Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu tại Công ty Cổ phần Xuất khẩu Khoáng sản - Pdf 11

Mục lục
Lời cam đoan ………………………………………………………………..1
Lời mở đầu ………………………………………………… …………...….4
Lời cảm ơn ………………………………………………… ………............6
Chương 1. Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu …………………..….7
1.1. Đặc điểm của nghiệp vụ Xuất khẩu ………………………………..….7
1.1.1. Khái niệm xuất khẩu. ……………………………………………....7
1.1.2. Vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân ………………...10
1.2. Đặc điểm của hình thức xuất khẩu khoáng sản ……………………...13
1.2.1. Quy định về việc Xuất khẩu Khoáng sản ………………………....13
1.2.2. Danh mục, tiêu chuẩn chất lượng và điều kiện
Khoáng sản xuất khẩu …………………………………………….16
1.2.3. Thủ tục xuất khẩu Khoáng sản ………………………………..….18
1.3.Tổng quan chung về Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu
Khoáng sản …………………………………………………………..19
1.3.1. Sự hình thành và phát triển ……………………………………….19
1.3.2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty ……………………………..21
1.3.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy và nhiệm vụ của các bộ phận ……………22
1.3.4. Các nguồn lực của Công ty ……………………………………….25
Chương 2. Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Công ty
Cổ phần XNK Khoáng sản ………………………………… 27
2.1. Hoạt động xuất khẩu của Công ty Cổ phần
Xuất nhập khẩu Khoáng sản…………………………………………..27
2.1.1. Giá trị kim ngạch Xuất khẩu ………………………………………27
2.1.2. Cơ cấu ngành hàng Xuất khẩu …………………………………….28
2.1.3. Cơ cấu thị trường Xuất khẩu ……………………………………....31
2.2. Đánh giá hoạt động Xuất khẩu của Công ty Cổ phần
Xuất nhập khẩu Khoáng sản
2.2.1. Đánh giá hoạt động kinh doanh Xuất khẩu của Công ty…………..32
2.2.2. Đánh giá khả năng và những lợi thế cạnh tranh của Công ty ……..33
2.2.3. Một số bất cập còn tồn tại …………………………………………36

lập trở nên bị phụ thuộc… Ngày nay, khi không một quốc gia nào có thể
phát triển tách biệt khỏi quỹ đạo chung của nến kinh tế thế giới, thương mại
quốc tế lại càng đóng một vai trò quan trọng hơn bao giờ hết. Việt Nam
cũng không nằm ngoài quy luật vận động chung của nền kinh tế thế giới.
Ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế
giới (WTO), đây được coi là một điểm mốc quan trọng đối với sự phát triển
của nền kinh tế Việt Nam. Nó chứng tỏ sự phát triển tất yếu của nền Kinh tế
Việt Nam, đánh dấu sự hòa nhập toàn diện của nền kinh tế Việt Nam trong
nền Kinh tế thế giới. Tuy nhiên để có thể thực sự hòa nhập, Việt Nam cần
thiết phải đẩy mạnh các hoạt động thương mại quốc tế nói chung và hoạt
động Xuất khẩu nói riêng. Đó chính là tính tất yếu của đề tài.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này gắn liền với hoạt động
Xuất khẩu. Thực tiễn cho thấy trong những năm gần đây, hoạt động xuất
khẩu đã góp phần đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn tạo điều kiện cân bằng cán
cân thanh toán quốc tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng và
thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta. Tuy nhiên các doanh
nghiệp hoạt động xuất khẩu vẫn còn tồn tại nhiều những hạn chế và bất cập,
thể hiện trong sự chênh lệch cán cân giữa nhập và xuất, thị trường xuất khẩu
chưa phong phú. Do đó vấn đề đặt ra là phải luôn tổng kết, đánh giá lại quá
trinh hoạt động, từ đó đề ra mục tiêu và giải pháp có hiệu quả cho hoạt động
xuất khẩu trong hiện tại cũng như cho tương lai.
Với những nhận thức trên cùng với sự tìm hiểu của bản thân trong quá
trình thực tập tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Khoáng sản, em đã tìm
tòi, học hỏi và thấy được những thành tựu, những thế mạnh cũng như một
số tồn tại trong hoạt động Xuất khẩu của Công ty. Đó cũng là những điểm
mà em sẽ trình bày trong Chuyên đề mang tên : “ Thúc đẩy hoạt động Xuất
khẩu của Công ty Cố phần Xuât nhập khẩu Khoáng sản ”
4
Kết cấu chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 3 Chương:
Chương 1 : Những lý luận chung về hoạt động xuất khẩu

