THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN LILAMA HÀ NỘI.
1. Khái Quát chung về công ty cổ phần lilama hà Nội.
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Công ty cổ phần LILAMA Hà nội tiền thân là Công ty Lắp Máy và
Xây Dựng Hà Nội (Viết tắt là LILAMA Ha Noi) là Doanh nghiệp Nhà nước,
thuộc Tổng công ty Lắp Máy Việt Nam (LILAMA), được chuyển từ Công ty
Lắp máy và Xây dựng Hà nội thành Công ty cổ phần LILAMA Hà nội tháng
2 năm 2005, có giấy phép đăng ký kinh doanh số 0103007179, do Uỷ ban Kế
hoạch Thành phố Hà Nội cấp.
LILAMA Hà Nội là doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân hoạt
động theo chế độ hạch toán kinh tế độc lập, có tài khoản riêng tại ngân hàng,
có con dấu riêng để giao dịch theo điều lệ tổ chức hoạt động của công ty đã
được Tổng công ty và Bộ Xây dựng phê duyệt.
Trụ sở của Công ty đóng tại số 52 đường Lĩnh Nam, phường Mai
Động, quận Hoàng Mai , thành phố Hà Nội.
Điện thoại: 04.8625813.
Hình thành trong thời kỳ bao cấp và trưởng thành trong nền kinh
tế thị trường, quá trình hình thành và phát triển của công ty có thể chia
làm 4 giai đoạn cơ bản:
Từ 1960 đến 1975: Trong thời kỳ này hoạt động của công ty chủ yếu
theo kế hoạch của nhà nước và phục vụ chiến tranh, hiệu quả kinh tế chưa
được coi trọng.
Từ 1975 đến 1988: Đất nước mới được giải phóng, niềm vui Nam Bắc
sum vầy giấy lên trong cả nước không khí thi đua tăng gia sản xuất . Tuy
nhiên, do một số hạn chế về nhận thức, áp dụng mô hình kinh tế của Liên xô
một cách máy móc, nền kinh tế chúng ta lâm vào khủng hoảng. Hầu hết các
1
11
công ty nhà nước làm ăn không có hiệu quả hoặc đạt hiệu quả thấp do thiếu
tính tự lập. Tuy nhiên công ty vẫn đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt
tích luỹ được, với sự phấn đấu bền bỉ không ngừng nghỉ của tập thể cán bộ
công nhân viên toàn công ty, LILAMA Hà Nội đã xây dựng cho mình được
một tên tuổi không chỉ với bạn bè trong nước mà còn với bạn bè quốc tế, đặc
biệt trong lĩnh vực xây lắp công nghiệp. Sự tín nhiệm của các bạn bè, niềm tin
của Đảng và Nhà nước với công ty thể hiện qua hàng chục những tấm Huân
chương và Bằng khen được Nhà nước trao tặng và hàng trăm công trình xây
dựng trên mọi miền đất nước được đánh giá cao: như công trình Nhà máy sợi
Nha trang, Huế, dệt 8/3, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Lăng Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Nhà máy nhiệt điện Uông bí... đó là những phần thưởng vô giá
mà tập thể cán bộ công nhân viên của công ty đã nhận được .
Năm 2005, công ty cũng đã đầu tư và chính thức đưa vào sản xuất nhà
máy sản xuất thép mạ màu LILAMA tại khu công nghiệp Quang Minh tỉnh
Vĩnh Phúc, cách trung tâm Hà Nội 20km trên đường cao tốc Thăng Long Nội
Bài. Với công nghệ hiện đại của Cộng hoà liên bang Đức, Italia, hoạt động
với công suất 130.000 tấn/năm. Sản phẩm là thép mạ kẽm, galfan, mạ màu
với chất lượng tiêu chuẩn tốt nhất hiện nay, đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Công ty luôn luôn theo đuổi mục tiêu không những đảm bảo chất lượng
công trình mà còn cung cấp cho khách hàng và nhà đầu tư những sản phẩm
trọn gói, chất lượng ngày càng cao hơn, từ khâu thiết kế, chế tạo kết cấu thép,
lắp đặt, xây dựng cho đến cung cấp những sản phẩm thép mạ màu tới mọi
công trình trong và ngoài nước. Hiện nay công ty đã hoàn thành việc xây
dựng hệ thống phân phối sản phẩm trên khắp các tỉnh thành trong cả nước và
tiến tới sẽ là thị trường các nước trong khu vực ASEAN và thị trường Châu
âu.
