BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:THỬ NGHIỆM SỬ DỤNG THỨC ĂN CHẾ
BIẾN ĐỂ ƯƠNG NUÔI CÁ LÓC MÔI TRỀ
(Channa sp.)
NGÀNH: THỦY SẢN
KHÓA: 2001 – 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ HOÀNG THANH
Giáo viên hướng dẫn: Ts. Lê Thanh Hùng Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 08/2005
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
ii
TÓM TẮT
Đề tài “Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá Lóc môi trề
(Channa sp.)” được thực hiện tại trại thực nghiệm khoa Thủy sản, Trường Đại Học
Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh từ ngày 17/4/2005 đến ngày 19/6/2005.
Thí nghiệm 1 được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của thức ăn chế biến
lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Lóc môi trề ở giai đoạn bột. Thí nghiệm
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
iii
ABSTRACT
The tiltle of the study “Study on the use of antificial diet to culture larvae of
snakehead fish (Channa sp.)” was carried out in the Exprimental Station of the
Fisherry Faculty in The University of Agriculture and Forestry, Ho Chi Minh city
from 17
th
April to 19
th
Jun in 2005. The study has 2 experiments.
The first experiment was set up to examine the effect of antificial diet to
growth speed and survival rate of snakehead larvea. The experiment was set up
random, consits of three treatments: NT1 (was fed antificial diet), NT2 (was fed
Tubifex – antificial diet), NT3 (waseach treatment was repeated 3 times. The
snakeheah fish of experiment weigh 0.033g, density of nourishing was 150 fish per
aquaria. After 21 days, the result showed that snakehead fish larvae can be fed
antificial diet at the 14
th
after hatching.
The second experiment was establish to compare growth rate of 2 generic
snakehead fish when they was fed antificial deit. The growth of 2 generic snakehead
fish were investigated in aquaria with density of 30 fish per aquaria. Fish of
experiment was fed antificial deit . Each generic was one treatment which was
repeated 2 times. Fish was cultured for 14 days. The result showed that the weight of
Moi Tre grows faster than Loc Den but the length of Loc Den increase than Moi Tre.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
v
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG
TRANG ĐỀ TÀI i
TRANG TÓM TẮT TIẾNG VIỆT ii
TRANG TÓM TẮT TIẾNG ANH iii
LỜI CẢM TẠ iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH ix
I. GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt Vấn Đề 1
1.2
Mục Tiêu Đề Tài 1
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1
Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Lóc 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3
2.1.3 Đặc điểm hình thái 3
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 3
3.3 Vật Liệu Và Trang Thiết Bò 11
3.4 Nguồn Nước 11
3.5 Thức n Cho Cá Thí Nghiệm 11
3.6 Bố Trí Thí Nghiệm 12
3.6.1
Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng của thức ăn chế biến (TĂCB) lên
tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá Lóc môi trề ở giai đoạn cá bột 12
3.6.2
Thí nghiệm 2 : So sánh tốc độ tăng trưởng của giống cá Lóc môi trề và cá
Lóc đen khi sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi 13
3.7 Chuẩn Bò Thức n Và Phương Pháp Cho n 13
3.8 Phương Pháp Thu Thập Số Liệu 14
3.8.1 Thí nghiệm 1 14
3.8.2 Thí nghiệm 2 14
3.9 Các Yếu Tố Thủy Lý Hóa Của Nước Trong Bể 14
3.10 Các chỉ tiêu tính toán 14
3.11
Phương Pháp Xử Lý Thống Kê 15
IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 Thí Nghiệm 1: Khảo Sát nh Hưởng Của Thức n Chế Biến Lên Tốc Độ
Tăng Trưởng Và Tỷ Lệ Sống Của Cá Lóc Môi Trề Giai Đoạn Cá Bột 16
4.1.1 Các yếu tố môi trường 16
4.1.1.1 Nhiệt độ 16
4.1.1.2 Độ pH 17
4.1.1.3 Hàm lượng oxy hòa tan (DO) 17
4.1.1.4 Hàm lượng Ammonia tổng số (mg/l) 17
4.1.2 Thành phần hóa học của các loại thức ăn thí nghiệm 18
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
Bảng 4.1 Yếu tố nhiệt độ trong thí nghiệm 16
Bảng 4.2 Yếu tố pH trong thí nghiệm 17
Bảng 4.3 Yếu tố oxy hòa tan trong thí nghiệm 17
Bảng 4.4 Hàm lượng Ammonia 17
Bảng 4.5 Thành phần hóa học của các loại thức ăn thí nghiệm 18
Bảng 4.6 Sơ lược tiến trình thí nghiệm 18
Bảng 4.7 Tỷ lệ sống (%) của cá thí nghiệm 19
Bảng 4.8 Tỷ lệ cá bò ăn lẫn nhau trong quá trình thí nghiệm (%) 20
Bảng 4.9 Sự phân đàn của cá thí nghiệm sau 21 ngày nuôi 22
Bảng 4.10 Bảng phân bố tần số về trọng lượng của cá thí nghiệm sau 21
ngày nuôi 22
Bảng 4.11 Tăng trọng của cá thí nghiệm 24
Bảng 4.12 Tăng trưởng của cá thí nghiệm 24
Bảng 4.13 Tăng trưởng về trọng lượng của hai giống cá 28
Bảng 4.14 Tỷ lệ tăng trọng tương đối (%) của hai giống cá 28
Bảng 4.15 Tăng trưởng về chiều dài của của hai giống cá 29
Bảng 4.16 Tỷ lệ tăng chiều dài tương đối (%) của hai giống cá 29
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
ix
DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH
ĐỒ THỊ NỘI DUNG TRANG
Đồ thò 4.1 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm 20
Đồ thò 4.2 Sự phân đàn của cá thí nghiệm 23
Đồ thò 4.3 Sự tăng trưởng của cá thí nghiệm 25
Đồ thò 4.4 Tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR) của cá thí nghiệm 26
Đồ thò 4.5 Tỷ lệ tăng trọng tương đối của hai giống cá 28
trò bệnh cho cá. Trong tự nhiên, cá Lóc là loài cá chuyên ăn mồi sống cho nên muốn
nuôi cá Lóc trong ao với mật độ cao như hiện nay thì vấn đề nghiên cứu loại thức ăn
thay thế hoàn toàn hay một phần cá tạp là rất cần thiết. Trong những năm qua đã có
rất nhiều nghiên cứu trên các loài cá Lóc và vấn đề đặt ra là làm sao để tăng được
năng suất ương và nuôi. Một trong những hướng nghiên cứu cho mục tiêu này là tìm
hiểu về đặc điểm ăn của cá trong giai đoạn bột và hương để chế biến thức ăn phù
hợp.
Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự phân công của Khoa Thủy Sản,
Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Thử nghiệm sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi cá Lóc môi trề
(Channa sp.)’’. Việc sử dụng thức ăn chế biến thay thế cho thức ăn tươi sống để ương
nuôi cá Lóc phải đảm bảo dinh dưỡng và nhằm hạn chế mầm bệnh khi ương nuôi
bằng thức ăn tự nhiên và chủ động hơn khi nuôi thương phẩm.
1.2 Mục Tiêu Đề Tài
Xác đònh thời điểm cá Lóc môi trề bột sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
- 2 -
Khảo sát ảnh hưởng của thức ăn chế biến lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống
của cá Lóc môi trề ở giai đoạn bột.
So sánh tốc độ tăng trưởng của giống cá Lóc môi trề và cá Lóc đen khi sử
dụng thức ăn chế biến để ương nuôi.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
- 3 -
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Lóc môi trề
nở, cá dinh dưỡng bằng noãn hoàn trong khoảng 3 – 5 ngày. Sau khi hết noãn hoàn
chúng chuyển sang thức ăn bên ngoài có kích cỡ nhỏ như các loài động vật phù du
(luân trùng, giáp xác chân chèo, …) vừa cỡ miệng. Khi dài khoảng 5 - 6 cm, cá thường
săn mồi và bắt mồi chủ động, chúng thể bắt các loài tép nhỏ. Khi cơ thể đạt chiều dài
trên 10 cm, cá có tập tính ăn như cá trưởng thành (Ngô Trọng Lư, 1994).