lợi được. Ngoại thương mở rộng khả năng tiêu dùng của mỗi nước, nó cho
phép một quốc gia tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn
mức có thể tiêu dùng với giới hạn của khả năng sản xuất trong nước nếu nó
thực hiện chế độ tự cung tự cấp, không buôn bán với bên ngoài.
Ngoại thương là sự trao đổi hàng hóa giữa nước này với nước khác
thông qua các hoạt động mua và bán. Trong đó, nhập khẩu là mua hàng hóa
và dịch vụ của nước ngoài, xuất khẩu là bán hàng hóa và dịch vụ cho nước
ngoài trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây
có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hay cả hai quốc gia.
Cơ sở của hoạt động xuất khẩu hàng hóa là hoạt động mua bán trao đổi
hàng hóa trong nước. Khi việc trao đổi này giữa các quốc gia đem lại lợi ích
cho cả hai bên, các nước đều quan tâm mở rộng hoạt động này.
Thực tế cho thấy nếu mỗi quốc gia chỉ đóng cửa nền kinh tế của mình,
áp dụng phương thức tự cung tự cấp thì không bao giờ có cơ hội để vươn
lên, củng cố thế lực của mình và nâng cao đời sống nhân dân.
Xuất khẩu là hình thức cơ bản của ngoại thương, đã xuất hiện từ rất lâu
đời và ngày càng phát triển. Nó diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện
kinh tế, từ xuất khẩu hàng hóa tiêu dùng đến xuất khẩu hàng hóa sản xuất,
từ máy móc thiết bị đến các công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động
trao đổi đó đều nhằm mục tiêu là đem lại lợi ích cho các quốc gia.
Xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về không gian lẫn thời gian.
Nó có thể chỉ diễn ra trong phạm vi lãnh thổ của các nước khác nhau, có thể
được tiến hành trong một hai ngày hoặc kéo dài hằng năm.
Theo David Ricardo – nhà kinh tế học người Anh thì cơ chế xuất hiện
lợi ích của ngoại thương là:
- Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế
bởi vì ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của mỗi
nước do chỉ chuyên môn hóa vào sản xuất một số sản phẩm nhất
7
định và xuất khẩu hàng hóa của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ

nhanh chóng hội nhập vào phân công lao động và hợp tác quốc tế, trên cơ
sở lợi ích thu được từ ngoại thương đó sẽ đẩy mạnh sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động chủ yếu của ngoại thương, nó mang
tính chất tất yếu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế. Do
những điều kiện khác nhau, mỗi quốc gia có lợi thế về những lĩnh vực này
và bất lợi về những lĩnh vực khác trong việc sản xuất những hàng hóa khác
nhau. Để có thể dung hòa được nguy cơ và lợi thế, tạo ra sự cân bằng trong
quá trình sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia phải tiến hành trao đổi với
nhau, bán những gì mình có thể sản xuất nhiều hơn nhu cầu trong nước và
phải mua những gi mình chưa có hoặc không có khả năng sản xuất từ những
nước khác.
Tuy nhiên, hoạt động xuất nhập khẩu không nhất thiết chỉ diễn ra ở
những quốc gia có lợi thế về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, các quốc gia
không có lợi thế về điều kiện như nhân lực, tài chính, tài nguyên thiên
nhiên, công nghệ, thông qua hoạt động trao đổi thương mại quốc tế cũng sẽ
thu được nhiều lợi ích, tạo điều kiện phát triển kinh tế trong nước.
Tính tất yếu của hoạt động xuất nhập khẩu đã được chứng minh rất rõ
thông qua lý thuyết về lợi thế so sánh của D.Ricardo. Theo đó, nếu một
nước có hiệu quả thấp hơn so với các nước khác trong việc sản xuất hầu hết
các loại sản phẩm vẫn cần phải tham gia hoạt động xuất nhập khẩu vì có thể
tạo ra lợi ích không nhỏ mà nếu bỏ qua quốc gia có thể mất cơ hội phát
triển. Nói cách khác, trong những điểm bất lợi nhất vẫn có thể tìm ra những
điểm có lợi nhất để khai thác. Khi tiến hành xuất khẩu, quốc gia có hiệu quả
thấp trong việc sản xuất ra tất cả cá loại hàng hóa sẽ có thể chuyên môn hóa
9
vào sản xuất loại hàng hóa ít bất lợi nhất để trao đổi với các quốc gia khác
và nhập về những hàng hóa mà việc sản xuất ra nó là bất lợi nhất để tiết
kiệm được những nguồn lực của mình và thúc đẩy sự phát triển của sản xuất
trong nước.