3
33
1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của công ty.
1.2.1. Chức năng của công ty.
Theo giấy phép kinh doanh và theo điều lệ hoạt động, LILAMA Hà
Nội có chức năng sau:
các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
- Được mở TK tại ngân hàng và được thê chấp giá trị quyền sử dụng
đất gắn liền với tài sản thuộc sở hữu của công ty để vay vốn phục vụ nhiệm
vụ kinh doanh của công ty; phát hành, chuyển nhượng, bán cổ phiếu, trái
phiếu theo quy định của pháp luật và luật tổ chức công ty Cổ phần. Được
hưởng các ưu đãi về thuế với các công ty mới cổ phần hóa của Nhà nước.
Tuyển, thuê, sử dụng lao động, thực hiện các hình thức trả lương, thưởng theo
yêu cầu sản xuất kinh doanh và phù hợp với các quy định của Bộ luật lao
động.
1.3. Đặc điểm về sản xuất kinh doanh , quy trình công nghệ và quy
trình tổ chức thi công một dự án xây dựng .
1.3.1. Đặc điểm về sản xuất kinh doanh.
Công ty Cổ phần LILAMA Hà Nội là đơn vị SXKD với đặc điểm cơ
bản là tạo ra TSCĐ thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng lại, cải
tạo nhà cửa, đường xá ...
Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, hạng mục công trình,
vật kiến trúc ... có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính chất đơn chiếc,
thời gian sản xuất lâu dài, được sản xuất theo đơn đặt hàng. Các mẫu công
trình hoặc HMCT thường được khách hàng hợp đồng trước thông qua thiết kế
kỹ thuật. Giá trị công trình, HMCT được xác định dựa trên định mức chi phí
và giá trị dự toán. Chính từ đặc điểm đó đòi hỏi việc quản lý và hạch toán sản
phẩm xây lắp phải lập dự toán ( dự toán thiết kế, dự toán thi công). Trong quá
5
55
trình thi công phải luôn so sánh giữa giá dự toán và thực tế để có những điều
chỉnh kịp thời, tiết kiệm tối đa chi phí cho thi công nhưng vẫn luôn phải đảm
bảo chất lượng công trình. Và do xây lắp có rủi ro lớn cả cho công nhân thi
công và bản thân công trình nên nhất thiết nên mua bảo hiểm cho các công
trình có giá trị lớn.
Sản phẩm xây lắp luôn được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc theo giá
Dự toán chi phí đấu thầu được lập trên cơ sở tổng hợp thông tin về chi phí
nguyên vật liệu, nhân công tại thời điểm đó, đồng thời kết hợp cả với các chi
phí giao dịch, rủi ro, chi phí cơ hội khác, lãi định mức... Giá dự toán này sẽ là
căn cứ để công ty đưa ra giá thầu.
Giá trị dự toán từng Giá thành dự toán
công trình, hạng mục = từng công trình, hạng + Lãi định mức
công trình mục công trình
Nếu công ty trúng thầu, hai bên sẽ chính thức ký kết hợp đồng kinh tế,
thoả thuận thời gian thi công, thời điểm giao sản phẩm, kế hoạch bảo hành
công trình và các thảo thuận khác giữa hai bên.
Như vậy có thể khái quát quy trình công nghệ của công ty như sau:
1.3.3. Quy trình tổ chức thi công một dự án xây dựng.
Chuẩn bị về mặt tổ chức: về phía công ty, sau khi có quết định trúng
thầu, giám đốc công ty sẽ bổ nhiệm người làm chủ nhiệm công trình, người
này sẽ có trách nhiệm thay mặt công ty giải quyết tất cả các vấn đề trên công
trường.
