TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN.
NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP CÁC KHÁCH SẠN
THUÊ THƢƠNG HIỆU SOFITEL CỦA
TẬP ĐOÀN ACCOR TẠI HÀ NỘI
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm) LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH Hà Nội, 2014
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KINH DOANH KHÁCH SẠN 15
1.1 Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 15
1.1.1 Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 15
1.1.2 Sự hình thành và phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 16
1.1.3 Lợi ích từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 20
1.1.4 Các lĩnh vực cần quan tâm trong trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp 22
1.2 Những vấn đề về khách sạn và kinh doanh khách sạn 29
1.2.1 Khái niệm về khách sạn và kinh doanh khách sạn 29
1.2.2 Sản phẩm của khách sạn 31
1.2.3 Đặc điểm của kinh doanh khách sạn 35
1.2.4 Vai trò của kinh doanh khách sạn trong nền kinh tế quốc dân 38
1.3 Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh khách sạn 39
1.3.1 Bản chất của trách nhiệm xã hội trong kinh doanh khách sạn 39
1.3.2 Nội dung trách nhiệm xã hội trong khách sạn 40
1.3.3 Lợi ích của khách sạn từ việc thực hiện CSR 43
CHƢƠNG 2. TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC KHÁCH SẠN THUÊ
THƢƠNG HIỆU SOFITEL CỦA TẬP ĐOÀN ACCOR TẠI HÀ NỘI 46
2.1 Khái quát về các khách sạn thuê thƣơng hiệu Sofitel của tập đoàn
Accor tại Hà Nội 46
2.1.1 Tập đoàn Accor và thƣơng hiệu Sofitel 46
2.1.2 Giới thiệu chung về khách sạn thuê thƣơng hiệu Sofitel của tập
đoàn Accor tại Hà Nội 50
2.2 Thực trạng về thực hiện trách nhiệm xã hội của các khách sạn thuê
thƣơng hiệu Sofitel của tập đoàn Accor tại Hà Nội 58
2.2.1 Trách nhiệm đối với ngƣời lao động 58
2.2.2 Trách nhiệm đối với môi trƣờng 67
2.2.3 Trách nhiệm đối với cộng đồng 78
CHƢƠNG 3. KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT NÂNG CAO
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN TẠI
Bảng 2.1 Cơ cấu loại buồng tại khách sạn Sofitel Legend Metropole Hanoi . 51
Bảng 2.2: Cơ cấu loại buồng tại khách sạn Sofitel Plaza Hanoi 52
Bảng 2.4: Cơ cấu lao động theo trình độ tại khách sạn Sofitel Legend
Metropole Hanoi 53
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động tại khách sạn Sofitel Plaza Hanoi 54
Bảng 2.6: Cơ cấu lao động theo trình độ tại khách sạn Sofitel Plaza Hanoi 55
Bảng 2.9: Bảng lƣơng theo cấp bậc của khách sạn Sofitel Legend
Metropole Hanoi 63
Bảng 2.10: Phát sinh khí thải từ hoạt động của các khách sạn thuê thƣơng
thƣơng hiệu Sofitel của tập đoàn Accor tại Hà Nội 77
Bảng 3.1 Hệ thống cơ sở lƣu trú trên phạm vị cả nƣớc theo từng loại hạng
(tính đến tháng 5 năm 2013) 83
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thƣơng mại
Thế giới (WTO) từcuối năm 2006, chính vì vậy, việc thực hiện trách nhiệm xã
hội là một công việc không thể bỏ qua trên con đƣờng hội nhập của các doanh
nghiệp Việt Nam, bởi nó vừa mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, vừa mang lại
lợi ích cho xã hội, cho quốc gia, đặc biệt là nâng cao khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Công việc này đối với các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ bắt
đầu, song sẽ là vấn đề mang tính chất lâu dài và trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp đang trở thành một nội dung đƣợc quan tâm, nó sẽ đem lại cho các
doanh nghiệp những lợi ích và cơ hội.