Tại các nước đang phát triển và chậm phát triển, một trong những
nguyên nhân thiếu vốn trong quá trình phát triển là do ít có cơ hội xuất
khẩu. Không xuất khẩu được một mặt không thu được ngoại tệ từ hoạt động
này, mặt khác cac nhà đầu tư cũng không ưu thích đầu tư vào quốc gia mà
họ không thấy có khả năng phát triển xuất khẩu do đó lại càng thiếu vốn
hơn nữa.
Thứ hai, xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển.
Các cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại đẫ làm cho cơ cấu
sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi một cách mạnh mẽ.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa từ nông
nghiệp sang công nghiệp là phù hợp với xu thế tất yếu của nền kinh tế thế
giới.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Một là, xuất khẩu chỉ là tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt
quá nhu cầu nội địa. Theo cách hiểu này thì đối với những quốc gia lạc hậu
và chậm phát triển khi mà sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ
thụ động chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ ở quy mô nhỏ và tăng
trưởng chậm, sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp.
11
Hai là, coi thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất.
Quan điểm này chính là xuất phát từ quan điểm coi nhu cầu của thị trường
thế giới là nhu cầu cần đáp ứng để tổ chức sản xuất. Điều đó tác động tích
cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác
động này thể hiện ở chỗ:
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp cùng có cơ hội phát
triển thuận lợi. Ví dụ, khi phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm
xuất khẩu có thể kéo theo sự phát triển của công nghiệp chế tạo thiết bị phục
vụ nó hoặc nếu phát triển ngành giầy dép xuất khẩu thì các ngành sản xuất

xuất khẩu đã trở thành vấn đề được quan tâm hàng đẩu trong chiến lược
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nói chung cũng như của Việt Nam nói
riêng.
1.2. Đặc điểm của hình thức xuất khẩu khoáng sản
1.2.1. Quy định về việc Xuất khẩu Khoáng sản
Theo Thông tư 02/2006/TT-BCN của Bộ Công Nghiệp về việc xuất
khẩu Khoáng sản thì :
1. Khoáng sản phải có đủ các điều kiện và tiêu chuẩn sau mới được
phép xuất khẩu:
a. Được khai thác từ các mỏ không nằm trong quy hoạch và cân đối
phục vụ cho chế biến trong nước.
b. Đã qua chế biến đạt tiêu chuẩn chất lượng và điều kiện quy định tại
Danh mục kèm theo Thông tư này. Tiêu chuẩn chất lượng của các loại
khoáng sản có yêu cầu hàm lượng % kim loại phải được các phòng thí
nghiệm đạt tiêu chuẩn VILAS xác nhận.
13
2. Doanh nghiệp được phép xuất khẩu khoáng sản là doanh nghiệp được
thành lập theo quy định của pháp luật, có đủ điều kiện theo quy định của
Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý
mua bán hàng hóa với nước ngoài và phải đáp ứng được một trong các điều
kiện sau:
a. Có Giấy phép khai thác khoáng sản hoặc Giấy phép khai thác tận thu
khoáng sản còn hiệu lực do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
b. Có Giấy phép chế biến khoáng sản còn hiệu lực, có Hợp đồng mua
khoáng sản để chế biến với tổ chức, cá nhân có Giấy phép khai thác khoáng
sản hoặc Giấy phép khai thác tận thu khoáng sản còn hiệu lực.
c. Có Hợp đồng mua khoáng sản hoặc Hợp đồng ủy thác xuất khẩu
khoáng sản với tổ chức, cá nhân có Giấy phép khai thác khoáng sản, Giấy
phép khai thác tận thu khoáng sản hoặc Giấy phép chế biến khoáng sản còn
hiệu lực.

Loại khoáng sản xuất
khẩu
Hàm lượng Thời hạn, điều kiện
(1) (2) (3) (4)
1 Tinh quặng Cromit ≥ 46% Cr
2
0
3
15
2 Sản phẩm từ quặng Titan
- Tinh quặng Ilmenite (sa
khoáng)
≥ 52% Ti0
2
(< 57%)
Chỉ được xuất khẩu
đến hết 2008
- Tinh quặng Ilmenite
(gốc)
≥ 48% Ti0
2
Mỏ Cây Châm (Thái
Nguyên) chỉ được xuất
khẩu đến hết 2008
- Tinh quặng Zircon ≥ 65% Chỉ được xuất khẩu
đến hết tháng 4 năm
2007
- Tinh quặng Rutile ≥ 83% Ti0
2
- Tinh quặng Monazite ≥ 57% Re0

