1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Giải pháp nhằm hoàn thiện
hoạt động thanh toán quốc tế tại
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển
Nông thôn Tây Hà Nội.”
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH
TOÁN QUỐC TẾ 7
1.2.2.3. Phân loại và quy trình thực hiện 14
1.2.2.4. Ưu nhược điểm và trường hợp áp dụng 17
1.2.3. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 18
1.2.3.1. Khái niệm và các văn bản pháp lý điều chỉnh 18
1.2.3.2. Các bên tham gia 19
1.2.3.3. Quy trình thực hiện 20
1.2.3.4. Thư tín dụng thương mại 21
1.2.3.5. Ưu nhược điểm và trường hợp áp dụng 23
3
1.3. Các yếu tố tác động đến hoạt động thanh toán quốc tế tại NHTM
27
1.3.1. Các yếu tố khách quan 27
1.3.2. Các yếu tố chủ quan 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TÂY HÀ NỘI 30
2.1. Giới thiệu chung về ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
2.4.1. Kết quả chung 48
2.4.2. Kết quả đạt được đối với từng phương thức thanh toán 53
2.4.3. Những hạn chế và nguyên nhân 54
2.4.3.1. Hạn chế chung 54
4
2.4.3.2. Hạn chế đối với từng phương thức thanh toán 56
2.4.3.3. Nguyên nhân 58
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT
ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TÂY HÀ NỘI 67
3.1. Những định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại
NHNo Tây Hà Nội 67
3.1.1. Định hướng chung của NHNo&PTNT Việt Nam 67
3.1.2. Phương hướng hoạt động kinh doanh của NHNo Tây Hà Nội
67
3.1.3. Kế hoạch phát triển của NHNo Tây Hà Nội 68
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện phát triển hoạt động thanh toán
quốc tế tại NHNo Tây Hà Nội 70
Trong điều kiện này, ở Việt Nam hiện nay, hoạt động thanh toán quốc tế tại
các ngân hàng thương mại không chỉ góp phần nâng cao uy tín và vai trò
của ngân hàng đó trong phạm vi khu vực và trên trường quốc tế mà còn hỗ
trợ thiết thực và hiệu quả cho phát triển kinh tế đối ngoại
và công tác hội
nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, việc tổng kết thực tiễn và tìm ra các
giải pháp hoàn thiện các hoạt động thanh toán quốc tế tại một ngân hàng
thương mại là điều vô cùng cần thiết.
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Tây Hà Nội (NHNo
Tây Hà Nội) là một chi nhánh của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT Việt Nam), nằm ở trung tâm phía Tây
Hà Nội, một khu vực rất năng động và có nhiều trụ sở của các doanh
nghiệp lớn. Trong những năm qua, hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo
Tây Hà Nội tuy mới được hình thành nhưng đã đạt được nhiều thành tích
đáng kể, phát triển khá nhanh chóng và đã đóng góp một phần không nhỏ
trong kết quả kinh doanh chung của toàn ngân hàng. Tuy vậy, trước xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo
Tây Hà Nội đã gặp phải khá nhiều khó khăn và bộc lộ những mặt hạn chế
cần được khắc phục.
Chính từ thực tế của hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo Tây Hà
Nội, em đã chọn đề tài: “Giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thanh
toán quốc tế tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Tây
Hà Nội” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
6
2. Mục đích và phương pháp nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc nghiên cứu lý thuyết và thực
tiễn hoạt động thanh toán quốc tế của NHNo Tây Hà Nội, đánh giá những
kết quả đạt được cũng như những hạn chế, từ đó luận văn đề xuất một số
giải pháp nhằm hoàn thiện và mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại
này đối với một nước khác. Trong mối quan hệ chi trả này, các quốc gia
phải cùng nhau quy định những yếu tố cấu thành cơ chế thanh toán giữa
các quốc gia như quy định về chủ thể tham gia thanh toán, lựa chọn tiền tệ,
các công cụ và các phương thức đòi hoặc chi trả tiền tệ. Tổng hợp các yếu
tố cấu thành cơ chế đó tạo thành thanh toán quốc tế giữa các quốc gia.