Mặc dù là ngành kinh tế non trẻ, chỉ thực sự phát triển trong vài thập kỷ
trở lại đây, du lịch Việt Nam đã nhanh chóng hòa chung vào xu thế phát triển
của các ngành kinh tế khác và ngày càng khẳng định vai trò cũng nhƣ sự đóng
hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và
trách nhiệm xã hội trong kinh doanh khách sạn.
- Đánh giá thực trạng hoạt động thực hiện trách nhiệm xã hội của các
khách sạn thuê thƣơng hiệu Sofitel của tập đoàn Accor tại Hà Nội.
- Rút ra các bài học kinh nghiệm từ hoạt động thực hiện trách nhiệm
xã hội trong các khách sạn thuê thƣơng hiệu Sofitel của tập đoàn Accor tại
Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội trong các
khách sạn thuê thƣơng hiệu Sofitel của tập đoàn Accor tại Hà Nội nói riêng
và vận dụng trong doanh nghiệp kinh doanh khách sạn tại Việt Nam nói
chung.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là trách nhiệm xã hội trong kinh
doanh khách sạn.
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Trong khuôn khổ bài luận văn này, tác giả xin đề
cập đến trách nhiệm xã hội trong kinh doanh khách sạn và các hoạt động thực
hiện trách nhiệm xã hội tại các khách sạn thuê thƣơng hiệu Sofitel của tập
đoàn Accor tại Hà Nội. Đây là vấn đề tƣơng đối rộng, do thời gian không cho
phép, việc thu thập số liệu còn gặp nhiều khó khăn cũng nhƣ khả năng còn
hạn chế, tác giả chỉ đi sâu vào nghiên cứu 3 nội dung cơ bản của CSR: trách
nhiệm đối với ngƣời lao động, trách nhiệm đối với môi trƣờng và trách nhiệm
đối với cộng đồng.
- Phạm vi về không gian: Tác giả lựa chọn các khách sạn thuê thƣơng
hiệu Sofitel của tập đoàn Accor tại Hà Nội làm nghiên cứu trƣờng hợp.
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu tình hình, số liệu hiện tại và xu
thêm là việc thực hiện trách nhiệm xã hội giúp cho doanh nghiệp tối đa hóa
đƣợc lợi nhuận thì doanh nghiệp nhất định phải đi theo con đƣờng này. Mối
quan tâm đối với trách nhiệm xã hội chủ yếu chỉ diễn ra ở các doanh nghiệp
lớn đa quốc gia; các doanh nghiệp vừa và nhỏ phần lớn đều nằm ngoài trào
lƣu này, do họ có những nguồn lực tài chính và nhân sự hạn chế cũng nhƣ
thƣờng xuyên phải tập trung các mục tiêu kinh tế mang tính sống còn và
ngắn hạn. Các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ thƣờng tìm cách hội nhập
tối đa vào cộng động địa phƣơng thông qua các hoạt động bảo trợ, mặc dù
đôi khi cũng tham gia vào những hành động mang tính chiến lƣợc hơn nhƣ
quản lý rác thải hoặc tiết kiệm năng lƣợng. Áp lực của các doanh nghiệp đối
tác lớn cũng có thể là động lực tạo nên những ứng xử mang tính trách nhiệm
xã hội nơi các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tuy nhiên những áp lực này mang
tính hình thức và đƣợc nhìn nhận nhƣ là một sự cƣỡng ép hơn là một sự
khuyến khích.[1, Tr37]
Perrow (1997), một trong những lý thuyết gia lớn nhất hiện nay trong
lĩnh vực khoa học tổ chức, đã nhận diện trách nhiệm xã hội nhƣ là một cơ chế
có hiệu ứng rõ ràng nhất, đó là giúp định vị tổ chức của doanh nghiệp nhằm
khai thác một cách tối ƣu môi trƣờng xung quanh. Nhƣng ông nhấn mạnh
rằng việc thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ có lợi cho doanh nghiệp. [1,Tr 38]
Ngoài giới kinh doanh, cách nhìn và thái độ của các chủ thể hành động