0
3
Đối với các mỏ nằm
ngoài khu vực Tây
Nguyên
≥ 48% Al
2
0
3
Đối với mỏ Bảo Lộc,
Lâm Đồng (Cty
TNHH 1 thành viên
HC cơ bản Miền Nam)
chỉ được xuất khẩu
đến hết 2006.
12 Quặng cao lanh
pyrophyllite
≥ 17% Al
2
0
3
13 Quặng fluorit ≥ 65% CaF
2
14 Cát trắng Đã qua tuyển rửa Trừ phần mỏ Cam
Ranh (Khánh Hòa) do
Bộ Xây dựng quản lý
Loại II; đã qua
tuyển rửa < 98%
SiO
2

của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác,
chế biến và sử dụng quặng titan giai đoạn 2007-2015, định hướng đến năm
2025.
Đối với quặng cromit mangan: Quyết định số 33/2007/QĐ-BCN ngày
26/7/2007 của Bộ Công nghiệp về việc phê duyệt quy hoạch phân vùng
thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng cromit, mangan giai đoạn
2007-2015, định hướng đến năm 2025.
Khi doanh nghiệp xuất khẩu khoáng sản xuất trình giấy tờ chứng minh
đáp ứng đủ điều kiện nêu tại Điểm II.2 Thông tư số 02/2006/TT-BCN ngày
14/4/2006 của Bộ Công nghiệp, cơ quan Hải quan kiểm tra, đối chiếu nguồn
gốc khoáng sản ghi trên Giấy phép với danh mục các mỏ, điểm mỏ của Quy
hoạch khoáng sản đã được phê duyệt tương ứng để xác định mỏ có nằm
trong quy hoạch và cân đối phục vụ cho chế biến trong nước hay không.
Việc này đã được Bộ Công nghiệp giải thích tại điểm 1 công văn số
18
4821/BCN-CLH ngày 24/8/2006 của Bộ Công nghiệp (Tổng cục Hải quan
đã sao gửi tại Công văn số 4339/SY-VP ngày 20/9/2006).
1.3. Tổng quan chung về Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Khoáng
sản
1.3.1. Sự hình thành và phát triển
Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản là đơn vị kinh tế quốc doanh trực
thuộc Bộ thương nghiệp được thành lập vào ngày 05/03/1956, là một trong
những đơn vị được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu sớm nhất trong ngành
thương nghiệp của Việt Nam.
Trước đây, với vai trò là một tổng công ty làm nhiệm vụ xuất nhập
khẩu chủ yếu phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội
chủ nghĩa. Vào thời gian này phạm vi và quy mô hoạt động kinh doanh của
công ty rất lớn, có thể nói mặt hàng kinh doanh của công ty bao gồm tất cả
các lĩnh vực như: than, xi măng, khoáng sản, xăng dầu, hóa chất, phân bón,
sắt thanh lý, tân dược và thiết bị y tế. Có thể nói đây là giai đoạn hoạt động

ngày 21/04/1994 tại Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội.
Giấy phép đăng kí kinh doanh số 11600/GP ngày 25/05/1993 của Bộ
Thương mại. Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản vẫn lấy tên cũ với tên giao
dịch quốc tế là:
Vietnam National Minerals Export-Import Corporation
Tên viết tắt là: MINEXPORT
Trụ sở chính tại: 35 Hai Bà Trưng – 28 Bà Triệu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh: 35-37 Bến Chương Dương,
quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, với tên giao dịch quốc tế là MINEXPORT-
Sài Gòn.
20
Đại diện giao nhận tài Hải Phòng: 18 đường Cù Chính Lan, Hải
Phòng, với tên giao dịch là MINEXPORT-Hải Phòng.
Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản là doanh nghiệp Nhà nước, trực
thuộc Bộ Thương mại, thực hiện các chế độ hạch toán độc lập và có tài
khoản tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam VIETCOMBANK và
ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu EXIMBANK. Các mặt hàng kinh doanh
xuất nhập khẩu nằm trong danh mục hàng hóa đã được Bộ Thương mại phê
duyệt và phù hợp với chính sách quy định của Nhà nước về xuất nhập khẩu.
1.3.2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
1.3.2.1. Chức năng
Công ty xuất nhập khẩu có các chức năng sau:
- Tổ chức xuất nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng theo giấy phép kinh
doanh của công ty và phù hợp với quy chế của Nhà nước hiện hành.
- Tổ chức tiêu thụ hàng hóa trong nước.
- Liên doanh, liên kết, đầu tư cho sản xuất các mặt hàng trong giấy
phép với các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước.
- Nhận xuất nhập khẩu ủy thác cho các đơn vị kinh tế trong và ngoài
nước theo yêu cầu.
1.3.2.2. Nhiệm vụ

