nghiên cứu sử dụng thức ăn tự chế trong nuôi vỗ thành thục tôm sú mẹ - Pdf 11



1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG











TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THỨC ĂN TỰ CHẾ
TRONG NUÔI VỖ TÁI THÀNH THỤC TÔM SÚ


NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THỨC ĂN TỰ CHẾ
TRONG NUÔI VỖ TÁI THÀNH THỤC TÔM SÚ MẸ Cán bộ hướng dẫn:Sinh viên thực hiện:
ThS.Tăng Minh KhoaDương Minh Tuấn
MSSV: 0753040107
Lớp: NTTS K2
3

Tôi xin cam kết đề tài hoàn toàn dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi. Các kết quả
nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ đề tài nào cùng cấp.

Cần thơ, ngày 27 tháng 05 năm 2011
Sinh viên ký tên


Chủ tịch hội đồng
5TÓM TẮT

Đề tài được thực hiện nhằm làm cơ sở nghiên cứu sử dụng thức ăn tự chế thay thế ốc
mượn hồn trong nuôi vỗ thành thục tôm sú bố mẹ để giảm chi phí trong sản xuất
giống, chủ động nguồn thức ăn cho tôm mẹ đáp ứng cho sản xuất giống tôm sú.
Thông qua đánh giá tỉ lệ đẻ, sức sinh sản của tôm mẹ và tỉ lệ nở của trứng tôm giữa 2
nghiệm thức. Nghiệm thức 1: 6 con tôm mẹ cho ăn 100% ốc mượn hồn; Nghiệm thức
2: 6 tôm mẹ cho ăn 50% thức ăn chế biến + 50% ốc mượn hồn. Cả 2 nghiệm thức
được nuôi vỗ theo quy trình lọc sinh học tuần hoàn.
Kết quả ở nghiệm thức 1 tôm đẻ 19 lần, tỉ lệ đẻ trung bình là 79,2%, sức sinh sản
trung bình 2.508.333 trứng/tôm mẹ, tổng số trứng là 15.050.000 (trứng), tỉ lệ nở
80,7%. Ở nghiệm thức 2 tôm đẻ 21 lần, tỉ lệ đẻ là 87,5%, sức sinh sản trung bình
2.708.333 trứng/tôm mẹ, tổng lượng trứng 16.250.000 (trứng), tỉ lệ nở 79,4%.
Từ khóa: lọc sinh học tuần hoàn, tỉ lệ nở, sức sinh sản.

6MỤC LỤC

3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
3.2. Vật liệu và trang thiết bị 15
3.3. Phương pháp nghiên cứu 16
3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 16
3.3.2. Cắt mắt nuôi vỗ thành thục và cho đẻ 16
3.3.3. Chế độ chăm sóc 17
3.3.4. Phương pháp thu thập và xữ lý số liệu 17
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
4.1. Các yếu tố môi trường 19
4.2. Tỉ lệ đẻ của tôm mẹ 19
4.3. Sức sinh sản của tôm mẹ trong các lần đẻ 20
4.4. Tỉ lệ nở 22
4.5. Khoảng cách giữa các lần đẻ của tôm mẹ 22
4.6. Hạch toán kinh tế 24
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 26 7TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
PHỤ LỤC 30
8 CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Giới thiệu

