Trường Đại Học Trà Vinh Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản
GVHD: Phan Thị Thanh Trúc 1 SVTH: Giang Duy Nhứt
Phần 1
GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, ngành thủy sản đã có những bước phát triển nhanh và
ổn định, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Tỷ
trọng của thủy sản trong khối nông, lâm và ngư nghiệp và trong nền kinh tế quốc
dân tăng dần qua các năm. Ngành thủy sản đã trở thành ngành kinh tế quan trọng,
góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn, tham gia xóa đói giảm
nghèo, cải thiện cuộc sống của đa số cộng đồng cư dân.
Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam là một nước có tiềm năng phát triển và
hợp tác rất lớn về lĩnh vực thủy hải sản, chúng ta được sở hữu nguồn tài nguyên
vô cùng quý giá là “rừng vàng, biển bạc” để phát triển kinh tế.
Bên cạnh việc nuôi tôm sú, cua biển và tôm càng xanh, từ năm 2009 đến nay,
phong trào nuôi cá lóc theo hình thức thâm canh ở huyện Trà Cú (Trà Vinh) phát
triển rất mạnh; bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân tại các xã như
Định An, Đại An, thị trấn Định An và Ngọc Biên. Trong các loài cá lóc thì cá lóc
đầu nhím là loài có kích thước lớn, sinh trưởng nhanh, chịu đựng điều kiện khắc
nghiệt của môi trường. Thêm vào đó cá có chất lượng thơm ngon, giá bán cao
nên ngày càng được người nuôi thủy sản ưa chuộng. (vietlinh.com.vn
).
Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích nuôi một cách tự phát không theo sự khuyến
cáo và quy hoạch của ngành nông nghiệp đã dẫn đến ô nhiễm môi trường nước
tiềm ẩn các mầm bệnh đối với cá nuôi. Trong đó, vấn đề thường gặp nhất trong
mô hình nuôi cá lóc dẫn đến thất bại là dịch bệnh xuất huyết do nhiễm virus, đốm
đỏ do vi khuẩn gây hại, các loại ngoại ký sinh như: trùng bánh xe, sán lá đơn chủ,
bệnh do giáp xác ký sinh và tình trạng cá nuôi bị gù lưng trong giai đoạn từ 4
tháng tuổi đến khi thu hoạch gây thiệt hại lớn về kinh tế.
Vì thế chuyên đề “Kĩ thuật nuôi cá lóc thương phẩm” sẽ giúp nắm rõ hơn về
quy trình kỹ thuật nuôi cá lóc; giúp địa phương quy hoạch cụ thể vùng nuôi để
xây dựng hệ thống thủy lợi đáp ứng nhu cầu nguồn nước.
Hình 1: Cá lóc đầu nhím
2.1.3 Đặc điểm phân bố
Ngoài tự nhiên cá lóc phân bố ở nhiều loại thủy vực nước ngọt, lợ. Chúng có mặt
ở sông, kênh rạch, ao, đầm lầy, ruộng, đìa…Cá thích sống nơi có thực vật thủy
sinh (rong, cỏ, bèo…) để thuận lợi cho việc rình và bắt mồi.
Cá có thể sống trong cả môi trường nước ngọt và lợ (8 - 12‰), độ pH thích hợp
Trường Đại Học Trà Vinh Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản
GVHD: Phan Thị Thanh Trúc 4 SVTH: Giang Duy Nhứt
6.3 - 7.5, nhiệt độ phù hợp cho tăng trưởng của cá 25-30°C. Cá thường trú ẩn
trong lùm cây cỏ.
Đặc biệt, nhờ vào cấu tạo thích nghi của cơ quan hô hấp, sự phát triển của cơ
quan hô hấp phụ trên mang, ngoài việc sử dụng oxy có trong nước, cá còn có khả
năng lấy oxy trực tiếp từ ngoài không khí (khí trời).