7
77
Trên cơ sở bàn bạc đề xuất với ban lãnh đạo, Chủ nhiệm công trình sẽ
thành lập một bộ máy công trường, lựa chọn các đội trưởng, các các bộ kỹ
thuật, thủ kho, trắc đạc thợ máy, bảo vệ... là những người sẽ trực tiếp tham gia
thi công trên công trường.
Trên cơ sở tiến độ và mặt bằng thi công công trình, Chủ nhiệm công
trình cùng các đội trưởng sẽ phác thảo chuẩn bị nhân lực tham gia giai đoạn
đầu thi công và dự kiến các tổ, đội sẽ tham gia giai đoạn hoàn thiện công
trình.
Chuẩn bị biện pháp thi công: Bên cạnh việc chuẩn bị về cán bộ quản lý
và nhân lực thi công trên công trường, Chủ nhiệm công trình sẽ chỉ đạo việc
lập biện pháp thi công chi tiết. Người tiến hành lập biện pháp thi công phải là
cán bộ kỹ thuật, họ tiến hành nghiên cứu bản vẽ kỹ thuật và trên cơ sở đó tìm
được những thông tin cơ bản đó, Chủ nhiệm công trình có những phác thảo và
trình bên A duyệt, mặt bằng thi công phải bố trí sao cho khoa học, hợp lý từ
khu vực để vật liệu, máy thi công... đến khu vực văn phòng cho cán bộ quản
lý.
Chuẩn bị về cơ cấu tổ chức: Đối với các công trình chỉ có một đơn vị
tham gia thi công thỉ Chủ nhiệm công trình sẽ chịu trách nhiệm về tất cả các
vấn đề cũng như công tác điều hành trên công trường.
Tuy nhiên, nếu như có nhiều đơn vị thi công cho từng hạng mục công
trình thì nhất thiết phải lập ra một ban điều hành chung cho công trường.
Ban điều hành chung này thường xuyên họp giao ban theo thời gian
hợp lý nhất( ngày, tuần...).
Ban quản lý công trường chịu trách nhiệm quản lý và giải quyết tất cả
các vấn đề trên công trường, kể cả các vấn đề nảy sinh không nằm trong dự
tính. Các công việc cụ thể có thể phân cho từng cá nhân đảm trách, họ sẽ chịu
9
99
trách nhiệm về phần hành của mình trước ban quản lý và trước công ty. Công
tác bố trí lao động và kiểm tra chất lượng công trình đặc biệt coi trọng. Nhân
công phải sử dụng cho phù hợp, tránh lẵng phí không cần thiết còn chất lượng
lượng công trình phải kiểm tra thường xuyên và có văn bản lưu trữ.
Bảo quản và bàn giao công trình: sau khi công trình hoàn thành, công
ty tiến hành bàn giao cho bên A, lưu giữ những tài liệu cần thiết trong thời
gian bảo hành, sửa chữa các yêu cầu theo yêu cầu của khách hành nếu đó là
lỗi do công ty.
Trong thời gian bảo hành, công ty phải cử cán bộ kỹ thuật đến kiểm tra
công trình, xem xét các thông số kỹ thuật, kiểm tra về độ lún công trình và so
sánh với thiết kế.
Hết thời gian bảo hành, công ty tiến hành thanh lý hợp đồng.
1.4. Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Công ty.
• Theo giấy phép kinh doanh, Công ty sản xuất kinh doanh trong các
Mỗi chức danh, bộ phận được giao một số nhiệm vụ, quyền hạn và thực giải
quyết các công việc trong phạm vi quyền hạn của mình. Tổ chức quản lý như
vậy vừa giảm bớt các thủ tục hành chính khi làm việc (tránh phải trình báo
nhiều lần mà chỉ làm việc với cấp trên) mà còn phân công phân nhiệm rõ
ràng, nâng cao hiệu quả công việc.
11
1111
1.5.2. Mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ phận.
Khái quát chung về bộ máy quản lý của công ty:
Bộ máy quản lý của công ty bao gồm: Đại hội cổ đông, Hội đồng quản
trị, Ban kiểm soát, Giám đốc điều hành công ty.
