nghiên cứu sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi nòng nọc ếch Thái Lan - Pdf 20

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THỨC ĂN CHẾ
BIẾN ĐỂ ƯƠNG NUÔI NÒNG NỌC ẾCH
THÁI LAN (Rana tigerina tigrina)

NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
NIÊN KHÓA: 2001 – 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN: PHẠM TRÍ HẢO
NGUYỄN HUỲNH KHÁNG
THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH
THAÙNG 09 / 2005
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THỨC ĂN CHẾ BIẾN ĐỂ
ƯƠNG NUÔI NÒNG NỌC ẾCH THÁI LAN
(Rana tigerina tigrina)
Thực hiện bởi:
Phạm Trí Hảo
Nguyễn Huỳnh Kháng
Luận văn được đệ trình để yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Nuôi Trồng Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn: TS Lê Thanh Hùng
Thành Phố Hồ Chí Minh
Tháng 09/2005
TÓM TẮT
Đề tài: “Nghiên Cứu Sử Dụng Thức Ăn Chế Biến Để Ương Nuôi Nòng
Nọc Ếch Thái Lan (Rana tigerina tigrina)” được tiến hành tại Trại Thực Nghiệm
Thủy Sản, Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh.
Trong đề tài này ba thí nghiệm được tiến hành để đánh giá ảnh hưởng của thức ăn ở

lệch lớn. Nghiệm thức ban đầu sử dụng thức ăn là trùn chỉ có tốc độ tăng trưởng cao
nhất (3,12 %/ngày). Các nghiệm thức ban đầu sử dụng thức ăn như: trùn chỉ + TACB
dạng ướt, trùn chỉ + TACB dạng khô, TACB dạng ướt có tốc độ tăng trưởng lần lượt là
2,81; 2,84; 2,82 %/ngày.
Về mặt tỷ lệ sống ở các nghiệm thức cũng không có sự chênh lệch lớn. Cao
nhất là nghiệm thức trùn chỉ + TACB dạng ướt đạt 90%. Thấp nhất là nghiệm thức
TACB dạng ướt 82,2%. Hai nghiệm thức ban đầu sử dụng thức ăn là trùn chỉ và trùn
chỉ + TACB dạng khô có tỷ lệ sống tương đương (88,9% và 86,6%).
-iii-
ABSTRACT
The subject: “ Study on using formulated feed for larval rearing of tadpoles
Thai frog (Rana tigerina tigrina)”. There were three experiments were conducted at
Nong Lam University evaluate the effect of formulated feed to 2 days old and 16 days
old of tadpoles.
The first experiment: The experiment was conducted to determine the
suitable time that tadpoles can use the fomulated feed effectively. The two days old
tadpoles were used to exame. There were eight treatments (T) including: feeding
tadpoles by tubifex in 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6 and 7 days, and then feeding wet formulated
feed; and three replicates. The experiment lasted for 14 days. In the result, the
tadpoles used formulated feed effective when they were feed tubifex in 3 days (T4).
The second experiment: The experiment was conducted to exame the effect
of using different feeds on the weight gain and survival rate of two days old tadpoles
of Thai frog. There were five treatments including: tubifex (T1), tubifex + wet
formulated feed (T2), tubifex + dry formulated feed (T3), wet feed (T4) and dry
formulated feed (T5); and three replicates. The experiment lasted for 14 days. In the
result, after 14 days feeding, the tadpoles that feed by tubifex had the highest survival
rate 87%. Treatment 2 and 3 had the same survival rate to treatment 1 (84,7%) and
87,7% for T2 and T3 respectively. In treatment 4 and 5, the suevival rate was the
lowest with 73%, respectively.
The tadpoles in treatment 1 also had the highest weight gain of 2,64g.