Thanh toán quốc tế có những đặc điểm khác biệt rõ ràng so với thanh
toán quốc nội:
Thứ nhất, thanh toán quốc tế khác thanh toán quốc nội là ở yếu tố
ngoại quốc. Hoạt động thanh toán quốc tế cũng có những đặc điểm tương
tự như hoạt động thanh toán trong nước, tuy vậy nó khác thanh toán quốc
nội ở yếu tố ngoại quốc. Trong đó, yếu tố ngoại quốc được thể hiện trên các
thành tố cụ thể như:
8
+ Chủ thể tham gia thanh toán quốc tế là những người cư trú và phi cư
trú, không phân biệt quốc tịch hay khác quốc tịch hoặc giữa những người
phi cư trú với nhau.
+ Tiền tệ trong thanh toán quốc tế được chuyển khoản từ tài khoản
người phi cư trú sang tài khoản người cư trú hoặc giữa tài khoản hai người
phi cư trú với nhau không kể tài khoản đó mở ở một ngân hàng hay ở hai
ngân hàng ở trong cùng một quốc gia hay ở hai quốc gia khác nhau.
+ Tiền tệ được sử dụng trong thanh toán quốc tế phải là ngoại tệ đối
với một trong hai nước hoặc có thể là nội tệ có nguồn gốc ngoại tệ.
Thứ hai, hoạt động thanh toán quốc tế là một loại dịch vụ mà ngân
hàng cung ứng cho khách hàng. Chính vì vậy, ngoài những đặc điểm
truyền thống của một loại hình dịch vụ ngân hàng như dịch vụ mang tính
vô hình, quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời, không
thể lưu trữ được dịch vụ thì dịch vụ thanh toán quốc tế còn có một số đặc
điểm riêng khác như: cung ứng dịch vụ qua biên giới quốc gia, tiêu dùng
dịch vụ ở nước ngoài, hình thành đại lý dịch vụ ở nước người tiêu dùng
dịch vụ.
hướng dẫn các kỹ thuật trong thanh toán nhằm hạn chế rủi ro và tạo độ tin
cậy lớn cho giao dịch. Mặt khác, với những khách hàng không đủ khả năng
tài chính, Ngân hàng cũng có thể cho vay để thanh toán hàng nhập khẩu,
bảo lãnh mở L/C, chiết khấu chứng từ….Qua đó các doanh nghiệp cũng sẽ
thuận lợi hơn trong việc sản xuất cũng như tiêu thụ hàng hóa trên thị trường
thế giới.
Thực hiện thanh toán quốc tế, Ngân hàng có thể giám sát được tình
hình kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước theo
đúng chính sách kinh tế đối ngoại được đề ra.
10
1.1.2.2. Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Hoạt động thanh toán quốc tế làm tăng tính thanh khoản cho các
Ngân hàng. Điều này xuất phát từ việc khách hàng theo quy định phải
ký quỹ một khoản tiền nhất định khi yêu cầu Ngân hàng thực hiện dịch
vụ thanh toán quốc tế cho mình. Nguồn tiền này khá ổn định và phát
sinh thường xuyên do nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp. Khi
kỳ hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán chưa đến, đây sẽ là một nguồn tạo
thanh khoản cho Ngân hàng dưới hinh thức tiền tệ tập trung nhờ thanh
toán.
Thanh toán quốc tế tạo động lực cho Ngân hàng phát triển ứng
dụng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại. Do yêu cầu của dịch vụ
cần nhanh chóng, chính xác và kết nối quốc tế, thanh toán quốc tế luôn
đòi hỏi sự đầu tư lớn về công nghệ, viễn thông và xử lý dữ liệu. Điều
này làm nâng cao tính hiện đại của hệ thống công nghệ trong toàn Ngân
hàng,
Thêm vào đó, thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ đòi hỏi trình
độ cao về chuyên môn, ngoại ngữ, luật pháp trong nước cũng như quốc
tế. Do đó đòi hỏi cán bộ Ngân hàng phải không ngừng học hỏi, nâng
cao trình độ, trau dồi về kiến thức để phù hợp với yêu cầu công việc.