khác cũng khác biệt nhau rất nhiều: từ việc lên án trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp nhƣ là một hiện thân mới của chủ nghĩa tƣ bản nhằm dự báo
trƣớc những điều mang tính chất cƣỡng chế (Plihon, 2003), cho đến việc tin
tƣởng vào một đòn bẩy mới có khả năng làm biến đổi các doanh nghiệp cũng
nhƣ giới kinh doanh (Duval, 2003). [1,Tr 39]
Theo Matten và Moon (2004): “CSR là một khái niệm chùm bao gồm
nhiều khái niệm khác nhƣ đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện,
công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trƣờng. Đó là khái
niệm động và luôn đƣợc thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã
hội đặc thù”. Nhƣ vậy, bản chất của CSR là quan điểm về vai trò của nhà
hội của bản thân. Theo tác giả, xây dựng và củng cố một xã hội nhƣ vậy là
trách nhiệm của tất cả mọi ngƣời và của cả doanh nghiệp. Đó cũng là một
khía cạnh về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp có thể biểu hiện dƣới nhiều hình thức và nội dung khác nhau.
Trước hết, đó là trách nhiệm xã hội về môi trƣờng. Thứ hai là trách nhiệm đạo
lý. Và cuối cùng, trách nhiệm xã hội thể hiện trƣớc hết thông qua việc đóng
thuế.[4, Tr 114]
Với cách tiếp cận trên góc độ triết học, GS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn,
Viện Triết học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam quan niệm: “Ý thức về
trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trƣờng hiện đại giúp cho ngƣời
ta thấy rằng, thị trƣờng thế giới rộng lớn, đầy tiềm năng trên phạm vi toàn cầu
là môi trƣờng thuận lợi để tìm kiếm lợi nhuận không chỉ cho riêng mình, mà
còn cho quê hƣơng, đất nƣớc và cho sự tiến bộ chung của xã hội Bởi vậy ai
biết tôn trọng khách hàng, biết tôn trọng đạo lý và biết lấy chữ tín làm đầu
mới có hy vọng thành đạt trên thƣơng trƣờng trong nƣớc và quốc tế. Ý thức
trách nhiệm xã hội sẽ giúp ngƣời sản xuất, kinh doanh tự điều chỉnh các hoạt
động của mình sao cho phù hợp với những đòi hỏi của chuẩn mực pháp lý,
chuẩn mực đạo đức để hƣớng tới cái lợi, cái thiện, cái đẹp ”[4, Tr 114]
Bài viết về “Trách nhiệm xã hội của các khách sạn Việt Nam” trên tạp
chí Du lịch Việt Nam của tác giả Trần Thị Thu Thảo có nhận định rằng: “Vấn
đề nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của các khách
sạn thông qua việc thực hiện tốt CSR là sự kết hợp hài hòa giữa việc thực
hiện các quy định của luật pháp Việt Nam về lao động, bảo vệ môi trƣờng,
bảo vệ ngƣời tiêu dùng với yêu cầu của đối tác, của khách hàng; giữa lợi ích
của khách sạn với lợi ích của xã hội; giữa quyền lợi của ngƣời lao động với
quyền lợi của ngƣời sử dung lao động Khi đáp ứng tốt các yêu cầu này, năng
lực cạnh tranh trong nƣớc và quốc tế của các khách sạn sẽ đƣợc cải thiện; luật
pháp của quốc gia đƣợc thực hiện tốt hơn và quyền lợi của các bên tham gia
cũng đƣợc bảo đảm”.[14, Tr 31]
Tuy nhiên các công trình đã công bố tại Việt Nam mới chỉ quan tâm
tra đƣợc tiến hành đối với các lao động làm việc tại các khách sạn thuê
thƣơng hiệu Sofitel của tập đoàn Accor tại Hà Nội. Sau đó thiết kế bảng hỏi
với hệ thống câu hỏi phù hợp về cả cấu trúc, thời gian với các đối tƣợng là
ngƣời lao động. Nội dung các câu hỏi đề cập là các mối quan tâm của họ về
các chế độ lƣơng, thƣởng và đãi ngộ khác của khách sạn đối với ngƣời lao
động nhằm đáp ứng cho yêu cầu và mục tiêu của luận văn.
