số liệu thống kê; các sự
kiện; các nhận định của nhà chính trị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, mà vấn đề chính
sách nảy sinh. Tuy nhiên đời sống thực tiễn luôn vận động không ngừng và vô cùng
phong phú trong lúc khả năng phát hiện vấn đề của con người lại bị giới hạn bởi nhiều
yếu tố khách quan và chủ quan. Dù vậy, sự tương tác giữa ba chương trình nghị sự
(nguyện vọng nhân dân, sự ủng hộ của thông tin đại chúng và nghị trình chính thức

hệ chính trị, Cho đến nay, xét trên lý thuyết, so sánh được chi phí với kết quả vẫn là vấn
đề kỹ thuật trung tâm của công việc xây dựng các phương án chính sách.
Việc lựa chọn một phương án chính sách cuối cùng để thông qua và ban hành lại
có tính chất chính trị. Vấn đề tập trung ở đây là phải giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi
ích. Lúc đó, việc quyết định phương án nào sẽ được lựa chọn phụ thuộc vào hệ tư
tưởng, quan điểm, các chuẩn mực giá trị của chủ thể hoạch định. Do đó, việc thông
qua và phê chuẩn chính sách mang nhiều tính chính trị hơn. Và để đưa ra một chính
sách, giai đoạn này phụ thuộc rất lớn vào phẩm chất chính trị cũng như trình độ
chuyên môn nghiệp vụ chính sách của chủ thể.
Cán bộ hoạch định quyết định các loại phương án, trên cơ sở đó định ra các
phương án chính sách được lựa chọn; cụ thể hóa vấn đề chính sách trong các hình thức
văn bản luật, nghị định, quy định hành chính, và các cơ quan có thẩm quyền phê
chuẩn, thông qua trở thành chính thức. Về mặt tổ chức, thông thường sau khi đã xác
định rõ mục tiêu, Chính phủ sẽ thành lập tiểu ban soạn thảo gồm các công chức,
chuyên gia trong lĩnh vực liên quan, có chuyên môn, kinh nghiệm và đại diện lợi ích
các ngành, bộ, nhóm dân cư, có ảnh hưởng bởi chính sách. Sau khi tiếp thu và chỉnh
lý, các phương án sẽ được trình cho các cấp có thẩm quyền để thông qua.
Có 4 yếu tố chính: tính khoa học, tính tiệm tiến, tính đại diện, tính thể chế (tính
chất công cộng) ảnh hưởng đến mọi hoạch định chính sách.
Chung quy, có thể nói một chính sách cần có cả tính khoa học và tính đại diện
cho lợi ích nhân dân. Điều này thể hiện một cách cô đọng tính dân chủ của một chế độ,
một chính sách. Chính tính dân chủ dựa trên nền tảng khoa học giúp giải quyết được
mâu thuẫn giữa tầm nhìn của lãnh đạo (thiểu số) và lợi ích trước mắt của dân chúng
(đa số) trong các quy trình hoạch định chính sách. Do đó, trong quá trình làm chính
sách, tham khảo ý kiến rộng rãi phải dựa trên cơ sở khoa học nếu không như thế dân
chủ sẽ bị lợi dụng để thực hiện lợi ích cục bộ, thậm chí lợi ích cá nhân.
Thực tế cho thấy nội dung phương án chính sách dễ bị ảnh hưởng lợi ích cục bộ