ở nước người hưởng lợi.
1.2.1.3. Quy trình chuyển tiền
Quy trình chuyển tiền của Ngân hàng được thể hiện ở sơ đồ 1.1 sau:
12
Sơ đồ 1.1: Quy trình chuyển tiền
(1) Người hưởng lợi thực hiện nghĩa vụ quy định trong hiệp định, hợp
đồng hoặc các thỏa thuận.
(2) Người yêu cầu chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng của nước mình
chuyển ngoại tệ ra nước ngoài.
(3) Ngân hàng chuyển tiền báo nợ tài khoản ngoại tệ của người yêu
cầu chuyển tiền.
(4) Ngân hàng chuyển tiền phát lệnh thanh toán cho ngân hàng trả tiền
ở nước người hưởng lợi.
(5) Ngân hàng trả tiền báo nợ tài khoản ngân hàng chuyển tiền.
(6) Ngân hàng trả tiền báo có tài khoản người hưởng lợi.
1.2.1.4. Các hình thức chuyển tiền
Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T, có những dạng
điện là: Telex, Fax, EFT (Electronic Funds Transfer) và SWIFT (Society
for Worldwide Interbank Financial Telecommunication). Trong đó SWIFT
là hình thức phổ biến ngày nay do phương thức chuyển tiền này có ưu điểm
là chuyển thông tin thanh toán nhanh chóng với giá thành hạ và an toàn.
Ngân hàng
chuyển tiền
Người yêu cầu
Người hưởng
Vai trò của ngân hàng thương mại trong phương thức chuyển tiền:
Trong phương thức thanh toán này, ngân hàng thương mại chỉ đóng vai trò
trung gian thanh toán, thực hiện lệnh thanh toán và hưởng phí dịch vụ từ
việc chuyển tiền. Chính vì vậy, ngân hàng ít phải gánh chịu rủi ro trừ khi
ngân hàng cấp tín dụng cho người thanh toán.
1.2.2. Phương thức nhờ thu
1.2.2.1. Khái niệm và các văn bản pháp lý điều chỉnh
Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người
bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách
hàng ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở
hối phiếu của người bán lập ra.
14
Các văn bản pháp lý điều chỉnh: Các quy tắc thống nhất về nhờ thu số
522 của ICC, bản sửa đổi năm 1995, có hiệu lực từ 01/01/1996, viết tắt là
URC (Uniform Rules for Collection revision)
1.2.2.2. Các bên tham gia
Người xuất khẩu, người hưởng lợi (Principal)
Người nhập khẩu, người trả tiền (Drawee)
Ngân hàng nước người xuất khẩu, ngân hàng chuyển (Remitting bank)
Ngân hàng đại lý, ngân hàng nhờ thu (Collecting bank)
1.2.2.3. Phân loại và quy trình thực hiện
a/ Nhờ thu trơn (Clean collection)
Phương thức nhờ thu trơn là phương thức thanh toán mà trong đó
người có các khoản tiền phải thu từ các công cụ thanh toán nhưng không
thể tự mình thu được nên phải ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ghi trên
công cụ thanh toán đó không kèm với điều kiện chuyển giao chứng từ.
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu trơn
nước người nhập khẩu bằng thư nhờ thu và kèm với hối phiếu hoặc hóa
đơn yêu cầu ngân hàng này thu tiền từ người nhập khẩu.
(4) Ngân hàng đại lý xuất trình hối phiếu hoặc hóa đơn yêu cầu người
nhập khẩu trả tiền nếu là hối phiếu trả tiền ngay, hoặc chấp nhận trả tiền
nếu là hối phiếu trả chậm.