Cá có thể sống trong môi trường chật hẹp, trong điều kiện nước dơ bẩn, nước tù,
thiếu oxy. Đây cũng là ưu thế để phát triển các mô hình nuôi thâm canh trong ao,
vèo và bể bạt…(khoahocchonhanong.com.vn
)
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng cá lóc
Cá mới nở sử dụng dinh dưỡng từ khối noãn hoàn trong 3 ngày. Từ ngày thứ 4 –
5, khi noãn hoàn đã hết, cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài là các loài động vật phù
du kích cỡ nhỏ vừa với cỡ miệng chúng (luân trùng, trứng nước) hay lòng đỏ
trứng. Từ 5-7 ngày sau cá có thể ăn trùn chỉ hay thức ăn tổng hợp dạng bột.
Khi cá lóc đạt chiều dài khoảng 5 – 6cm thì có thể rượt bắt các loại cá, tép con
có kích cỡ nhỏ hơn. Khi cá có chiều dài trên 10cm thì khả năng rình bắt mồi rất
tốt và có tính ăn như cá trưởng thành.
Cá lóc là động vật ăn thịt, có tập tính rình bắt mồi. Trong điều kiện nuôi, cá quen
dần với việc ăn thức ăn tĩnh, cá ăn được nhiều loại thức ăn: cá biển, phụ phế
phẩm của nhà máy chế biến, phế phẩm từ lò mổ gia súc, gia cầm và thức ăn viên
tổng hợp. (khoahocchonhanong.com.vn
Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến
đầu tép, tôm, ếch, cá hay thức ăn chế biến và thức ăn viên. Cá lớn nhanh vào mùa
xuân - hè. (nuoicavang.blogspot.com)
2.2 Các hình thức nuôi cá
lóc
Hiện nay có một số mô hình nuôi cá lóc thương phẩm bao gồm: nuôi trong ao hồ
nhỏ, nuôi trong vèo, nuôi trong bể xi măng, nuôi trong mùng lưới.
2.3 Kỹ thuật nuôi cá lóc trong ao đất
2.3.1 Chọn địa điểm
Việc chọn lựa địa điểm ao nuôi là khâu quan trọng hàng đầu vì nó sẽ quyết định
đến hiệu quả sản xuất. Địa điểm tốt sẽ có một số ưu điểm như giảm chi phí xây
dựng và chi phí vận hành thấp, có nguồn nước tốt và đầy đủ nâng cao hiệu quả
nuôi.
Trường Đại Học Trà Vinh Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản
GVHD: Phan Thị Thanh Trúc 6 SVTH: Giang Duy Nhứt
Vì vậy để chọn lựa được địa điểm phù hợp thì phải xem xét các yếu tố như nguồn
nước, chất lượng đất đai và cơ sở hạ tầng nhằm mục đích: giảm chi phí sản xuất,
giảm giá thành xây dựng, đảm bảo cung cấp đầy đủ nước dễ dàng điều chỉnh hệ
thống nuôi sau cho phù hợp với những thay đổi về kinh tế và môi trường.
Địa điểm nuôi cần đáp ứng một số yêu cầu sau:
- Ao nuôi không bị nhiễm phèn, nhiễm phèn nhẹ có thể cải tạo được. Độ pH
trong nước dao động từ 7.5 – 8.5.
- Ao nuôi phải gần nhà để tiện chăm sóc quản lý.
- Ao nuôi phải đặt gần nguồn cấp và thoát nước tốt (sông, kênh, rạch), tránh
xa các nguồn lây ô nhiễm, khu công nghiệp, khu dân cư.
2.3.2 Hệ thống công trình ao nuôi và cải tạo ao
2.3.2.1 Hệ thống công trình ao nuôi
Hệ thống công trình ao nuôi gồm có: ao nuôi, máy bơm, hệ thống cấp và thoát
nước, hệ thống bờ.