kinh doanh. Các trưởng phòng chịu trách nhiệm của phòng mình
trước ban giám đốc.
- Chi nhánh tại HCM cũng có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu
bao gồm 2 phòng: phòng nghiệp vụ và phòng quản lý.
22
- Đại diện giao nhận tại Hải Phòng làm nhiệm vụ giao nhận hàng
của công ty cho các đơn vị bốc dỡ của cảng.
- Cửa hàng kinh doanh sản phẩm điện tử. Trước đây, công ty chỉ có
cửa hàng kinh doanh điện tử SONY liên doanh với SONY Việt
Nam, nhưng đến cuối năm 1999, công ty đã cải tạo lại cơ sở vật
chất và cho LG thuê gian hàng tại 35 Hai Bà Trưng và một cửa
hàng tại 28 Bà Triệu kinh doanh sản phẩm điện tử của Trung
Quốc.
- Một xí nghiệp sản xuất chế biến phân bón và phục vụ nông nghiệp
đóng tại Gia Lâm, Hà Nội.
• Khối quản lý bao gồm 2 phòng:
Phòng tổng hợp và phòng kế toán tài vụ. Phòng tổng hợp bao gồm 2 phòng
là phòng tổ chức cán bộ và phòng hành chính quản trị.
1.3.3.2. Nhiệm vụ của các phòng ban
• Phòng kê toán tài vụ
- Phòng kế toán tài vụ có nhiệm vụ khai thác mọi nguồn vốn nhằm
đảm bảo vốn cho các phòng kinh doanh hoạt động.
- Tham mưu cho giám đốc xét duyệt phương án kinh doanh để đảm
bảo đủ chi phí an toàn vốn và có lãi.
- Chủ động trong việc thực hiện các nghĩa vụ đối với ngân sách nhà
nước.
- Theo dõi tình hình kinh doanh, phát hiện và báo cáo với giám đốc
kịp thời những lãng phí không cần thiết và những vị phạm tài sản
trong kinh doanh.
- Kiểm tra số liệu của từng chứng từ thanh toán, nếu kí duyệt phải

24
• Phòng kinh doanh
- Trên cơ sở các mặt hàng được kinh doanh theo chỉ tiêu kim ngạch
được phân bổ đầu năm, trưởng phòng kinh doanh nhận chỉ tiêu và được sử
dụng số lao động hiện có của phòng để thực hiện kinh doanh, đồng thời chịu
trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của phòng mình trước giám đốc.
- Các trưởng phòng kinh doanh tiến hành nghiên cứu kĩ khách hàng
về đăng kí kinh doanh, khả năng vốn để tiến hành kinh doanh trên cơ sở
phương án được xét duyệt, chịu trách nhiệm thanh toán tiền hàng, khiếu nại,
bồi thường, đảm bảo an toàn vốn, tiết kiệm chi phí, hạn chế thấp nhất những
rủi ro có thể xảy ra.
- Các phòng được dùng vốn của công ty theo quy định, được công ty
bảo lãnh để vay vốn ngân hàng theo khế ước vay. Các phòng phải chịu trách
nhiệm bảo toàn, phát triển vốn, trả lãi suất tiền vay và sử dụng vốn đúng
mục đích, có hiệu quả. Trong mọi trường hợp các phòng dùng vốn của ngân
hàng, vốn tự bổ sung đều phải trả quyền sử dụng vốn bằng lãi suất vay ngân
hàng tại Việt Nam.
• Đối với đại diện, chi nhánh.
- Đại diện chi nhánh tại Hải Phòng: làm nhiệm vụ giao nhận hàng,
mọi chi phí phát sinh đều có dự trù và báo cáo thông qua phòng kế toán tài
vụ và giám đốc phê duyệt.
- Đối với chi nhánh tại HCM: hạch toán phụ thuộc, tự chị trách nhiệm
về kinh doanh, tài chính, công nợ và các khoản với ngân sách Nhà nước,
việc mua sắm tài sản cố định, sửa chữa lớn phải có báo cáo công ty duyệt
trước khi thực hiện.
1.3.4. Các nguồn lực của Công ty
25

Trích đoạn Giá trị kim ngạch Xuất khẩu Đánh giá khả năng và những lợi thế cạnh tranh của Công ty Định hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới Các giải pháp đối với bản thân Công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status