Đại hội cổ đông: Là cơ quan quyết định cao nhất của công ty. ĐHCĐ
có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đông quản trị, thành
viên Ban kiểm soát; xem xét và xử lý các vi phạm của HĐQT và Ban kiểm
soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông của công ty; quyết định tổ chức lại
và giải thể công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; thông qua định hướng
phát triển của công ty.
Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý của công ty, có toàn quyền nhân
danh công ty quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của
công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Hội
đồng quản trị có 5 thành viên bao gồm : Chủ tịch, phó chủ tịch và các uỷ viên.
Giám đốc điều hành : Là người đại diện pháp nhân của công ty, điều
hành hoạt động hàng ngày của công ty theo quy định của điều lệ. Giám đốc
điều hành chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, Đại hội cổ đông và trước
pháp luật về trách nhiệm quản lý, điều hành công ty.
Giúp việc giám đốc có 3 phó giám đốc, kế toán trưởng do chủ tịch
HĐQT hoặc Tổng giám đốc giới thiệu, Hội đồng quản trị bổ nhiệm và miễn
nhiệm. khởi kiện các vụ án có liên quan đến quyền lợi của công ty do HĐQT
uỷ quyền.
Ban kiểm soát: Là tổ chức thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt
DÂY TRUYỀN MẠ KẼM
DÂY TRUYỀN MẠ MÀU
P. TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN
P. CUNG ỨNG VẬT TƯ
P. QA - QC
P. KỸ THUẬT
P. HÀNH CHÍNH
X. SỬA CHỮA BẢO DƯỠNG
BAN KIỂM SOÁT
XN HÀN
Sơ đồ 1:
Sơ đồ bộ máy quản lý công ty
14
1414
1.6. Một số chỉ tiêu tài chính của công ty.
1.6.1. Kết quả hoạt động kinh doanh trong các năm gần đây.
Bảng 1:
Báo cáo kết quả kinh doanh 3 năm gần đây
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Doanh thu thuần 124122212647
13021541953
7 135539872120
Giá vốn HB 116319552139
12063792811
2
12194153794
3
Lợi nhuận gộp 7802660508 9577491425 13598334177
DT HĐ tài chính 465660870 625916327 715927315
CP HĐ tài chính 3123111478 415637219 4166579822
1.7.1. Tổ chức bộ máy kế toán.
1.7.1.1. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán.
Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội là đơn vị xây lắp, hoạt động sản
xuất kinh doanh diễn ra trên địa bàn rộng chính vì vậy đã ảnh hưởng đến công
tác kế toán tại đơn vị. Hơn nữa, công ty lại có nhiều đơn vị trực thuộc nên
việc chuyển các báo cáo, số liệu của các đơn vị trực thuộc, các công trình về
công ty hàng ngày là điều rất khó khăn. Để khắc phục nhược điểm này, công
ty đã tổ chức các phòng kế toán và nhân viên kế toán tại các khu vực này, tuy
nhiên, các phòng kế toán này chỉ có nhiệm vụ tập hợp số liệu rồi gửi về phòng
kế toán trung tâm chứ không có nhiệm vụ ghi chép và hạch toán. Về cơ bản,
công ty vẫn áp dụng mô hình kế toán tập trung.
Phòng kế toán tại công ty có nhiệm vụ xử lý tất cả các thông tin kế toán
tại đơn vị từ khâu đầu đến khâu cuối.
16
1616
BộphậnKTTSCĐBộ phậnKTtổnghợpBộphậnKTtiềnlương BộphậnthủquỹBộphậnKTthanhtoán
Kế toán trưởng
BộphậnKTvậttư
Nhân viên kinh tế ở các đội, các phòng của các đơn vị trực thuộc
Thu thập số liệu kế toán từ các đơn vị trực thuộc và từ các công trình về
công ty để tiến hành ghi sổ, tính toán chi phí kinh doanh, lập các báo cáo
chung cho công ty theo quy đinh của pháp luật cũng nhu các báo cáo quản trị,
các báo cáo cần thiết theo yêu cầu của các nhà quản lý.
Phòng kế toán tại công ty con, các tổ đội xây dựng có nhiệm vụ tập
trung các số liệu liên quan hàng ngày của đơn vị mình chuyển về công ty định
kỳ, thực hiện một số công việc theo quy định của công ty.