Ao nuôi:
+ Nếu ao nuôi có phèn tiềm tàng thì nên tháo nước còn 5cm trên đáy ao rồi sau
đó bón vôi.
+ Sử dụng vôi CaCO
3
hoặc Ca(OH)
2
rải đều khắp đáy ao, hoặc vũng nước và
bờ ao.
+ Lượng vôi bón theo độ pH của đất và nước
Bón vôi cải tạo ao
Vôi có tác dụng tẩy trùng, nâng cao và ổn định pH. Trước khi bón vôi cho ao
nuôi phải kiểm tra pH đất để xác định đúng lượng vôi cần dùng. Vôi thường
dùng để chuẩn bị ao là vôi nông nghiệp (CaCO
3
), vôi tôi (Ca(OH)
2
), vôi sống
(CaO). Liều lượng vôi cần dùng trong cải tạo ao được trình bày theo bảng sau:
Bảng 1: Lượng vôi được khuyến cáo dùng trong cải tạo ao
pH của đất ở đáy ao, bờ ao Lượng vôi (kg/1.000 m
2
)
4 – 5 (pH nước 6.0) 100 – 150
5 – 6 (pH nước 6 – 7) 75 – 100
6 – 7 (pH nước > 7) 40 – 75
(Kỹ thuật nuôi và biện pháp phòng trị bệnh một số loài cá nước ngọt – Bayer)
Trường Đại Học Trà Vinh Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản
GVHD: Phan Thị Thanh Trúc 8 SVTH: Giang Duy Nhứt
Xử lý nước và gây màu nước cho ao nuôi
Mục đích của giai đoạn lấy nước, xử lý nước là để diệt các loài vi khuẩn có trong
Trường Đại Học Trà Vinh Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản
GVHD: Phan Thị Thanh Trúc 9 SVTH: Giang Duy Nhứt
2.4.3 Kích cỡ và mật độ thả nuôi
Cá được thả với mật độ khoảng 30 – 50con/m
2
, cỡ cá từ 6 – 10cm.
2.4.4 Vận chuyển và thả giống
Có 2 cách vận chuyển:
+ Vận chuyển hở: sử dụng các dụng cụ như xô nhựa đối với vận chuyển gần.
+ Vận chuyển bằng ghe đục thông nước khi vận chuyển xa.
* Lưu ý: vận chuyển lúc trời mát, tốt nhất là vào sáng sớm hay chiều tối. Trước
khi thả nên ngâm bao chứa cá trong ao khoảng 15 phút sau đó mới mở bao, cho
nước ao vào bao để cá tự bơi ra. Trường hợp vận chuyển bằng thùng hay xô cũng
cho nước ao vào từ từ tránh thả cá trực tiếp ra ao.
2.5. Các biện pháp kỹ thuật quản lý và chăm sóc
2.5.1 Quản lý cho ăn
Quản lý cho ăn là một trong những khâu rất quan trọng nhất để quyết định sự
thành công vì thức ăn chiếm chi phí rất lớn trong giá thành nuôi vì vậy ta cần cho
ăn thật tốt và đúng liều lượng sẽ tiết kiệm được thức ăn và tránh thức ăn dư thừa
làm tăng chi phí, gây ô nhiễm môi trường ao nuôi.
Ưu điểm của thức ăn công nghiệp là đầy đủ chất dinh dưỡng, kích cỡ đủ loại phù
hợp với từng giai đoạn, dễ vận chuyển và bảo quản.
Thông thường ở thời điểm đầu thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay
nhuyễn (đối với cá tạp); đến khi cá lớn, thức ăn có thể cung cấp trực tiếp vào ao nuôi.
Việc dùng sàn cho cá ăn được khẳng định mang lại hiệu quả cao trong quá trình nuôi.
3
): hàm lượng ammonia trong ao không nên vượt quá 1ppm
(nồng độ cho phép trong nước nuôi thủy sản là 0.1ppm (0.1mg/l). Ammonia,
nitrite không gây hại với cá ở nồng độ < 0.1ppm.