Xin chân thành cảm ơn !
-v-
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC TRANG
TÊN ĐỀ TÀI i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iv
CẢM TẠ v
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ x
DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH xi
I. GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt Vấn Đề 1
1.2 Mục Tiêu Đề Tài 2
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc Điểm Sinh Học Của Ếch 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Phân bố – Môi trường sống 3
2.1.3 Đặc điểm về hình thái của ếch 4
2.1.4 Cơ quan hô hấp 5
2.1.5 Hệ bài tiết 5
2.1.6 Hệ tiêu hóa và tính ăn 6
2.1.7 Hệ sinh dục 6
2.1.8 Sinh sản 7
2.1.9 Sinh trưởng 7
2.1.10 Vòng đời của ếch 7
2.2 Nhu Cầu Protein của Ếch 8
2.3 Tình Hình Nuôi Ếch trên Thế Giới và Việt Nam 8
2.3.1 Tình hình nuôi ếch trên thế giới 8

Ếch Thái Lan 2 Ngày Tuổi 32
4.3.1 Các yếu tố môi trường 32
4.3.2 Sự tăng trọng của nòng nọc trong thí nghiệm 34
4.3.3 Tỷ lệ sống của nòng nọc trong thí nghiệm 37
4.3 Thí Nghiệm 3: Khảo Sát Sự Ảnh Hưởng của Việc Chuyển Đổi
Thức Ăn đến Sự Tăng Trưởng và Tỷ Lệ Sống của Nòng Nọc
Ếch Thái Lan 16 Ngày Tuổi 38
4.4.1 Các yếu tố môi trường 39
4.4.2 Tốc độ tăng trưởng đặc biệt SGR của nòng nọc trong thí nghiệm39
4.4.3 Tỷ lệ sống của nòng nọc trong thí nghiệm 41
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết Luận 44
5.2 Đề Nghò 45
-vii-
TAỉI LIEU THAM KHAO
PHUẽ LUẽC
-viii-
DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG NỘI DUNG TRANG
Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn 16
Bảng 4.1 Yếu tố nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm 1 22
Bảng 4.2 Yếu tố pH trong thí nghiệm 1 23
Bảng 4.3 Yếu tố DO trong thí nghiệm 1 23
Bảng 4.4 Tỷ lệ sống của nòng nọc trong thí nghiệm 1 24
Bảng 4.5 Trọng lượng của nòng nọc trong thí nghiệm 1 27
Bảng 4.6 Yếu tố nhiệt độ trong thí nghiệm 2 32
Bảng 4.7 Yếu tố pH trong thí nghiệm 2 33
Bảng 4.8 Yếu tố DO trong thí nghiệm 2 33
Bảng 4.9 Trọng lượng của nòng nọc trong thí nghiệm 2 34
Bảng 4.10 Tỷ lệ sống của nòng nọc trong thí nghiệm 2 37

Hình 4.5 Ống tiêu hóa nòng nọc 5 ngày tuổi 21
-xi-
I. GIỚI THIỆU
1.1 Đặt Vấn Đề

Nuôi trồng thủy sản là một trong những ngành phát triển ở Việt Nam hiện
nay. Nó góp phần không nhỏ cho sự phát triển nền kinh tế đất nước trong những năm
qua. Để góp phần phát triển hơn nữa thì ngoài một số đối tượng nuôi phổ biến hiện
nay như: tôm, cua, cá…. Ngành thủy sản cần nghiên cứu và phát triển thêm một số đối
tượng nuôi mới, có giá trò kinh tế cao. Một trong những đối tượng nuôi đang được quan
tâm đầu tư hiện nay là ếch.
Thòt ếch không xa lạ gì với nhân dân ta từ xưa đến nay, là một món ăn ngon,
thường xuyên xuất hiện trong các bữa cơm gia đình. Hiện nay ở một số nhà hàng,
quán ăn thòt ếch được xem như là một món ăn đặc sản, cũng như thòt cá sấu, ba ba hay
đà điểu.
Nghề nuôi ếch cũng là nghề quen thuộc với nông dân ta. Từ xưa nhân dân ta
đã nuôi ếch với loài ếch bản đòa Rana rugulosa (hay còn gọi ếch đồng). Nhưng nhìn
chung phương pháp nuôi vẫn còn lạc hậu, chủ yếu nuôi theo phương pháp thủ công
dân gian. Con giống được bắt từ tự nhiên đem về nuôi trong ao đất hay lồng lưới, thức
ăn là các loại côn trùng như: châu chấu, bươm bướm và gây nuôi một số đối tượng làm
thức ăn cho ếch như: trùn quế…Vì vậy số lượng ếch nuôi không lớn và khó phát triển
với diện tích rộng đồng thời hiệu quả kinh tế không cao.
Trong khi đó một số nước trên thế giới như: Ấn Độ, Nhật Bản, Đài Loan…
nghề nuôi ếch đã phát triển từ lâu. Đặc biệt Thái Lan một nước gần chúng ta cũng đã
có nghề nuôi ếch phát triển từ những năm đầu thập kỷ 90. Ở Thái Lan hai loài ếch
bản đòa Rana tigerina tigrina và Rana rugulosa được nuôi theo quy mô công nghiệp,
ếch nuôi trong các bể xi măng, hoặc lồng lưới dưới ao với mật độ tương đối cao 60-80
con/m
2
, thức ăn sử dụng hoàn toàn bằng thức ăn viên công nghiệp. Năng suất thu được