Sơ đồ 02:
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
1.7.1.2. Nhiệm vụ của các bộ phận trong bộ máy kế toán.
Với mô hình tổ chức như trên, phòng kế toán được biên chế gọn nhẹ
hình tồn kho vật tư cho các phòng ban có liên quan.
18
1818
Bộ phận Kế toán thanh toán: Kế toán thanh toán chịu trách nhiệm
theo dõi tình hình thanh toán với khách hàng, thanh toán với các nhà cung
cấp, và các khoản thanh toán với Nhà nước, và các khoản nợ, khoản vay khác
- chi tiết theo từng đối tượng công nợ.
Thủ quỹ: Thủ quỹ có nhiệm vụ theo dõi về tiền mặt tại quỹ công ty,
các khoản thu, chi tiền mặt, tiền mặt tồn quỹ; tiền gửi ngân hàng, số dư tiền
gửi ngân hàng.
1.7.2. Mối quan hệ giữa bộ máy kế toán và với cấp trên và cấp
dưới.
Phòng kế toán của công ty được tổ chức theo mô hình kế toán tập
trung. Do vậy, phòng kế toán công ty có nhiệm vụ điều hành chung tất cả các
bộ phận kế 7oán ở các đơn vị trực thuộc, hướng dẫn thu thập số liệu, ghi
chép...chuyển số liệu về công ty.
Còn đối với các phòng ban khác trong công ty, có thể sử dụng số liệu
của các phòng ban này để hỗ trợ cho công việc của mình, chẳng hạn có thể
dùng danh sách nhân công do phòng Tổ chức quản lý để tiến hành trả lương,
tránh bỏ sót... Phòng kế toán cũng có nhiệm vụ cung cấp các thông tin cho các
phòng ban khác khi có yêu cầu.
Đối với cấp trên, phòng kế toán chịu sự điều hành trực tiếp của các cấp
trên, cung cấp các số liệu khi có yêu cầu.
1.7.3. Đặc điểm vận dụng chế độ kế toán tại đơn vị.
1.7.3.1. Chính sách kế toán áp dụng tại công ty.
Trước đây, Công ty cổ phần LILAMA Hà Nội là một công ty nhà nước,
trực thuộc Tổng công ty Lắp máy Việt Nam. Vì vậy, chế độ kế toán công ty
áp dụng là chế độ kế toán ban hành theo Quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT
ngày 01/11/1995 của Bộ Tài chính. Sau khi chuyển đổi sang hình thức công
ty cổ phần, công ty vẫn áp dụng chế độ kế toán này. Cụ thể:
2020
Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp là bộ phận cấu thành quan
trọng nhất trong toàn bộ hệ thống chế độ kế toán của doanh nghiệp. Bắt đầu
từ ngày 1/1/1999 tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều
phải thực hiện việc áp dụng thống nhất hệ thống tài khoản kế toán ban hành
theo quyết định số 1864/ QĐ-BTC ngày 16/12/1198 và đã sửa đổi bổ sung
theo thông tư số 89/ 2002/ TT-BTC của Bộ tài chính.
Hệ thống TKDN được sắp xếp và phân loại theo nguyên tắc đảm bảo
tính cân đối giữa TS và NV, tính cân đối và phù hợp giữa chi phí và thu nhập
trong HĐKD; sắp xếp TS căn cứ vào mức lưu động giảm dần của TS; đảm
bảo tính nhất quán về nội dung kinh tế của các loại TK và từng TK kế toán
( TK kế toán được ký hiệu và mã hoá theo nguyên tắc thống nhất ).
Mặc dù đã chuyển đổi sang hình thức công ty Cổ phần, tuy nhiên
LILAMA Hà Nội vẫn áp dụng hệ thống TK kế toán tài chính doanh nghiệp do
Bộ tài chính ban hành và chi tiết các TK theo quy định về mã hoá TK của
công ty.
Một số tài khoản mà công ty không sử dụng là TK113, TK144,
TK151, TK161, TK212, TK213,TK222, TK 623...
TK 152 không chi tiết theo từng loại, TK 154 được chi tiết theo từng
công trình.