(5) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người hưởng lợi, nếu
nhờ thu hối trả chậm thì ngân hàng sẽ chuyển trả hối phiếu đã được người
nhập khẩu ký chấp nhận thanh toán.
(6) Ngân hàng đại lý báo có tài khoản của ngân hàng chuyển.
(7) Ngân hàng chuyển báo có tài khoản của người hưởng lợi.
b/ Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection)
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là một phương thức thanh toán mà
trong đó người có các khoản tiền phải thu ghi trên các công cụ thanh toán
nhưng không thể tự mình thu được từ người bị ký phát mà phải ủy thác cho
ngân hàng thu hộ tiền ghi trên các công cụ thanh toán với điệu kiện là sẽ
giao chứng từ nếu người bị ký phát thanh toán, hoặc chấp nhận thanh toán
hoặc thực hiện điều kiện khác đã quy định.
16
Sơ đồ 1.3: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ (1) Giao hàng.
(2) Lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu.
(3) Ủy thác cho ngân hàng đại lý thu hộ tiền.
(4) Xuất trình hối phiếu đòi tiền và yêu cầu thực hiện các điều kiện
nhờ thu: D/P, D/A, D/TC.
(5) Người trả tiền chấp nhận hay từ chối thanh toán.
(6) Ngân hàng thu thông báo chấp nhận hay từ chối thanh toán.
(7) Ngân hàng chuyển thông báo chấp nhận hay từ chối thanh toán.
Có ba loại nhờ thu kèm chứng từ:
cầu ngân hàng chỉ trao chứng từ cho người mua khi người mua chấp nhận
các điều kiện khác do người bán yêu cầu.
1.2.2.4. Ưu nhược điểm và trường hợp áp dụng
a/ Phương thức nhờ thu phiếu trơn
Ưu điểm của phương thức nhờ thu phiếu trơn là quyền lợi của người
nhập khẩu luôn được đảm bảo hơn so với người xuất khẩu. Người mua có
thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hoặc có thể từ chối
thanh toán, không nhận hàng khi tình hình thị trường có bất lợi với họ.
Tuy vậy phương thức này cũng có nhược điểm là không đảm bảo
được quyền lợi cho người bán vì việc nhận hàng hoàn toàn tách rời khỏi
khâu thanh toán, do vậy người nhập khẩu có thể nhận hàng và không trả
tiền hoặc chậm trễ trả tiền. Người nhập khẩu thường dựa vào lợi thế này để
chiếm dụng vốn của người xuất khẩu, thanh toán chậm, thiếu, thậm chí
viện nhiều lý do để từ chối thanh toán, trong khi hàng đã nhận và tiêu thụ.
Đối với người mua cũng bất lợi khi hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người
mua phải trả tiền ngay mà không biết việc giao hàng có đúng với hợp đồng
hay không.
Vị trí của ngân hàng trong phương thức này chỉ là một trung gian thu
hộ tiền cho khách hàng còn có thu được không, có đủ không, có đúng hạn
hay không thì ngân hàng không chịu trách nhiệm.
b/ Phương thức nhờ thu kèm chứng từ
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ có ưu điểm là quyền lợi của người
xuất khẩu đã được đảm bảo hơn do có sự khống chế của chứng từ. Bên
cạnh đó, quyền lợi của người nhập khẩu cũng được đảm bảo do họ chỉ phải
thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán khi họ muốn nhận hàng.
18
Phương thức này vẫn còn có nhược điểm là người bán thông qua ngân
hàng mới khống chế quyền định đoạt của người mua, chưa khống chế được
tiêu chuẩn quốc tế kiểm tra chứng từ theo L/C số 645 năm 2003 Phòng
thương mại quốc tế (International Standard Banking Practice for the
examination of documents under documentary credits – ISBP 645 2003
ICC) và Bản phụ trương UCP 500 về việc xuất trình chứng từ điện tử
(Supplement to UCP500 for Electronic Presentation, version 1.0. eUCP 1.0
2002 ICC).
1.2.3.2. Các bên tham gia
Người yêu cầu mở thư tín dụng, là người nhập khẩu hoặc là người
nhập khẩu ủy thác cho một người khác (Applicant).