Trường Đại Học Trà Vinh Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản
GVHD: Phan Thị Thanh Trúc 11 SVTH: Giang Duy Nhứt
- Độ trong của nước: độ trong của nước thích hợp cho cá lóc trong ao là 35 đến
40cm. Độ trong của ao tùy thuộc vào mật độ tảo trong ao, thức ăn thừa và các
chất lơ lửng trong nước.
- Chế độ thay nước: chế độ thay nước là một trong những công việc hết sức quan
trọng. Không nên thay nước mỗi ngày, đặc biệt trong mùa lũ, nước trên nguồn đổ
xuống rất đục, ô nhiễm hữu cơ, thuốc trừ sâu và dễ mang mầm bệnh vào trong
ao. Để tránh những tác nhân xấu trên, nên thay nước vào lúc triều cường, mỗi đợt
5 ngày và mỗi ngày thay 30% nước trong ao. (Kỹ thuật nuôi và biện pháp phòng
trị bệnh một số loài cá nước ngọt – Bayer)
2.6 Một số bệnh thường gặp trên cá lóc
(tepbac.com)
Bệnh xuất huyết
Tác nhân gây bệnh
- Do nhiều loài thuộc giống Aromonas, Pseudomonas … gây ra.
Dấu hiệu bệnh lý
- Xuất huyết da, nắp mang; đốm đỏ xuất hiện trên thân
- Xuất huyết hậu môn
- Góc vi, hàm dưới nắp mang bị tụ máu thành những lớp màu đỏ.
- Xoang bụng xuất huyết nội tạng
Điều kiện phát triển bệnh
- Bệnh xuất hiện ở tất cả các giai đoạn ương giống và nuôi thịt.
- Bệnh phát triển trong điều kiện cá bị sốc và chuyển mùa, thời tiết bất lợi.
- Môi trường ương nuôi nhiễm bẩn, nhiều khí độc, hàm lượng oxy thấp.
này. Bệnh thường xuất hiện vào cuối mùa mưa (tháng 10-12) và đầu mùa khô
(tháng 1-2).
Đặc điểm nhận biết
Dấu hiệu đầu tiên của bệnh là cá ăn ít hoặc bỏ ăn, bơi nhô đầu khỏi mặt nước, nổi
lờ đờ, da xám, có vết loét hoặc các đốm đỏ phát triển ở đầu, thân, vây và đuôi.
Sau một thời gian bị bệnh cá kiệt sức và chết.
Trường Đại Học Trà Vinh Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản
GVHD: Phan Thị Thanh Trúc 13 SVTH: Giang Duy Nhứt
Quan sát bên ngoài cá thấy xuất hiện nhiều vết nhỏ màu xám hay đỏ. Mang,
quanh mắt và da xuất huyết, toàn thân có màu xám tối. Thương tổn lan rộng
thành những vết loét lớn trên vẩy, thân cá Khi cá bệnh nặng sẽ thấy máu chảy ở
hậu môn. Giải phẫu cá sẽ thấy bóng hơi xuất huyết và teo dần, gan thận cũng
xuất huyết. Khoang bụng có dấu hiệu tích nước, có nhiều dịch nhờn và xuất
huyết.
Hình 3: Cá lóc bị lở loét
Phòng bệnh cho cá
Phòng bệnh có tính chất quyết định đến kết quả nuôi, trong đó tẩy dọn ao, bể
nuôi theo đúng qui trình kỹ thuật để diệt các tác nhân gây bệnh là rất quan trọng.
Quản lý tốt môi trường nuôi, cung cấp nước nuôi cá bằng nước sạch. Ổn định
môi trường, kìm hãm sự phát triển của mầm bệnh bằng cách xử lý định kì 15
ngày/lần bằng dung dịch Vimekon (1g/1m
3
nước). Tránh làm cá bị xây xát,
không để cá bị nhiễm các loại bệnh ngoài da sẽ tạo điều kiện cho bệnh cá phát
Hình 4: Cá bị bệnh nấm thủy mi
Trị bệnh
- Dùng Xanh metylen 2-3g/m
3
, liên tục tạt xuống ao 2-3 lần/tuần .