Cá Lóc thích ăn các loại thức ăn là động vật tươi sống như cá nhỏ, tôm tép,
cua, bọ gạo,…. Khi phân tích thức ăn trong dạ dày cho thấy thức ăn chủ yếu của cá
Lóc là động vật gồm: cá nhỏ (46,7%), tôm tép (20,12%), cua (18,9%), thực vật thủy
sinh thượng đẳng và động phiêu sinh (14,26%) (Nguyễn Thò Cẩm Vân, 1994; trích
bởi Nguyễn Thò Thanh, 2005).
các vùng nước, cá có tốc độ bơi nhanh, con mồi cỡ nhỏ thường không thoát
khỏi miệng cá, cá Lóc có thể đớp con mồi dài bằng nửa thân của nó. Chúng ăn mạnh
vào mùa hè, khi nhiệt độ giảm xuống dưới 12
o
C cá ngừng kiếm ăn (Ngô Trọng Lư,
2001).
Tính ăn thòt lẫn nhau của cá Lóc giống được dựa trên kích thước, hình thái của
độ rộng miệng, độ rộng đầu và chiều dài cơ thể (chiều dài con mồi tối đa (mm) đối
với chiều dài con vật ăn thòt). Sự khác nhau về kích cỡ làm tăng tỷ lệ ăn nhau, nhưng
tỷ số giữa chiều dài vật mồi/vật săn mồi giảm khi tăng chiều dài vật săn mồi. Tỷ lệ
ăn nhau là 100% (suốt 5 ngày thí nghiệm) khi tỷ lệ giữa cá nhỏ hơn so với cá lớn hơn
là 0,35 nhưng tỷ lệ ăn lẫn nhau giảm đến 43% khi tỷ lệ chiều dài cá nhỏ hơn so với
cá lớn hơn tăng đến 0,64. Việc gia tăng thức ăn chế biếùn cũng làm giảm tính ăn lẫn
nhau là 83% nhưng đã giảm đến 43% khi cho ăn hàng ngày với tỷ lệ 15% trọng lượng
cơ thể. Tuy nhiên, hiện tượng ăn lẫn nhau là không thể tránh khỏi ở loài này nhưng
có thể giảm rất nhiều bằng cách phân cỡ và cho ăn tùy ý (tối đa) (Qin JianGuang và
ctv, 1996; trích bởi Nguyễn Thò Ngọc Lan).
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Sinh trưởng làsự gia tăng về kích thước và trọng lượng của cơ thể trong đời
sống. Một trong những điều kiện quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cá là
yên tónh có nhiều cây cỏ thực vật thủy sinh, đẻ vào sáng sớm, sau mỗi trận mưa rào 1
– 2 ngày. Trước lúc đẻ, cá dùng miệng thu những cây rong, cỏ nước làm tổ hình tròn,
đường kính tổ khoảng 40 – 50cm. Sau khi đẻ, cá bố mẹ bảo vệ tổ đẻ đến lúc trứng nở
thành con mới thôi. nhiệt độ 20 – 35
o
C sau 3 ngày trứng nở thành con (Ngô Trọng
Lư, 2001).
Mùa vụ sinh sản trong tự nhiên chủ yếu từ tháng 5 – 7. Chúng thường đẻ sau
những cơn mưa lớn, hệ số thành thục của cá Lóc trong thời gian này đạt khoảng 0,5-
1,5% (Phạm Văn Khánh, 2000)
Trong môi trường tự nhiên, 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàn. Khi còn nhỏ cá
sống thành từng đàn ở tầng mặt, cá con thân dài 5 – 4cm bắt đầu tách khỏi đàn sống
độc lập.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
- 6 -
2.1.7 Môi trường sống của cá Lóc
2.1.7.1 Nhiệt độ
Cá Lóc có thể sống và phát triển tốt trong những thủy vực nông cạn như ruộng
lúa, kênh mương tưới tiêu, hầm hố nhờ vào cơ quan hô hấp phụ trên mang (Mohsin
và Ambak, 1983). Cá thích sống ở nơi có rong đuôi chó, cỏ dừa, tóc tiên vì nơi này
chúng dễ ẩn mình để rình mồi. Vào mùa hè, cá thường sống tầng mặt, vào mùa đông
khi nhiệt độ xuống dưới 8
o
C, chúng thường xuống sâu hơn. nhiệt độ 6
o
C cá ít hoạt
động .