- Phương pháp thống kê, thu thập và xử lý số liệu: Phƣơng pháp này
đƣợc thực hiện trong luận văn thông qua việc tổng hợp các nguồn tƣ liệu, số
liệu, các kết quả đánh giá, điều tra xã hội cũng nhƣ các khảo sát thực tế. Phân
tích để thấy đƣợc mức độ, chiều sâu của vấn đề đƣợc đề cập.
6. Những đóng góp của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần hệ thống, phát triển lý thuyết về
trách nhiệm xã hội trong kinh doanh khách sạn.
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Đề tài đã làm rõ thực trạng hoạt động thực hiện trách nhiệm xã hội tại
các khách sạn thuê thƣơng hiệu Sofitel của tập đoàn Accor tại Hà Nội.
+ Việc nghiên cứu về thực trạng và rút ra các bài học kinh nghiệm từ
việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong các khách sạn Sofitel tại Hà Nội là
căn cứ cơ bản để đề xuất các giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội trong các
khách sạn tại Việt Nam. Nó giúp cho các doanh nghiệp khách sạnnhận thức
đúng đắn về trách nhiệm xã hội của mình, lợi ích từ việc thực hiện tốt trách
nhiệm xã hội.
+ Giúp cho các nhà quản lý, các doanh nghiệp khách sạn Việt Nam có
những định hƣớng trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình nhằm đảm
bảo phát triển một cách bền vững.
+ Đề tài còn là nguồn tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp khách
sạn Việt Nam trong việc thực hiện các trách nhiệm xã hội của mình.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau:
mãn nhu cầu cạnh tranh của doanh nghiệp và lợi ích của toàn xã hội”[21]
+ Còn theo Hội đồng doanh nghiệp thế giới vì sự phát triển bền
vững: “CSR là sự cam kết liên tục của doanh nghiệp đối với đạo đức kinh
doanh và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong khi cải thiện chất lượng
cuộc sống của người lao động và gia đình họ cũng như cộng đồng và xã
hội”[21]
+ Theo HSBC: “CSR là quản lý công việc kinh doanh của chúng ta một
cách có trách nhiệm và nhạy cảm, vì mục tiêu thành công dài hạn. Chúng ta
không bao giờ theo đuổi lợi nhuận bằng mọi giá, vì biết rằng thành công
ngày mai phụ thuộc vào uy tín được chúng ta xây dựng từ hôm nay”[21]
Về phƣơng diện quản lý nhà nƣớc, nhiều nƣớc đã thể chế hóa nội dung
CSR vào các văn bản và quy định khác dƣới nhiều hình thức khác nhau. Trên
bình diện rộng lớn hơn, nỗ lực đƣa CSR trở thành một thông lệ quốc tế phổ
biến đã trở thành hiện thực.