biến.
Khảo sát ảnh hưởng của việc sử dụng một số loại thức ăn khác nhau lên sự
tăng trưởng và tỷ lệ sống của nòng nọc ếch Thái Lan 2 ngày tuổi.
Khảo sát ảnh hưởng của việc chuyển đổi thức ăn lên sự tăng trưởng và tỷ lệ
sống của nòng nọc ếch Thái Lan 16 ngày tuổi.

- 3-
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc Điểm Sinh Học của Ếch
2.1.1 Phân loại
Ngành: Chordata
Ngành phụ: Craniea
Bộ: Anura
Bộ phụ: Phaneroglossa
Họ: Ranidae
Giống: Rana
Loài: Rana tigerina tigrina (ếch Thái Lan)
Hình 2.1 Ếch Thái Lan
2.1.2 Phân bố – Môi trường sống
2.1.2.1 Phân bố
Trên thế giới nhóm ếch nhái có khoảng 2000 loài (Phạm Trang – Phạm Báu,
1999). Họ ếch là một trong những họ lớn nhất của lớp ếch nhái, gồm 46 giống và 555
loài (Ngô Trọng Lư, 1999). Chúng phân bố nhiều ở vùng nhiệt đới như: Thái Lan, Đài
Loan, Cu Ba, Mỹ, Camaroon…
Việt Nam có nguồn lợi ếch nhái hết sức phong phú, có khoảng 82 loài ếch
nhái như: ếch đồng, ếch gai, ếch cốm, ếch xanh, ếch giun…. Trong đó ếch đồng chiếm
- 4-
đa số và là loài có giá trò cao nhất. Ếch thường tập trung ở miền Nam, nơi có khí hậu
thích hợp cho sự phát triển của chúng.
Ở Thái Lan ếch phân bố khắp cả nước. Trong đó hai loài Rana tigerina

dính liền với lớp cơ, da chỉ gắn với lớp cơ bên dưới theo một vài đường nên tạo thành
những xoang chứa đầy bạch huyết góp phần làm cho da ếch ẩm ướt thích ứng với sự
vận chuyển và hô hấp. Cuối thân có một lỗ gọi là lỗ huyệt là nơi bài tiết phân và nước
tiểu (Trần Kiên, 1996).
 Phần chi: chi trước có bốn ngón, chi sau có năm ngón, góc ngón thứ nhất
của chi trước có một mấu thòt lồi ra, hơi nhám được gọi là “chai sinh dục”, chai sinh
dục phát triển to trong mùa sinh sản, giúp con đực bấu chặt vào con cái khi thực hiện
giao phối. Các ngón chi sau được nối với nhau bởi một màng bơi phát triển, nhờ đó
ếch bơi lội giỏi trong nước (Trần Kiên, 1996).
2.1.4 Cơ quan hô hấp
Ếch vừa sống được dưới nước vừa sống được trên cạn. Phổi ếch là cơ quan hô
hấp khi ếch ở trên cạn, còn da giúp cho ếch thở trong nước hoặc môi trường ẩm ướt.
Da ếch có nhiều tuyến nhày nên da luôn ẩm ướt, tuyến nhày có khả năng hòa tan
được O
2
trong môi trường nước cũng như môi trường cạn. Trong lớp biểu bì của da có
nhiều mao mạch giúp cho sự hô hấp bằng da được thuận lợi. Dưới da ếch có nhiều túi
bạch huyết là nơi cung cấp nước cho da, làm da luôn ẩm ướt. Da ếch đóng vai trò quan
trọng trong hô hấp, nó có khả năng vận chuyển 51% O
2
và 86% CO
2
(Trần Kiên,
1996).
2.1.5 Hệ bài tiết