Nhiệt độ nước trong ao hồ tương đối ổn đònh và điều hòa hơn ở trên cạn, có
ôxy hòa tan còn 2mg/l, cá sẽ nổi đầu, xuống đến 0,4mg/l cá sẽ chết ngạt. Tuy nhiên,
một số loài thủy sản có cơ quan hô hấp phụ thở được khí trời như Rô đồng, cá Lóc,
Lươn… có thể sống được ở môi trường có hàm lượng ôxy thấp, DO bằng không.
Hàm lượng ôxy trong các ao nhỏ thường thấp, ở tầng mặt (0 – 0,5m) từ 7,5
đến 8,5mg/l, càng xuống sâu ôxy giảm dần. Thường cá con có ngưỡng ôxy cao hơn cá
trưởng thành và các loài cá sống ở tầng mặt có ngưỡng ôxy cao hơn cá sống ở tầng
đáy. Cá Lóc con có tập tính sống thành đàn ở tầng mặt và tập tính này mất dần khi cá
lớn, cá lớn sống riêng lẻ ở tầng đáy săn mồi tích cực.
Cơ quan hô hấp phụ của cá Lóc nằm ở một đầu trên xương cung mang thứ
nhất gọi là cơ quan trên mang. Cơ quan trên mang là một lớp biểu bì có nhiều mao
mạch giúp cá sống được ở môi trường cạn một khoảng thời gian (Trương Thủ Khoa
và Trần Thò Thu Hương, 1993; trích bởi Nguyễn Thò Thanh, 2005).
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
- 7 -
2.1.7.3 Độ pH
Các loài thủy sản cần có pH thích hợp 6,5 – 8,5, thích hợp nhất là 7,3 – 8,3.
pH trên 9 và dưới 6,5 một số đối tượng thủy sản vẫn sống được nhưng phát triển
chậm. Một số loài cá có thể sống ở độ pH = 5 như cá Sặc rằn, Rô đồng, cá Tra… song
chúng phát triển chậm.
Cá Lóc thích nghi được với pH từ 4,3 – 9,4.
2.1.7.4 Độ mặn
Cá Lóc có thể sống ở độ mặn từ 10 – 12
o
/
oo
2.1.7.5 Ammonia
NH
3
ở bảng 2.1 trong 30 ngày, giai đoạn 2 chuyển dần cho cá ăn thức ăn chế biến trong 7
– 10 ngày và sang giai đoạn 3 chỉ cho ăn thức ăn chế biến. Kết quả cho thấy ở giai
đoạn 1, khi cho ăn thức ăn thứ 4, cá đạt chiều dài và khối lượng cao hơn cá ở các
nghiệm thức khác. Cá ăn thức ăn thứ 3 thì có tỷ lệ chết (không do ăn nhau) lớn hơn cá
ở các nghiệm thức còn lại. Cá ăn thức ăn thứ 6 có khối lượng cao nhất. Nhóm tác giả
này kết luận rằng có thể tập cho cá ăn thức ăn chế biến theo phương pháp sau: (i) cho
cá ăn ấu trùng Artemia bổ sung thức ăn chế biến trong 30 ngày, sau đó loại bỏ dần ấu
trùng Artemia trong giai đoạn 7 – 10 ngày. (ii) chỉ cho ăn ấu trùng Artemia sống
trong 30 ngày, 7 – 10 ngày tiếp theo cho ăn hỗn hợp cả Artemia sống và thức ăn chế
biến và sau cùng chuyển hoàn toàn sang thức ăn chế biến.