1.3. Nội dung nghiên cứu
Đánh giá tỉ lệ đẻ, sức sinh sản của tôm mẹ và tỉ lệ nở của trứng tôm giữa tôm mẹ cho
ăn 100% ốc mượn hồn với tôm mẹ cho ăn 50% thức ăn chế biến + 50% ốc mượn hồn. 9CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1. Tình hình nuôi tôm sú trên Thế giới và Việt Nam
Hiện nay trên thế giới, nuôi tôm sú (Penaeus monodon) là một nghề phát triển mạnh
có tầm quan trọng trong nền kinh tế. Theo báo cáo tình hình nuôi trồng thủy sản thế
giới năm 2006 của Tổ chức Lương nông thế giới (FAO), châu Á chiếm 9 trong 10
quốc gia dẫn đầu về nuôi trồng thủy sản. Các quốc gia đứng đầu về sản lượng thủy
sản như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Indonesia, Nhật, Thái Lan, Việt Nam, Hàn
Quốc, Bangladesh và Chile. Nghề nuôi tôm đem lại lợi nhuận cao, góp phần nâng cao
đời sống người dân, phát triển kinh tế cho đất nước, giải quyết việc làm cho người
dân, hạn chế việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên sinh vật biển.
Năm 2004 sản lượng tôm sú của Việt Nam là 290.000 tấn, trong đó Đồng Bằng Sông
Cửu Long là 200.000 tấn. Cả nước sản xuất được 26,1 tỉ tôm giống, trong đó Đồng
Bằng Sông Cửu Long chỉ sản xuất được 7 tỉ con (Bộ Thủy sản, 2005). Việt Nam đã
không ngừng nghiên cứu nhằm nâng cao tay nghề nuôi, nâng cao chất lượng tôm sú
đưa tôm sú Việt Nam vững bước trên con đường phát triển không những về quy mô
diện tích mà còn sự đa dạng hóa các mô hình nuôi. Việt Nam có các mô hình nuôi như
nuôi thâm canh, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến, và mô hình nuôi sinh thái bền
vững.
Nước ta có bờ biển dài hơn 3200 km bờ biển, có nhiều đầm phá, vịnh, cửa sông và
hàng ngàn đảo và quần đảo là nơi thuận lợi cho việc nuôi trồng các loài thủy sản lợ
mặn đặc biệt là nuôi tôm sú. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam tổng sản lượng thuỷ sản cả năm 2010 ước đạt 5.128.000 tấn, tăng 5,3%

Họ: Penaeidae
Giống: Penaeus
Loài: Penaeus monodon
Theo Fabricius (1798).
Tên khoa học: Black Tiger Shrimp.
2.2.2. Hình thái
Fabricius (1798)
được trích dẫn bởi Tăng Minh Khoa (2010), tôm sú (Penaeus
monodon): chủy có 7-8 răng trên chủy và 3-4 răng dưới chủy. Chủy cong xuống rất ít.
Gờ gan dài và cong. Gai đuôi có rãnh nhưng không có gai bên. Phần đầu ngực và
phần bụng có những băng đen ngang. Chân ngực có thể có màu đỏ. Đây là loài tôm
kinh tế có kích cỡ lớn nhất trong nhóm tôm he, cơ thể có thể dài đến 360 mm hay dài
hơn.

Hình 2.1: Hình dạng ngoài của tôm sú.
2.2.3. Phân bố
Theo Bailey –Brock và Moss (1992) thì tôm sú phân bố chủ yếu ở vùng Ấn Độ-Tây
Thái Bình Dương: từ Đông và Đông nam Châu Phi, Pakistan đến Nhật Bản, xuống 11Indonesia và Bắc Úc. Tôm có thể sống ở độ sâu 0-162m, nền đáy bùn, hay cát.
Trưởng thành sống ở biển khơi, giai đoạn ấu niên sống ở cửa sông.
Ở Việt Nam, tôm sú phân bố tập trung nhiều ở vùng ven biển miền trung, ven biển
Nam Bộ. Ở Nam Bộ tôm sú có nhiều ở vùng biển Kiên Giang. Vịnh Bắc Bộ tôm sú rất
hiếm (Nguyễn Anh Tuấn, 1995).
2.3. Đặc điểm sinh học
2.3.1. Tập tính sống

thời gian này hậu ấu trùng lại di cư vào vùng của sông và thường cư trú ở rừng ngập
mặn, nơi có độ mặn dao động từ 5 -20% để kiếm ăn và sinh sống và phát triển. 12
Hình 2.2: Vòng đời tôm sú.
2.3.3. Phân biệt giới tính
Theo Motoh (1981) loài tôm sú có các cơ quan sinh dục phụ. Ở con đực, các nhánh
trong của chân bụng thứ nhất biến thành cơ quan giao vỹ (petasma). Khi chưa thành
thục, các nhánh trong này đơn thuần là những nhánh thon, dẹp, nhưng khi thành thục,
chúng kéo dài và dính lại với nhau nhờ những lông móc nhỏ giữa chúng. Cấu trúc của
petasma đặc trưng riêng cho từng loài.
Cơ quan sinh dục trong của tôm đực bao gồm một đôi tinh sào, đôi ống dẫn tinh và
đầu mút nằm ở vùng tim phía trên của gan tụy. Tinh sào trong suốt và có 5-8 thùy liên
kết lại ở phần gốc và đổ về ống dẫn (deferens). Ống dẫn gồm có đoạn đầu ngắn và
hẹp; đoạn giữa dày và lớn và đoạn cuối dài hẹp. Đầu cuối của ống có túi tinh và đổ ra
gốc của chân ngực 5, có thể nhìn thấy qua lớp vỏ. Túi tinh được hình thành khi các
tinh trùng đi qua ống dẫn.
Cơ quan sinh dục của tôm cái là thelycum. Thelycum là đĩa biến dạng của đốt ngực
thứ 7 và 8. Tôm sú có thelycum kín (2 tấm đậy kín). Cơ quan sinh dục trong của tôm
cái bao gồm một đôi buồng trứng và ống dẫn trứng. Buồng trứng kéo dài theo chiều
dài cơ thể. Buồng trứng có nhiều thùy ở phần đầu và nằm gần dạ dày và vùng tim;
Các thùy bên nằm phía trên của gan tụy; Thùy bụng nằm giữa mặt bên và trên của dãy
ruột và phía dưới của các mạch máu bụng trên lưng (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh
Phương, 2009).