Ếch có nhu cầu nước rất lớn, do đó sự hấp thụ và bài tiết rất nhanh. Thận bài
tiết nước tiểu qua ống dẫn niệu vào xoang huyệt rồi vào bóng đái. Bóng đái là một túi
lớn, mỏng đổ thẳng vào xoang huyệt. Lượng nước tiểu bài tiết trong 24 giờ có khi
bằng ½ trọng lượng cơ thể. Khi gặp nguy hiểm ếch có khảû năng phóng nước tiểu ra

rơi xuống xoang huyệt. Bám trên tinh hoàn và buồng trứng là thể mỡ màu vàng, cần
thiết cho sự phát triển của tinh hoàn và trứng (Trần Kiên,1996).
- 7-
2.1.8 Sinh sản
Phân biệt đực, cái: ếch đực có túi âm thanh dưới cằm thông với xoang miệng,
túi âm thanh nằm dưới hai cằm, là một nếp nhăn có màu vàng đen. Ngoài ra ở ngón
chân thứ nhất chi trước của ếch đực có một mấu lồi ra hơi nhám gọi là “chai sinh
dục”, nó giúp con đực bấu chặt con cái khi giao cấu. Con cái có bụng tròn to, da hai
bên bụng hơi nhám hơn con đực trong mùa sinh sản.
Thời vụ sinh sản của ếch thường bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 7 âm lòch, ếch
đẻ hai đến ba lứa trong năm. Chúng thường đẻ ở các thủy vực nước cạn, sau những
cơn mưa rào, khi nhiệt độ nước thấp hơn bình thường (25-30
0
C)
Sự sinh sản thường xảy ra vào những cơn mưa đầu mùa, con đực sẽ dùng
tiếng kêu để thu hút con cái. Khi ếch bắt cặp thì con đực sẽ leo lên lưng con cái và
bám chặt nhờ chai sinh dục. Sự thụ tinh là thụ tinh ngoài, con đực phóng tinh trùng vào
trứng con cái vừa đẻ ra. Sau khi thụ tinh trứng rơi xuống và trương to dính vào nhau
tạo thành màng trứng nổi trên mặt nước. Trứng có dạng hình tròn gồm hai phần đen
và trắng rõ rệt, phân nữa hình cầu màu đen gọi là cực động vật, phân nữa hình cầu
màu trắng gọi là cực thực vật (Trần Kiên, 1996).
2.1.9 Sinh trưởng

Trứng ếch khi thụ tinh sẽ nở sau 18-38 giờ. Sau ba tuần thì nòng nọc có thể
biến thái thành ếch con, sau một tháng thì thành ếch giống với trọng lượng từ 1,5-2,5g.
Ếch thương phẩm sau 4-5 tháng nuôi có thể đạt từ 200-400g (Putsatee và ctv, 1995).
2.1.10 Vòng đời của ếch
Ếch bố mẹ trứng (7-8 giờ) Nòng nọc mang ngoài (2-6 ngày)
Ếch trưởng thành Nòng nọc mang trong (8-11 ngày)
Ếch con Nòng nọc hai chân sau (4-8 ngày)