Đây là khâu rất quan trọng nhưng thực tế thường ít được dành sự quan tâm thích
đáng. Vấn đề chủ thể đánh giá (phân tích từ góc độ thông tin và quyền lực chính trị),
trên thực tế đang đặt ra những mâu thuẫn. Điều đó cho thấy ngày nay muốn nâng cao
chất lượng chính sách công phải yêu cầu rất cao về tính khoa học và trách nhiệm xã
hội trong khâu đánh giá.
Trong rất nhiều tiêu chí, đánh giá một cách khoa học đòi hỏi khả năng đo lường
được chính xác chi phí - kết quả, đòi hỏi khả năng quy được trách nhiệm là rất quan
trọng. Nó cũng là hai vấn đề trung tâm của cải cách hành chính hiện nay trên thế giới.
Công việc này được tiến hành ngay trước khi triển khai, trong cả quá trình xây dựng
chính sách và có ảnh hưởng sống còn đối với chính sách.
ở đây không đơn thuần chỉ là vấn đề kỹ thuật khách quan để hiểu thấu đáo các
tác động của chính sách đó, mà còn mang tính chính trị ngay từ khởi đầu và trong suốt
mọi khâu từ thông qua kế hoạch, xác định hệ tiêu chí, kết luận đánh giá một chính sách
giữa các chủ thể chính trị có liên quan. Theo tính chất và mức độ khái quát, có thể
phân thành 3 loại đánh giá chính: đánh giá chính trị, đánh giá kỹ thuật và đánh giá toàn
diện.
Đánh giá chính trị xem xét tính khả thi chính trị của chính sách, đặc biệt trong
giai đoạn đầu của quá trình, khi chính sách chưa được thông qua, mới đang trong giai
đoạn hình thành những ý tưởng căn bản. Do đặc điểm lịch sử -kinh tế - chính trị - xã
hội Việt Nam, mà có khi đánh giá chính trị được đề rất cao. Tuy nhiên, tính khả thi
chính trị nếu xét một cách khách quan tiến bộ tự nó đã bao hàm nhiều yếu tố tích cực
thúc đẩy hiệu quả chính sách.
Đánh giá kỹ thuật tập trung vào cung cách triển khai một chính sách, các tác
động trực tiếp, các chi phí và lợi nhuận trực tiếp của chính sách. Xem xét các chính
sách đã được triển khai đúng ý định chưa, có đạt hiệu quả đặt ra không, đặc biệt các
nguồn lực được phân bổ cho chính sách có đủ để phát huy hiệu quả?,
Ngoài ra, để đi đến kết luận về mức độ thực hiện mục tiêu tổng thể của chính
chọn nhằm xây dựng, triển khai, đánh giá, điều chỉnh để có một chính sách công chất
lượng.
Tính khoa học trong chính sách công và hoạch định chính sách công do đó là
yêu cầu, phẩm chất thiết yếu để một chính sách từ lúc hình thành cho đến khi đi vào
cuộc sống phát huy hiệu quả. Nó có mặt ở trong tất cả các giai đoạn của quy trình.
Tính khoa học (phạm trù khách quan) không phụ thuộc ý chí con người còn thái độ tôn
trọng tính khoa học chính là phạm trù gắn liền trực tiếp với chủ quan. Sự tách bạch đó
chỉ tương đối. Do đó khi nói tính khoa học tức để chỉ tính chất của chính sách (với tư
cách sản phẩm) còn nói thái độ tôn trọng tính khoa học là nói về nhận thức, hành vi
làm chính sách (với tư cách quá trình hoạch định) của nhà hoạch định. Các phân tích
trong luận văn đều sử dụng cả hai phạm trù này.
Tính khoa học có thể được gợi ý từ các tiêu chí như sau:
- Sự tuân thủ quy luật khách quan khi xem xét đánh giá nhận định và lựa chọn
phương án chính sách cũng như triển khai thực thi, tổng kết đánh giá chính sách công.
- Mục tiêu chính sách phản ánh tính tất yếu, quy luật khách quan, phù hợp
nguyện vọng nhân dân, bảo đảm tính giai cấp, tính toàn diện trong phản ánh, ứng xử
với cuộc sống của chính sách.
- Có tính đến yếu tố quốc gia, dân tộc, đặc thù địa phương, tập thể, tổ chức, cá
nhân trong quy trình chính sách.
- Khẳng định giá trị xã hội (dân chủ, công bằng, nhân văn, sáng tạo, ) thông qua
việc phân bổ lợi ích, giải quyết quan hệ lợi ích cho các đối tượng trong xã hội khi có
tác động của chính sách.
- Quy phạm hóa quy trình hoạch định chính sách công theo chuẩn quốc gia và
quốc tế (có tính thời đại, phù hợp thông lệ quốc tế).
1.2.2. Thái độ tôn trọng tính khoa học trong hoạch định chính sách công
Thái độ tôn trọng tính khoa học biểu hiện qua nhận thức cũng như hành vi bảo
đảm trên thực tế chính sách được thiết kế, ban hành và tổ chức thực thi có khoa học.
Đây là đòi hỏi quan trọng để ngày càng nâng cao tính khoa học cho các chính sách. Có

cũng chính là yêu cầu cao nhất của mọi chính sách, nó đồng nghĩa với hiệu quả.
- Xác định rõ mục tiêu chính sách, chú ý tính đa mục tiêu của chính sách. Xây dựng
các phương án giải quyết mục tiêu đó. Nhận thức được các ưu khuyết điểm cũng như chi
phí và lợi ích của từng khả năng để đạt tới mục tiêu.

Trích đoạn Hoàn thiện thể chế sử dụng các cơ quan tư vấn chính sách Đẩy mạnh công tác giám sát, phản biện chính sách của các cơ quan dân cử, các tổ chức chính trị xã hội, các hội quần chúng Sử dụng các cơ quan độc lập trong đánh giá tác động của chính sách Thúc đẩy toàn diện kinh tế chính trị-văn hóa xã hội nhằm tạo ra nguồn lực, môi trường cho công tác hoạch định chính sách của Thành phố Kiện toàn cơ chế chính sách nhằm đổi mới “hoạt động lập pháp (của HĐND và UBND thành phố) theo hướng luật pháp hóa, vừa mang tính sáng tạo vừa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status