Bảng 2.1 Thí nghiệm của Qin và ctv. 1997
Nghiệm thức thức ăn Tỉ lệ sống (%)
1. Không ăn
2. Chỉ cho ăn thức ăn chế biến
3. u trùng Artemia sống vàtrứng bào xác của Artemia
4. Chỉ cho ăn trứng bào xác của Artemia tẩy vỏ
5. Thức ăn chế biến và ấu trùng Artemia sống
6. Thức ăn chế biến và trứng bào xác Artemia
0
0
78
30
82
46
2.2.1.3 Khả năng sử dụng thức ăn chế biến ở cá bột:
Việc sử dụng thức ăn chế biến ở giai đoạn cá bột đã được nghiên cứu trên
nhiều loài và đem lại kết quả khả quan như ở cá Clarias gariepinus (Verreth và Van
Tongeren, 1989), Heterobranchus longifilis (Kerdchuen and Legendre,1994). Đối với
cá ăn bằng cách xử lý trong dung dòch muối loãng 0,1%. Tuy nhiên cách này sẽ
không hiệu quả nếu số lượng trùn quá lớn, thời gian xử lý như thế nào để gọi là sạch
(cũng chỉ sạch ở bên ngoài mà không thể ở bên trong cơ thể trùn). Hơn nữa, do tụ
thành đám nên chúng khó tách ra khỏi chất bẩn theo một số tác giả như Axelrod
(1956), Mc Inerny (1966) thì trùn chỉ nên được đạt trong một lọ dười vòi nước chảy
nhỏ giọt liên tục nhưng cũng không thể làm sạch một cách hoàn hảo được nên vẫn
đưa vào bể những vi khuẩn có hại. Ngoài ra, trùn chỉ còn là ký chủ trung gian của
một số bào tử trùng ký sinh như Myxobollus, Henneguya ký sinh ở da, vây, mang,
đường tiêu hóa. Nếu số lïng quá nhiều sẽ gây hoại tử ở những sợi mang, cản trở hô
hấp, ở cá nhỏ thì bò suy nhược (Andrews, 1988).
Mặc dù vậy trùn chỉ vẫn là dạng thức ăn được các người nuôi cá thích sử dụng
. Theo Yakupitiyage (1994), những dạng sinh vật đáy đã được sử dụng thành công để
thay thế bột cá trong khầu phần thức ăn cho các loài cá khác nhau như cá Rô phi
(Orecchromis niloticus), cá Trê (Clarias spp). Cũng theo tác giả trên, nếu cá tiêu thụ
một số lượng đáng kể thức ăn tự nhiên thì hầu hết nhu cầu vitamin của cá sẽ được
cung cấp đầy đủ.
Thành phần dinh dưỡng trong giun ít tơ (%) theo Dorokhop, Pakhomop,
Poliacop (1968 , 1975; trích bởi Trần Văn Vỹ, 1982, trang 38) như sau:
Proteins : 6.8
Lipid : 0.6
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
- 10 -
Glucid : 1.2
Tro : 1.1
Nguồn cung cấp trùn chỉ không ổn đònh.
2.2.2.2 Thức ăn chế biến
Thức ăn cho tôm cá do phải cho ăn trong môi trường nước nên nó cần có
những yêu cầu chế biến đặc biệt để đáp ứng với điều kiện cho ăn này. Về thành phần
dinh dưỡng, chúng cũng cần chủ yếu là proteins, glucid, lipid, vitamin và các chất
khoáng. Những thành phần bổ sung cũng sử dụng như khi cho gia súc gia cầm: một số
vitamin, một số axit amin, một số chất khoáng vi lượng, một số chất kích thích tiêu
hóa. Vì vậy sự khác biệt giữa thức ăn thủy sản với thức ăn gia súc, gia cầm là ở công
nghệ chế biến. Nó thường phải ở dạng viên hay dạng sợi khó tan trong nước, tạo độ
kết dính các phần tử nguyên liệu trong thức ăn để thức ăn không tan trong nước trong
một thời gian nhất đònh cho tôm cá kòp ăn hết. Nếu thức ăn bò tan rã, tôm cá không ăn
được sẽ gây lãng phí lớn, chất lắng động tích lũy ở đáy gây ô nhiễm môi trường nước
và độc hại cho tôm cá nuôi.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
- 11 -
Việc sản xuất thức ăn nhân tạo cho cá đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng để không
những đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu cho cá mà còn phải phù hợp với tập tính
bắt mồi, cỡ miệng cá, độ cứng, độ tan của thức ăn trong nước.