1.7.3.3. Hệ thống chứng từ.
Công ty Cổ phần LILAMA Hà Nội là doanh nghiệp có quy mô lớn, các
nghiệp vụ kinh tế cũng diễn ra khá phong phú, bao gồm cả hoạt động xây
dựng, cả hoạt động xản xuất kinh doanh nên hệ thống chứng từ cũng khá
phong phú và đa dạng.
Công ty sử dụng hệ thống chứng từ theo mẫu của Bộ tài chính, ngoài ra
cũng có một số chứng từ có những sửa đổi cho phù hợp với hoạt động của
21
2121
(6)
+Sổ chi tiết: Sổ chi tiết phải trả công nhân viên, sổ chi tiết TS, sổ chi
tiết chi phí ( Chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu, chi phí sản xuất
chung, chi phí kinh doanh dở dang ), sổ tổng hợp chi tiết...
Các mẫu sổ sử dụng theo mẫu sổ do Bộ tài chính ban hành theo Quyết
đinh 1411 TC/ QĐ / CĐKT.
Trình tự ghi sổ Nhật ký chung như sau:
Sơ đồ 03:
Trình tự ghi sổ Nhật ký chung
22
2222
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu kiểm tra
Kỳ hạch toán của Công ty là theo từng quý: cuối quý, phòng kế
toán tiến hành tổng hợp số liệu và lập các báo cáo theo quy định.
Hiện nay công ty sử dụng phần mềm kế toán Fast2005. Nhờ có hệ
thống kế toán máy này công tác kế toán của đơn vị được hỗ trợ rất nhiều, các
nhân viên kế toán chỉ phải nhập các dữ liệu đầu vào, sau đó, máy tính sẽ cho
phép kết xuất ra các loại báo cáo khác nhau.
1.7.3.5. Hệ thống báo cáo tài chính.
Hệ thống báo cáo tài chính mà công ty lập bao gồm các báo cáo theo
QĐ số 167/ 2000/ QĐ-BTC ngày 25/ 10/ 2000 của Bộ trưởng Bộ tài chính.
+ Bảng cân đối (Mẫu B 01-DN)
+ Báo cáo kết quả kinh doanh (Mẫu B 02-DN)
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu B 03-DN)
+ Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu B 09-DN)
23
2323
+ Ngoài ra công ty còn có hệ thống báo cáo quản trị lập theo yêu cầu
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Chính vì vậy,
các doanh nghiệp phải có những chính sách quản lý chi phí giá thành hợp lý,
tổ chức phương pháp hạch toán chi phí giá thành thật khoa học để nâng cao
hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp, để có thể cạnh tranh, tồn tại và phát
triển.
2.2. Nội dung cơ bản kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại
công ty cổ phần LILAMA Hà Nội.
2.2.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm.
Để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành một cách chính xác,
khoa học, kịp thời, đòi hỏi việc đầu tiên mà các nhà quản lý phải làm là xác
định đối tượng hạch toán chi phí và đối tượng giá thành sản phẩm. Bởi vì nó
quyết định đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp và trở thành một vấn
đề có tầm quan trọng đặc biệt cả trong lý thuyết và thực tiễn hạch toán kế
toán. Tổ chức hạch toán quá trình sản xuất bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau
và có quan hệ mật thiết với nhau. Đó là quá trình hạch toán chi phí sản xuất
phát sinh theo từng sản phẩm, nhóm sản phẩm... Và giai đoạn tính giá thành
sản phẩm, chi tiết sản phẩm theo đơn đặt hàng đã hoàn thành.
Như vậy, xác định đối tượng tập hợp chi phí thực chất là xác định nơi
phát sinh chi phí. Còn xác định đối tượng hạch toán giá thành là xác định sản
phẩm hoàn thành mà cần tính giá thành đơn vị.
Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí và đối tượng tính giá thành
sản phẩm phụ thuộc vào nhiều các yếu tố khác nhau. Chẳng hạn như quy trình
công nghệ, đặc điểm sản xuất, đặc điểm sản phẩm, yêu cầu, trình độ tổ chức
quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh.
25
2525