Tóm lại, có thể đƣa ra khái niệm của Ủy ban Kinh tế Thế giới về phát
triển bền vững để thấy rõ hơn bản chất của CSR: “CSR- Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp nhằm đóng góp cho phát
triển kinh tế bền vững thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng
đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cồng đồngvà
cho toàn xã hội theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển
chung của xã hội”[15]
1.1.2 Sự hình thành và phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Khái niệm “Trách nhiệm xã hội” của doanh nghiệp xuất hiện lần đầu
tiên vào năm 1953. Đại diện nổi bật nhất của thuyết quản trị “Đại diện” là
Milton Friedman. Ông đã cho rằng doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm duy
nhất là tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng giá trị cổ đông, trong khuôn khổ luật
chơi của thị trƣờng là cạnh tranh trung thực và công bằng. Theo ông: Ngƣời
quản lý doanh nghiệp (thành viên của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc) là
những ngƣời đại diện cho chủ sở hữu/ cổ đông đứng ra quản lý công ty. Họ
đƣợc bầu hoặc thuê để dẫn dắt công ty theo cách mà các cổ đông muốn, đa
nghiệp. Do đó nếu muốn thực hiện trách nhiệm xã hội, các cổ đông có thể làm
với tƣ cách cá nhân, tự nguyện và tách biệt với công ty mà không nên thông
qua công ty và những ngƣời quản lý công ty. Từ quan điểm này, trƣờng phái
phản đối CSR cho rằng các chƣơng trình của doanh nghiệp lấy tên là “Trách
nhiệm xã hội” chỉ là những chƣơng trình PR đạo đức giả mà thực chất mục
tiêu cuối cùng vẫn vì lợi nhuận của doanh nghiệp mà thôi
Những ngƣời ủng hộ CSR thì không bác bỏ hoàn toàn những lập luận
trên nhƣng họ cũng đƣa ra một lập luận khác hết sức thuyết phục là bản thân
công ty khi đi vào hoạt động đã là chủ thể của xã hội, sử dụng nguồn lực xã
hội và môi trƣờng. Vì vậy, doanh nghiệp phải có ý thức về những tác động
của hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và có trách nhiệm với chính
hành vi của mình trƣớc xã hội. Henry Mintberg đã lấy ví dụ công ty Dow
Chemicals quyết định bán chất napal cho quân đội Mỹ để sử dụng trong chiến
tranh Việt Nam, để lại hậu quả nặng nề cho hàng triệu nạn nhân chất độc màu
da cam. Có thể nói bản chất của doanh nghiệp không thể chỉ vì lợi nhuận mà
ngay từ đầu doanh nghiệp đã đóng vai trò là công dân trong xã hội với tất cả
nghĩa vụ và quyền lợi thích hợp của mình trong nó. Thật vậy, nếu chỉ nhìn
nhận đơn giản khi cho rằng doanh nghiệp hoạt động duy nhất vì lợi nhuận và
bù đắp lại chi phí xã hội, cũng nhƣ trả tiền cho các dịch vụ công mà doanh
nghiệp hƣởng lợi thông qua việc đóng thuế, chúng ta sẽ thấy những ô nhiễm
môi trƣờng và chi phí xã hội mà doanh nghiệp gây ra có thể lớn hơn rất nhiều
lần lợi ích mà công ty này mang lại từ tiền thuế hay tạo việc làm (nhƣ trƣờng
hợp công ty Vedan). Doanh nghiệp không thể kêu gọi sự trung tính của mình.