- Dùng thuốc tím 2-5ppm tắm cho cá trong khỏang 10 phút.
Trường Đại Học Trà Vinh Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản
GVHD: Phan Thị Thanh Trúc 15 SVTH: Giang Duy Nhứt
Bệnh do sán lá đơn chủ: ký sinh ở mang và da
Triệu chứng
Mang bị viêm và sưng to, các tia mang bị đứt rời, mang tiết ra nhiều nhớt làm
cho cá nghẹt thở và chết, cá thường nổi đầu và tập trung nơi có dòng nước chảy.
Phòng bệnh
- Cá giống trước khi thả nuôi tắm cho cá bằng nước muối 2-3% trong thời gian
10 - 15 phút.
- Thường xuyên thay nước ao, tránh thức ăn thừa gây bẩn.
Trị bệnh
- Dùng muối liều lượng 0.5 - 1kg/100 lít nước (đối với cá nhỏ), 3 - 4 kg/100 lít
nước đối với cá lớn, tắm trong 15 - 30 phút.
Bệnh trùng mỏ neo
Dấu hiệu bệnh lý
vụ xuất khẩu), tôm càng xanh, cá điêu hồng, chim trắng, thác lác, bống tượng, sò
huyết, vẹm xanh, bào ngư, ốc hương (phục vụ trong nước). Phương thức nuôi là
quảng canh cải tiến đối với tôm sú và nghêu; nuôi thâm canh đối với tôm chân
trắng và cá tra. Các đối tượng còn lại nuôi theo phương thức quảng canh cải tiến,
bán thâm canh và thâm canh. Vùng nuôi tập trung là các tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu,
Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre. Nuôi nước ngọt tập trung ở các tỉnh
ven sông Hậu và sông Tiền như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long.
(vietnamplus.vn
).
2.8 Tình hình nuôi thủy sản ở Trà Vinh
Trà Vinh là tỉnh nằm ở hạ lưu sông Mê Kông, có bờ biển dài 65km và được bao
bọc bởi sông Tiền, sông Hậu. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, Trà Vinh là địa
phương có nhiều chủng loài cây rừng ngập mặn, tạo nên một hệ sinh thái đa
dạng: động, thực vật vùng đất ngập nước ven biển. Thế nhưng, trong những năm
gần đây, cũng giống như một số địa phương khác, phong trào nuôi thủy sản vùng
nước mặn tự phát, thiếu sự quản lý nên diện tích rừng ven biển đã bị tàn phá.
Vùng đất ven sông, ven biển ở tỉnh Trà Vinh nhiều năm về trước được bao phủ
một thảm cây rừng đặc trưng của vùng đất mặn ngập nước như đước, mắm, bần,
tra, dừa nước v.v (baomoi.com
).