Hình 2.4: Đặc điểm giao vỹ của tôm sú (Penaeus monodon) các giai đoạn từ (a) (d).
2.3.6. Phát triển của tuyến sinh dục
Theo Tan-Fermin và Pudadera (1989) thì sự phát triển của tuyến sinh dục tôm sú như
sau:
Phát triển tuyến sinh dục đực
Tinh dịch có màu sữa hay xám nhạt. Tinh trùng không di động, có hình quả cầu có
chóp gai.
Phát triển tuyến sinh dục cái
Ở tôm sú (Penaeus monodon) có 5 giai đoạn phát triển của buồng trứng dựa trên sự
khác biệt về cỡ trứng, độ rộng tuyến sinh dục và màu sắc.
Giai đoạn I: buồng trứng mỏng, trong suốt, không nhìn thấy được từ bên ngoài. Tôm
sú giai đoạn này trứng có kích cỡ 36 µm thì được bao bởi một lớp folicule và trứng
lớn hơn sẽ có nhân và hạt noãn hoàng. Ở giai đoạn thoái hoá trứng cũng chứa noãn
hoàng và có lớp folicule dày, trứng giai đoạn này có hình dạng không đều.
Giai đoạn II (giai đoạn phát triển): buồng trứng mềm và có màu trắng hay xanh ô-liu,
dạng dãy thẳng. Trứng có kích cỡ trung bình 177 µm có những hạt noãn hoàng. Tế
bào có chất nguyên sinh bao gồm những hạt glycoprotein nhỏ, giọt lipoglycoprotein
và giọt dầu.
Giai đoạn III (giai đoạn gần chín): buồng trứng có màu xanh nhạt, phần trước dày và
nở rộng. Có thể thấy buồng trứng dễ dàng qua lớp vỏ đặc biệt ở đốt bụng thứ nhất.
Trứng có kích cỡ trung bình 215 µm.
Giai đoạn IV (giai đoạn chín): buồng trứng có dạng hạt kim cương nở rộng phủ khắp
đốt bụng thứ nhất. Trứng có màu xanh ô-liu đậm hay xanh rêu đậm và phủ đầy 15khoang cơ thể. Trứng có kích cỡ trung bình 235 µm. Tôm ở giai đoạn này thường

trùng tôm sú trãi qua các giai đoạn nauplii (6 giai đoạn), zoae (3 giai đoạn) và mysis
(3 giai đoạn).
Nauplius: Ấu trùng nauplius mới nở có chiều dài khoảng 0,3 mm, có 3 đôi phụ bộ và
một điểm mắt ở giữa trước. Ấu trùng có tập tính trôi nổi, hướng quang, dinh dưỡng
bằng noãn hoàng.
Zoae: bao gồm 3 giai đoạn phụ: Ấu trùng zoea 1 phân biệt

với nauplius qua một số
đặc điểm như có carapace tròn, các phụ bộ và gai đuôi phát triển. Ở giai đoạn zoae 2
ấu trùng xuất hiện 2 mắt có cuống, chủy có răng, bụng phát triển dài ra. Đôi râu thứ
nhất hướng ra phía trước. Ấu trùng zoae 3

có các gai lưng và gai bụng trên các đốt
bụng. Râu thứ nhất to hơn và có nhiều lông tơ. Các mầm chân ngực xuất hiện phía sau
các phụ bộ miệng. Đặc điểm rõ nhất là chân bụng (uropod) xuất hiện trước đuôi. Ấu
trùng zoae có tính ăn lọc, thụ động, thức ăn chính là tảo, có kích cỡ 3-30µm. Tuy
nhiên zoae 1

vẫn còn sử dụng noãn hoàn trong khi bắt đầu ăn ngoài. Zoae có tính
hướng quang mạnh.
Mysis: có 3 giai đoạn phụ, giai đoạn mysis 1

có cơ thể kéo dài, chân ngực phát triển,
telson xuất hiện, chưa có chân bụng. Mysis