Tất cả sự kiện của doanh nghiệp nhƣ khai trƣơng dòng sản phẩm mới, đặt một
nhà máy, đóng cửa một chi nhánh đều kéo theo những hệ quả xã hội nhất
định. Do vậy, không thể tách rời hoàn toàn giữa tính chất xã hội và kinh tế khi
nhìn nhận bản chất và hoạt động của doanh nghiệp. Và ngƣời quản lý với tƣ
cách là ngƣời quản lý doanh nghiệp phải thực hiện trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp mình vì chính doanh nghiệp. Trách nhiệm của họ không phải
việc quyết định điều gì tốt hay xấu cho xã hội mà là đáp ứng những điều mà
nghiêm túc. Hàng nghìn chƣơng trình đã đƣợc thực hiện nhƣ tiết kiệm năng
lƣợng, giảm khí thải các-bon, sử dụng vật liệu tái sinh, năng lƣợng mặt
trời, cứu trợ, ủng hộ thiên tai. Theo tổ chức Giving USA Foundation, số
tiền các doanh nghiệp đóng góp cho các hoạt động xã hội trên toàn thế giới
lên đến 14,55 tỷ USD (báo cáo năm 2012). Hiện nay, hầu hết các công ty
đa quốc gia đều xây dựng bộ quy tắc ứng xử có tính chất chuẩn mực áp
dụng đối với nhân viên của mình trên toàn thế giới. Lợi ích đạt đƣợc qua
những cam kết CSR đã đƣợc ghi nhận. Không những hình ảnh công ty
đƣợc cải thiện trƣớc mắt công chúng và ngƣời dân địa phƣơng giúp công ty
tăng doanh số bán hàng hay thực hiện các thủ tục đầu tƣ đƣợc thuận lợi
hơn, mà ngay trong nội bộ công ty, sự hài lòng và gắn bó của nhân viên với
công ty cũng tăng lên, cũng nhƣ các chƣơng trình tiết kiệm năng lƣợng
giúp giảm chi phí hoạt động cho công ty không nhỏ.
Nói tóm lại, CSR xuất hiện từ những năm 70 của thế kỷ trƣớc và theo
sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu, CSR ngày càng phát triển và hoàn thiện
mang lại những ý nghĩa tích cực cho doanh nghiệp và xã hội, gắn kết doanh
nghiệp và xã hội hơn.
1.1.3 Lợi ích từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Nhữngdoanh nghiệp thực hiện CSR đã đạt đƣợc những lợi ích đáng kể
bao gồm giảm chi phí, tăng doanh thu, tăng giá trị thƣơng hiệu, giảm tỷ lệ nhân
viên thôi việc, tăng năng suất và thêm cơ hội tiếp cận những thị trƣờng mới:
- Giảm chi phí và tăng năng suất: Doanh nghiệp có thể tiết kiệm chi
phí bằng cách sản xuất sạch hơn. Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất bao bì lớn
của Ba Lan đã tiết kiệm đƣợc 12 triệu Đô la Mỹ trongvòng 5 năm nhờ việc
lắp đặt thiết bị mới, do đó làm giảm 7% lƣợng nƣớc sử dụng, 70% lƣợng chất
thải nƣớc và 87% chất thải khí. Một hệ thống quản lý nhân sự hiệu quả cũng
giúp cắt giảm chi phí và tăng năng suất lao động đáng kể. Lƣơng thƣởng hợp
lý, môi trƣờng lao động sạch sẽ và an toàn, các cơ hội đào tạo và chế độ bảo
hiểm y tế và giáo dục đều góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp bằng
cách tăng năng suất lao động, giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ, bỏ việc, giảm chi phí
trả lƣơng thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, bảo hiểm
y tế và môi trƣờng làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút và giữ đƣợc nhân
viên tốt. Grupo M, một công ty dệt cỡ lớn ở Cộng hoà Đô-mi-ních, đã tổ chức
đƣa đón công nhân, có trung tâm y tế chăm sóc sức khoẻ cho công nhân và
gia đình họ, tổ chức đào tạo công nhân và trả lƣơng gấp đôi mức lƣơng tối
thiểu do quốc gia này qui định. Tổng Giám đốc, đồng thời là sáng lập viên
của công ty, không lo lắng nhiều về những chi phí này mà cho rằng đó là
khoản đầu tƣ sáng suốt. Ông nói "tất cả những gì chúng tôi dành cho ngƣời
lao động đều đem lại lợi ích cho công ty - đó là hiệu quả công việc, chất
lƣợng sản phẩm, lòng trung thành và sự sáng tạo." [4, Tr 27]
1.1.4 Các lĩnh vực cần quan tâm trong trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp
Trách nhiệm xã hội hiện nay là một vấn đề đƣợc đề cập tƣơng đốiphổ
biến. Trên thực tế, còn cónhiềuquan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung
và phạm vi của CSR. Trong luận văn này, tác giả xin đƣợc đề cập đến hai
khía cạnh phổ biến và mang tính toàn diện về nội dung của trách nhiệm xã
hội, cụ thể:
*Tiếp cận theo mô hình “kim tự tháp” của A. Carroll (1999)
Mô hình này có tính toàn diện và đƣợc sử dụng rộng rãi nhất. Mô hình
“Kim tự tháp” của A. Carrollthể hiện rõ nhất và bao quát nhất các lĩnh vực
quan tâm của CSR.