Cùng với việc phát triển kinh tế xã hội, xây dựng hạ tầng giao thông, thủy lợi và
đặc biệt là phong trào nuôi tôm sú cao trào từ năm 2000, chỉ trong vài năm, Trà
Vinh đã mất đi hàng nghìn ha rừng ngập mặn. Lợi nhuận trước mắt của nghề
Trường Đại Học Trà Vinh Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản
GVHD: Phan Thị Thanh Trúc 17 SVTH: Giang Duy Nhứt
nuôi tôm khiến cho người dân bất chấp những mặt xấu của nó để theo đuổi ước
mơ làm giàu để rồi phải trả giá. Đặc biệt là ở huyện Duyên Hải, nơi mà hầu hết
người nuôi tôm dùng mọi biện pháp để phá rừng, mở rộng diện tích nuôi tôm
theo hình thức nuôi công nghiệp, làm cho môi trường ngày càng suy thoái, dịch
lại khá cao nên nhiều nông dân đã “xé rào” trong việc mở rộng diện tích nuôi tại
các vùng chưa có quy hoạch về thủy sản và những vùng thiếu nguồn nước. Việc
nuôi cá lóc tập trung với diện tích lớn dẫn đến tình trạng khan hiếm con giống,
phần lớn nguồn nước thải trong các ao nuôi sau thu hoạch hoặc trong quá trình
nuôi được thải trực tiếp ra sông rạch đã làm cho một số tuyến kênh bị ô nhiễm,
rất dễ làm phát sinh dịch bệnh, ô nhiễm môi trường. Nhiều hộ nuôi cá lóc cho
biết, do có nhiều người nuôi cá lóc và việc sản xuất con giống tại chỗ chưa có
nhiều nên nhiều hộ nuôi phải mua con giống từ các tỉnh như Đồng Tháp, An
Giang, vì vậy giá thành con giống cũng tăng cao, khoảng 300 – 320 đồng/con
(loại 1.000 con/kg). Phần lớn người nuôi cá hiện vẫn đang gặp khó khăn trong
việc tiếp nhận kỹ thuật về quy trình nuôi. Tỷ lệ nuôi còn hao hụt quá cao (45 –
50%), nguồn con giống chưa chủ động được tại địa phương, người nuôi phải đi
mua giống từ các tỉnh khác về, vận chuyển xa, thiếu sự giám sát về chất lượng
giống, dịch bệnh. (nhanong.com.vn).
Trường Đại Học Trà Vinh Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản
GVHD: Phan Thị Thanh Trúc 19 SVTH: Giang Duy Nhứt
Phần 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Hộ gia đình anh Triệu Văn Tuấn, xã Định An, Huyện Trà Cú, Tỉnh Trà
Vinh.
Thời gian: Từ ngày 18/02/2013 – 17/03/2013.
Diện tích: 1.000m
2
.
Số lượng giống thả: 45.000 con (45 con/m
2
).
3.2 Vật liệu phục vụ nghiên cứu
3.2.1 Dụng cụ
Hình 5: Hình dạng ao nuôi cá
3.3.1.1 Cải tạo ao
Các bước cải tạo ao được tiến hành như sau:
Bước 1
: Ao được tháo cạn phơi khô rồi dùng xe cuốc hoặc máy hút vét hết lớp
bùn tích tụ ở vụ trước. Sau đó nén chặt đáy ao và tu sữa bờ ao cho chắc chắn.
Đây là công đoạn nhằm loại bỏ một số mầm bệnh, địch hại và các loại khí độc
như NH
3
, H
2
S của vụ nuôi trước để lại, ao được cho nước ra vào 2 - 3 lần nhằm
có tác dụng rửa phèn, loại bỏ chất thải.
Bước 2:
Bón vôi cho đáy ao và cả bờ ao. Kiểm tra độ pH của đất trước khi bón
vôi, để sử dụng đúng loại vôi cho thích hợp. Vôi được sử dụng ở ao nghiên cứu
là vôi đá (CaO) với liều lượng là 10kg/1.000m
2
. Bón vôi cả đáy ao và bờ ao. Tác
dụng của việc bón vôi là: diệt khuẩn, mầm bệnh và góp phần vào việc ổn định
pH của đáy ao.
Bước 3:
Tiến hành phơi ao trong 10 ngày.
2 m
20 m
Trường Đại Học Trà Vinh Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản
GVHD: Phan Thị Thanh Trúc 21 SVTH: Giang Duy Nhứt
3.3.1.2 Xử lý nước
dài cá 6cm.