2 có mầm chân bụng nhưng chưa phân
đốt. Mysis 3

có chân bụng phát triển dài gấp đôi so với giai đoạn mysis 2, chân bụng
có 2 đốt. Ấu trùng Mysis dần dần chuyển sang ăn động vật phiêu sinh, bơi ngửa và

giun nhiều tơ, các loại ấu trùng của động vật đáy.
Hiện tượng tôm ăn lẫn nhau xãy ra khi tôm thiếu thức ăn, thức ăn thiếu chất dinh
dưỡng hay mất cân bằng trong dinh dưỡng, và nuôi với mật độ quá dày. Tôm khỏe
thường tấn công tôm yếu, tôm lớn ăn tôm nhỏ và tôm vỏ cứng ăn tôm vỏ mềm.
Tôm sú ăn suốt ngày đêm. Tuy nhiên ăn nhiều vào ban đêm. Tôm cũng ăn nhiều vào
lúc thủy triều lên cao. Tôm thích ăn đáy và ăn ven bờ. Tôm giảm ăn vào những lúc lột
xác. Các yếu tố môi trường cũng ảnh hưởng rất lớn đối vời khả năng bắt mồi của tôm.
Nhiệt độ quá cao hay quá thấp, oxy quá thấp làm tôm giảm ăn. Các yếu tố khác thay
đổi bất ngờ thường gây sốc cho tôm, làm tôm giảm ăn (Tăng Minh Khoa, 2010).
2.3.10. Đặc điểm sinh trưởng
Theo Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009), tôm sú cũng giống như các
loài giáp xác khác, chúng lớn lên nhờ lột xác. Tiến trình lột xác của tôm trãi qua một
số giai đoạn chính là tiền lột xác, lột xác, hậu lột xác, giữa chu kỳ lột xác, với những
diễn biến bao gồm sự kết dính giữa biểu mô và vỏ tôm bị lỏng lẻo ra, cơ thể nhanh
chóng rút ra khỏi vỏ cũ, cơ thể hấp thụ nước để nở rộng vỏ và lớn nhanh, cơ thể cứng
cáp lại nhờ chất khoáng và chất đạm. Do có hiện tượng lột xác nên quá trình tăng
trưởng của tôm không liên tục mà có tính gián đoạn.
Quá trình lột xác của tôm được điều khiển nhờ hormone lột xác được tiết ra từ cơ
quan Y và hormone ức chế lột xác được tiết ra từ cơ quan X. Chu kỳ lột xác là thời
gian giữa hai lần lột xác liên tiếp nhau, chu kỳ này mang tính đặc trưng riêng biệt cho
loài và giai đoạn sinh trưởng của tôm. Chu kỳ lột xác sẽ ngắn ở giai đoạn tôm con và 18kéo dài khi tôm càng lớn. Ngoài ra, quá trình lột xác và tốc độ tăng trưởng của tôm
còn bị ảnh hưởng rất lớn bởi rất nhiều yếu tố như loài, dinh dưỡng, môi trường nước.
Giai đoạn ấu trùng tôm lột xác mổi ngày, tôm càng lớn chu kỳ lột xác càng dài
2.4. Một số nghiên cứu về tôm sú