ĐẠO ĐỨC
PHÁP LÝ
KINH TẾ
TỪ THIỆN
Bảng 1.1: Mô hình “Kim tự tháp” CSR (Nguồn: Carroll Archie - 1999)
Theo mô hình, CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và
từ thiện:
- Trách nhiệm kinh tế: Tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và
nhận nhƣng chƣa đƣợc “mã hóa” vào văn bản luật. Thông thƣờng, luật pháp
chỉ có thể đi sau để phản ánh các thay đổi trong các quy tắc ứng xử xã hội vốn
luôn mới. Hơn nữa, trong đạo đức xã hội luôn tồn tại những khoảng “xám”,
đúng - sai không rõ ràng; mà khi các cuộc tranh luận trong xã hội chƣa ngã
ngũ, chúng chƣa thể đƣợc cụ thể hóa vào luật. Cho nên, tuân thủ pháp luật chỉ
đƣợc coi là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra.
Doanh nghiệp còn cần phải thực hiện cả các cam kết ngoài luật. Trách nhiệm
đạo đức là tự nguyện, nhƣng lại chính là trung tâm của CSR. Ví dụ: ngày nghỉ
thứ 7, tiền làm thêm giờ, điều kiện lao động, thông tin cho ngƣời tiêu dùng,
giá bán thuốc chữa HIV/AIDs, dữ liệu khách hàng, sử dụng nguyên liệu sạch,
thực phẩm biến đổi gen, uy tín với đối tác, quan hệ với cộng đồng, cổ đông
thiểu số, đối thủ cạnh tranh đều là các vấn đề mở và mức độ cam kết nhƣ thế
nào phụ thuộc vào trách nhiệm đạo đức của doanh nghiệp.
- Trách nhiệm từ thiện: (nhân văn) Là những hành vi của doanh
nghiệp vƣợt ra ngoài sự trông đợi của xã hội, nhƣ quyên góp ủng hộ cho
ngƣời yếu thế, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng Điểm
khác biệt giữa trách nhiệm từ thiện và đạo đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự
nguyện. Nếu họ không thực hiện CSR đến mức độ này, họ vẫn đƣợc coi là
đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi. Những đóng góp có thể trên
bốn phƣơng diện: nâng cao chất lƣợng cuộc sống, san sẻ bớt gánh nặng cho
chính phủ, nâng cao năng lực lãnh đạo cho nhân viên và phát triển nhân cách
của ngƣời lao động. Đây là thứ trách nhiệm đƣợc điều chỉnh bởi lƣơng tâm.
Chẳng ai có thể bắt buộc các doanh nghiệp phải bỏ tiền ra để xây nhà tình
nghĩa hoặc những lớp học tình thƣơng, ngoài những thôi thúc của lƣơng tâm.
Tuy nhiên, thƣơng ngƣời nhƣ thể thƣơng thân là đạo lí ở đời. Nếu đạo lí đó
ràng buộc mọi thành viên trong xã hội thì nó không thể không ràng buộc các
doanh nhân. Ngoài ra, một xã hội nhân bản và bác ái là rất quan trọng cho
hoạt động kinh doanh.
Mô hình trên có tính toàn diện và khả thi cao, có thể đƣợc sử dụng làm
khuôn khổ cho tƣ duy chính sách của nhà nƣớc về CSR.