Trường Đại Học Trà Vinh Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản
GVHD: Phan Thị Thanh Trúc 22 SVTH: Giang Duy Nhứt
Bảng 4: Các yếu tố môi trường ao nuôi lúc thả giống
Yếu tố môi trường ao nuôi Giá trị
Độ pH 7.5
Nhiệt độ 26
0
C
Độ trong (cm) 40
Độ sâu (m) 1.5
Màu nước Xanh vỏ đậu
Phương pháp thả
Thuần giống: Sáng ngày 18/02/2013 cá giống được vận chuyển đến ao nuôi bằng
xe máy, sau đó cho bọc chứa cá xuống ao để khoảng 20 phút cho thích nghi với
môi trường nước ao nuôi rồi tiến hành thả giống.
Thả giống: Cho cá giống ra thau để khoảng 5 phút rồi cho cá từ từ ra ao, thả
giống nên thả nhiều điểm trong ao nhằm giúp cá phân tán đều khắp ao, tận dụng
được nguồn thức ăn tự nhiên có sẵn trong ao.
3.3.3 Quản lý và chăm sóc
3.3.3.1 Quản lý các yếu tố môi trường ao nuôi
Quản lý pH
Trong quá trình nuôi, yếu tố pH là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến tình trạng
sức khỏe và môi trường của ao nuôi cá, pH được đo 3 lần/tuần vào buổi sáng lúc
7h, dụng cụ đo là test kit pH. Thường xuyên theo dõi yếu tố pH để đưa ra quá
trình xử lý thích hợp vì sự biến động cũng là dấu hiệu của sự phát triển của tảo
Thức ăn là cá tạp còn tươi rửa sạch xay nhuyễn, mỗi lần cho ăn trộn vào 2-3%
thức ăn công nghiệp, để nguyên cục bỏ trên sàng, cá tự động lại rỉa ăn. Cứ mỗi
lần cho cá ăn thức ăn công nghiệp tăng dần lên, khoảng 10-15 ngày cá đã quen
với thức ăn công nghiệp thì chuyển hẳn sang cho ăn thức ăn công nghiệp. Khi
cho ăn, cần trộn thêm men tiêu hóa đường ruột và vitamin C giúp cá mau tiêu
hóa và tăng sức đề kháng.
3.3.3.3 Phòng bệnh và trị bệnh
Trong một vụ nuôi công tác phòng bệnh được thực hiện tốt từ các khâu:
Trường Đại Học Trà Vinh Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản
GVHD: Phan Thị Thanh Trúc 24 SVTH: Giang Duy Nhứt
Cải tạo ao: ao nuôi được chuẩn bị cải tạo tốt ngay từ đầu, nguồn nước đưa vào ao
nuôi được xử lý khử trùng loại bỏ mầm bệnh và địch hại nhằm tạo ra một môi
trường sống tốt nhất cho cá.
Con giống được lựa chọn là giống khoẻ mạnh, không có mầm bệnh.
Thức ăn lựa chọn cho nuôi ăn là loại thức ăn uy tín chất lượng và phù hợp với
từng giai đoạn phát triển của cá. Quản lý thức ăn tốt không cho thức ăn quá dư
thừa.
Quản lý môi trường ao nuôi tốt đảm bảo các chỉ số môi trường ở mức phù hợp và
luôn ổn định không tăng giảm đột ngột.
Sử dụng định kỳ men vi sinh để cải thiện môi trường ao nuôi, giảm khí độc, ngăn
ngừa bệnh.
3.3.3.4. Thu hoạch và hạch toán kinh tế
Thu hoạch:
phương pháp được áp dụng phổ biến ở vùng nuôi là phương pháp
thu hoạch bằng lưới, rọ hoặc nom. Trước khi thu hoạch khoảng 1 ngày ngưng
cho cá ăn. Đến thời điểm thu hoạch ao nuôi được rút bớt nước xuống còn khoảng
50 – 70% rồi dùng kích điện đánh bắt hầu hết lượng cá trong ao và vét cạn thu số
cá còn lại bằng nom.
Hạch toán kinh tế
Sau vụ nuôi ta có thể tổng kết lại các khoản thu chi để đánh giá hiệu quả của mô