Tôm cái (tôm đực) 50-70
Hàng ngày
8-9
9-10
10-11
11-12
12-13
14-15
18-21 (23-30) 19tuần hoàn có thể đạt tỉ lệ sống từ giai đoạn giống đến giai đoạn trưởng thành (1 năm
tuổi) là 60% và từ trưởng thành đến thành thục là 80%.
Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về nuôi vỗ thành thục tôm sú bố mẹ để
đáp ứng nhu cầu sản xuất giống trên cơ sở dùng tôm đầm hay tôm ngoài tự nhiên. Lê
Xân (2000) đã nghiên cứu và nuôi vỗ thành thục tôm sú bố mẹ từ tôm sú giống bằng
cách nuôi nhiều giai đoạn đã kết luận rằng tôm nuôi trong ao trưởng thành sau 16 -18
tháng nuôi, khi chuyển sang nuôi vỗ thành thục trong bể cho tỉ lệ 77,7% thành thục
và tỉ lệ con cái được thụ tinh 61.8%. Nguyễn Cơ Thạch và Phan Đình Phúc (2000),
nghiên cứu tôm sú bố mẹ trong lồng ở biển, sau đó lựa chọn tôm tốt nuôi thành thục
trong lồng và trong bể xi măng với thức ăn giàu chất dinh dưỡng. Kết quả cho thấy
tôm nuôi trong bể xi măng có tỉ lệ thành thục cao hơn trong nuôi lồng trên biển và tôm
có nguồn gốc từ ao đầm tỉ lệ thành thục thấp hơn tôm biển. Nguyễn Thanh Phương và
csv (2005), đã nghiên cứu gia hóa và tạo tôm sú bố mẹ chất lượng cao cho kết quả tôm
bố mẹ trọng lượng trên 100g nuôi trong bể lọc tuần hoàn có thể tham gia sinh sản và
tôm gia hóa F1 cho sức sinh sản tương đương với tôm đầm nhưng vẫn ít hơn tôm
biển.

phụ thuộc rất lớn vào loại thức ăn sử dụng khi nuôi vỗ thành thục. Phạm Văn Tình
(2003), phải chọn đúng loại thức ăn tôm mẹ mới thành thục được do trong quá trình
thành thục, chất dinh dưỡng từ gan tụy dược huy động cho sự thành thục của buồng
trứng thông qua quá trình tổng hợp noãn hoàng. Harrision (1997) các mô dự trữ ở gan
tụy nhanh chóng cạn kiệt. Vì vậy, thức ăn thành thục là nguồn dinh dưỡng quan trọng
cho quá trình phát triển của buồng trứng tôm mẹ.
Wouters và csv (2001), các chất dinh dưỡng thiết yếu cho quá trình thành thục của
buồng trứng là các nhóm acid béo thuộc nhóm chất béo lipid, cholesterol, carotennoid,
triglycerid và vitamin (E, C, A). Cụ thể như sau :
Chất béo (lipid): lipid được huy động từ gan tụy và lipid của thức ăn sẽ nhanh chóng
được chuyển hóa và vận chuyển đến buồng trứng đang phát triển. Đặc biệt là nhóm
acid béo thuộc nhóm HUFA và phospholipid. Nhóm acid béo không no cao phân tử (
HUFA) rất quan trọng trong quá trình thành thục gồm EPA 20:5n-3, DHA: 22:6n- 3
và ARA: 20:4n-6 thức ăn tươi sống hay tổng hợp nếu thiếu acid nhóm n-3 sẽ cho chất
lượng thành thục, sức sinh sản, chất lượng trứng rất kém (Wouters và csv, 1999).
ARA là acid thuộc nhóm n-6 là dẫn xuất của hormone prostanlandin quan trọng cho
quá trình thành thục và đẻ trứng. Theo Harrision (1997) thì ARA được phân tích với
hàm lượng cao một số thức ăn nuôi thành thục như trùn biển, vẹm, nghêu, thậm chí
gan heo, gan bò.
Theo Wouters và csv (2001), cho rằng lipid quá cao trong thức ăn sẽ ảnh hưởng xấu
đến buồn trứng đang phát triển. Hàm lượng lipid bình quân cho tôm bố mẹ thường
khoảng 10% là hợp lý.
Phospholipid: có mặt hàm lượng cao trong trứng tôm. Cahu và csv (1994) với nhiều
nghiên cứu đã khẳng định thức ăn nuôi tôm bố mẹ nên có khoảng 2% phospholipid.
Cholesterol: được dự trữ ở gan tụy và chuyển hóa vào buồng trứng trong quá trình
thành thục. Cholesterol có hàm lượng cao trong mực và nghêu (Harrision, 1990).
Triglycerid: là nguồn năng lượng cơ bản cho trứng và ấu trùng cũng như quá trình
thành thục. Trong quá trình thành thục hàm lượng của nó tăng lên do chúng được vận
chuyển vào trứng, hàm lượng của nó giảm khi tôm đẻ (Ravid và csv, 1999).
Nhu cầu đạm và acid amin: quá trình thành thục là thời kỳ cơ thể tôm bố mẹ cần