/vụ cho phương pháp bể ướt. Gần đây một số nước nhập
khẩu và nuôi hiệu quả ếch bò như Pháp, Nhật, Tây Ban Nha, Ấn Độ và một số nước
phía đông Châu Á (John Backer, 1998).
Ở Đài Loan đã phát triển nghề nuôi ếch công nghiệp từ năm 1990. Với loài
ếch bản đòa Rana tigrina pan therina, Figzinger. Người ta thu gom ếch bố mẹ trưởng
thành từ tự nhiên về nuôi vỗ và cho sinh sản. Nòng nọc nở ra được tập cho ăn thức ăn
chế biến đến khi thành ếch giống. Ếch giống bán ra được nuôi trong bể xi măng hay
ao đất có lưới bao quanh. Thức ăn được sử dụng là thức ăn viên dạng nổi với hàm
lượng protein 30-35%, lipid 3% được sử dụng nuôi đến thu hoạch. Hệ số sử dụng thức
ăn là 1,5-2,0 (Lo Chen, 1990). Ngoài ra Đài Loan còn nhập giống ếch bò Nam Mỹ
(Rana catesbeiana) để nuôi. Nhưng do khí hậu mùa đông thấp không thích hợp cho sự
phát triển của ếch nên chỉ có thể nuôi được 8-9 tháng trong năm.
- 9-
Thái Lan cũng phát triển nghề nuôi ếch trong những năm qua với 2 loài bản
đòa Rana tigerina tigrina, Rana rugulosa. Gần đây Thái Lan cũng nhập thêm giống ếch
bò Nam Mỹ (Rana catesbeiana) nuôi thử nghiệm. Năm 1995, Thái Lan có trên 300 trại
nuôi ếch quy mô công nghiệp. Ếch được nuôi chủ yếu trong các bể xi măng với kích
cỡ 3x4x1,2m, mức nước 20-30 cm. Trong các bể có đặt giá thể để ếch nhảy lên khỏi
mặt nước và cũng là nơi cho ếch ăn. Mật độ nuôi 60-80 con/m
2
, nòng nọc và ếch thòt
đều được cho ăn bằng thức ăn viên với hàm lượng protein dao động từ 40-28%. Trọng
lượng 300-400g cho loài ếch bò sau khi nuôi 4-5 tháng, còn với ếch bản đòa thì phải
mất 6-8 tháng nuôi (Putsatee và ctv, 1996).
2.3.2 Tình hình nuôi ếch ở Việt Nam
Ở Việt Nam loài ếch bản đòa Rana rugulosa (hay còn gọi ếch đồng) được
nuôi từ lâu ở một số đòa phương miền Bắc như: Đông Anh (Hà Nội), Hiệp Hà, Yên
Phong (Hà Bắc), Tử Lộc (Hải Hưng), Thanh Tất (Hà Tây). Theo Trần Kiên (1996) có
một số hộ nông dân nuôi ếch thành công như: ông Lại Văn Trung ở Đông Anh (Hà
Nội), ông Phan Bá Thìn ở Hiệp Hà (Hà Bắc), ông Phan Ngọc Xứng ở Tứ Lộc (Hải

3
test kit
 Máy đo pH và pH test kit
 Kính hiển vi quang học
 Máy ảnh

Thức ăn cho nòng nọc trong thí nghiệm
 Trùn chỉ
 Thức ăn chế biến dạng ướt
 Thức ăn chế biến dạng khô
 Thức ăn viên công nghiệp

3.4 Phân Tích Mô Học
3.4.1 Cách lấy mẫu và cố đònh mẫu
Mẫu được lấy sau khi nòng nọc được nở ra, cụ thể vào các ngày: N1, N2, N3,
N4, N5 (N: ngày tuổi), mỗi mẫu lấy 10 con.
Mẫu lấy xong được cố đònh ngay trong dung dòch formol trung tính 10%.
- 11-
a. Dụng cụ dùng
Kính hiển vi, máy ảnh
b. Hóa chất
Dung dòch cố đònh mẫu Fomalin trung tính: 10%
Fomalin nguyên chất bão hòa (40%): 100ml
Nước cất: 900ml
Carbonate de calcium: 10gr
Formol trung tính 10% để cố đònh mẫu trong phân tích mô học.

Hình 3.1 Thu mẫu và cố đònh mẫu
3.4.2 Quy trình làm tiêu bản hiển vi
Mẫu sau khi được cố đònh trong dung dòch Formalin sẽ qua giai đoạn ngấm

Alcol 100
0
: 25ml
Ammonium potassium alum: 50gr
Nước cất: 500ml
Mercuric oxide (đỏ): 1,25gr
Quy trình nhuộm gồm các bước sau
1. Mô cắt xong được cho vào tủ sấy cho chảy sáp 10 phút
2. Tẩy sáp qua xilen 15 phút
3. Tẩy sáp qua xilen 25 phút
4. Tẩy xilen bằng Alcol 100
0

1 phút
5. Alcol 95
0
1 phút
6. Alcol 80
0
1 phút
7. Rửa nước để thời gian 1 phút
8. Nhuộm heamatoxyline 3-5 phút
9. Rửa nước 5 phút
10. HCl tẩy heamatoxyline thừa 2 nhúng (díp)
11. Amoniac trung hòa 5 nhúng
12. Rửa nước 5 phút
13. Alcol 70
0
1 phút
14. Eosin 3-5 phút


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status