Thức ăn chế biến dạng ướt.
Các nguyên liệu tươi, nguyên liệu khô, có bổ sung premix khoáng, vitamin
theo sự hướng dẫn. Thức ăn này thường có độ ẩm từ 35 – 45%.
Ưu điểm
Mùi vò hấp dẫn tôm cá
3.3 Vật Liệu Và Trang Thiết Bò
Hệ thống các bể kính
Hệ thống sục khí, ống siphon
Thau nhựa, vợt vớt cá
Các nguyên liệu làm thức ăn
Máy xay thức ăn
Cân điện tử hai số lẻ để xác đònh trọng lượng cá mỗi đợït kiển tra
Máy đo DO
NH
4
+
/NH
3
Test Kit
Máy đo pH
Máy đo nhiệt độ
3.4 Nguồn Nước
Nước sử dụng cho thí nghiệm là nguồn nước máy. Trước khi đưa vào sử dụng,
nước được bơm vào bể tròn bằng ximăng cho khí Clo bay hơi sau đó mới được cấp
vào hệ thống bể kính. Hình 4.1 Hệ thống bể nuôi thí nghiệm
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
- 14 -
Thí nghiệm được cho ăn với 3 loại thức ăn khác nhau:
Nghiệm thức 1: cho cá ăn thức ăn chế biến (TĂCB) vào ngày đầu tiên sau khi
bố trí thí nghiệm (cá 7 ngày tuổi).
Nghiệm thức 2: trong 7 ngày đầu cho cá ăn trùn chỉ, sau đó loại bỏ dần thức
ăn trùn và thay thế hoàn toàn bằng thức ăn chế biến (TĂCB) vào tuần thứ 2.
Nghiệm thức 3: trong 7 ngày đầu cho cá ăn trùn, sau đó loại bỏ dần thức ăn
trùn chỉ và thay thế hoàn toàn bằng cá tạp xay vào tuần thứ 2.
* Chăm sóc và quản lý
Cá được cho ăn với khẩu phần từ 10 – 30% trọng lượng thân (cho ăn theo nhu
cầu). Cho ăn mỗi ngày 4 lần lúc 7 : 00 giờ , 10 : 30 giờ, 14 :00 giờ và 17 : 30 giờ.
Theo dõi và ghi nhận về hoạt động ăn, bơi lội, bắt mồi của cá và đếm số cá chết.
Thức ăn thừa, phân cá được siphon 2 lần/ ngày. Các bể thí nghiệm được sục khí liên
tục.
3.6.2 Thí nghiệm 2 : So sánh tốc độ tăng trưởng giữa cá Lóc môi trề và cá Lóc
đen khi sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi.
nhiên 30 con ở mỗi bể thí nghiệm.
3.8.2 Thí nghiệm 2
Xác đònh trọng lượng ban đầu bằng cách cân toàn bộ số cá ở mỗi bể. Mỗi tuần
thu mẫu 1 lần. Những ngày cân trọng lượng sẽ không cho ăn vào buổi sáng để tránh
gây sốc cá.
3.9 Các Yếu Tố Thủy Lý Hóa Của Nước Trong Bể :
Nhiệt độ đo bằng máy đo nhiệt độ (2 lần/ ngày lúc 7 giờ sáng và 14 giờ
chiều).
Oxy hòa tan đo bằng máy đo D (1 tuần/ lần).
pH đo bằng bộ test pH (1 tuần/ lần).
NH
3
đo bằng Test Ammonia (1 tuần/ lần).
3.10 Các chỉ tiêu tính toán
Thí nghiệm 1:
Tỷ lệ sống (%) – Survival Rate
TLS( %) =100 *(số cá ngày thứ i/số cá ban đầu)
Trong đó : i là ngày thu mẫu
Tăng trọng ( g) – Weight Gain
WG = W
t
– W
o