(nâng cao tỉ lệ sống của ấu trùng) bổ sung 50mg astaxanthin trong 1kg thức ăn của
tôm sú bố mẹ cho sản lượng trứng cao hơn và tỉ lệ biến thái ấu trùng tốt hơn (Dall,
1995). 22CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: từ ngày 1 tháng 3 đến ngày 30 tháng 4 năm 2011
Địa điểm: trại sản xuất giống ĐĂNG KHOA. 179
c
/5 – Khu vục 1 – An Bình – Ninh
Kiều –TP. Cần thơ.
3.2. Vật liệu và trang thiết bị
Bể xử lý nước, bể nuôi tôm bố mẹ (216 lít), bể cho tôm đẻ (0,5m
3
), bể lọc tuần hoàn 3
ngăn giá thể (đá 1x2).
Máy bơm nước, máy thổi khí, máy ozone (4g/h).
Kính hiển vi, khúc xạ kế, các bộ test (pH, NO
2
, ), ống cấp nước, ống PVC, thao
nhựa, vợt, túi lọc, cốc thủy tinh, cân điện tử
Hóa chất sử dụng: EDTA, fomol, chlorine,
Nguồn nước
Nước ót được lấy từ Vỹnh Châu có độ mặn 90 -120‰ pha với nước ngọt sinh hoạt
(nước máy) thành nước 30‰, xử lý chlorine 40ppm sục khí mạnh liên tục trong 48h
cho chlorine bay hơi. Sau đó kiểm tra lại bằng test chlorine nếu còn chlorine thì trung

Thành phần Hàm lượng
Mực 200g
Thịt tép 200g
Sò huyết
Gan bò
100g
100g
DHA 2%
Thức ăn được xay nhuyễn sau đó thêm vào 5% Alginate, tạo viên và cho vào dung
dịch 4% CaCl
2
, bảo quản trong tủ đông sử dụng dần.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Hệ thống nuôi vỗ là hệ thống lọc sinh học tuần hoàn. Trước khi lắp đặt hệ thống phải
vệ sinh sạch sẽ các dụng cụ. Sau khi lắp đặt xong tiến hành bơm nước mặn 30‰ đã
xử lý vào bể nuôi vỗ 216 lít.
Nuôi vỗ 12 con tôm mẹ được mua từ Rạch Gốc huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau kích
cở từ 180 – 250g, màu sắc sáng, đầy đủ phụ bộ, khỏe mạnh. Bố trí ngẫu nhiên 2
nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 6 lần (1 con/bể).
Nghiệm thức 1: chọn 6 con tôm mẹ cho ăn ốc mượn hồn.
Nghiệm thức 2: chọn 6 con tôm mẹ cho ăn ốc mượn hồn 50% + thức ăn tự chế 50%.
Lượng thức ăn cho ăn bằng 30% trọng lượng tôm mẹ và chia đều cho 4 lần/ngày.
Trước mỗi lần cho ăn siphone thức ăn thừa và theo dõi sức khỏe của tôm. Định kỳ 2
ngày xử lý ozone 5 phút để diệt một số bệnh ký sinh như zoothanium,
3.3.2. Cắt mắt nuôi thành thục và cho đẻ
Sau khi bố trí tôm vào bể nuôi vỗ 1 – 2 ngày thấy tôm khỏe mạnh ăn tốt, tiến hành cắt
mắt tôm mẹ. Phương pháp cắt mắt là dùng kéo cắt mắt tôm. Sau khi cắt mắt cho tôm
vào bể nuôi vỗ. Mỗi bể 1 con và cho tôm ăn bình thường và thường xuyên kiểm tra độ
thành thục của buồng trứng tôm. Khi thấy trứng tôm ở giai đoạn IV thì chuẩn bị đưa

được 5 mẫu và tính theo công thức:
(n
1
+
n
2
+
n
3
+
n
4
+
n
5
)
Số trứng = x 5x10
5
(3.1)
25
Trong đó:
n
1
, n
2
, n
3
, n
4
, n

, n
3
, n
4
, n
5
là số nauplii trong 5 mẫu.
Các chỉ tiêu theo dõi
Số lần đẻ/ chu kỳ lột xác của cả 2 nghiệm thức
Số tôm đẻ

Tỉ lệ đẻ = (%)
(3.3)
Số tôm cắt mắt
25 Tổng số lượng trứng

Sức sinh sản trung bình =
(trứng/lần đẻ) (3.4)
Lần đẻ

Số lượng nauplius x 100


Trích đoạn Sức sinh sản của tôm mẹ trong các lần đẻ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status