Ngân hàng phát hành thư tín dụng, là ngân hàng của người nhập khẩu,
nó cấp tín dụng cho người nhập khẩu (Issuing Bank).
Người hưởng lợi thư tín dụng, là người xuất khẩu hay bất cứ người
nào khác mà người hưởng lợi chỉ định (Beneficiary).
Ngân hàng thông báo thư tín dụng, là ngân hàng đại lý của ngân hàng
phát hành ở nước người hưởng lợi (Advising Bank).
Ngoài ra còn có thể các chủ thể khác tham gia như:
Ngân hàng xác nhận (Confirming bank): là ngân hàng cam kết thanh
toán cho người xuất khẩu thay cho ngân hàng mở L/C.
Ngân hàng chiết khấu (Negotiating bank): là ngân hàng chiết khấu bộ
chứng từ của người xuất khẩu sau đó ngân hàng này đứng ra đòi tiền ngân
hàng mở L/C.
Ngân hàng chuyển nhượng (Transfering bank): trong trường hợp tín
dụng được phép chuyển nhượng thì ngân hàng này sẽ đứng ra làm thủ tục
chuyển nhượng thư tín dụng từ người hưởng thứ nhất sang người hưởng lợi
20
thứ hai theo yêu cầu của người mở thư tín dụng và người hưởng lợi thứ
nhất.
Ngân hàng hoàn tiền (Reimbursing Bank): là ngân hàng được ngân
hàng mở L/C chỉ thị hoặc ủy quyền hoàn tiền cho ngân hàng phục vụ người
xuất khẩu (tức ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng chiết khấu) khi nhận
1
6
7
8
8
1
1
4
21
(3) Ngân hàng thông báo tiến hành thông báo L/C và chuyển bản L/C
gốc cho người hưởng lợi.
(4) Giao hàng.
(5) Xuất trình chứng từ đòi tiền ngân hàng phát hành L/C.
(6) Ngân hàng phát hành thông báo kết quả kiểm tra chứng từ cho
người yêu cầu.
(7) Người yêu cầu chấp nhận hay từ chối thanh toán.
(8) Ngân hàng phát hành thông báo chấp nhận hay từ chối nhận chứng từ.
1.2.3.4. Thư tín dụng thương mại
22
Thư tín dụng thương mại (Letter of credit – L/C) là một chứng thư
trong đó ngân hàng phát hành L/C sẽ cam kết trả tiền cho người xuất khẩu
hợp nào.
Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C): là loại L/C không thể hủy bỏ
sau khi sử dụng xong thì nó lại tự động có giá trị như cũ, và cứ như vậy nó
cứ tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị hợp đồng được thực hiện.
Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C): là loại thư tín dụng
trong đó có quy định quyền của người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu
ngân hàng phát hành L/C, hoặc là ngân hàng chỉ định chuyển nhượng toàn
bộ hay một phần quyền thực hiện L/C cho một người hay nhiều người
khác.
Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C): người hưởng lợi một L/C
dùng L/C như một tài sản thế chấp để yêu cầu phát hành một L/C khác cho
người hưởng lợi khác hưởng, L/C phát hành sau gọi là L/C giáp lưng.
Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): là loại thư tín dụng chỉ bắt đầu
có hiệu lực khi thư tín dụng kia đối ứng với nó đã mở ra.
Thư tín dụng xác nhận (Confirmed L/C): là loại thư tín dụng không thể
hủy bỏ được một ngân hàng khác xác nhận trả tiền theo yêu cầu của ngân
hàng phát hành L/C.
Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C): là loại L/C ứng trước
một phần tiền cho người hưởng lợi L/C trước khi giao hàng.
Thư tín dụng thanh toán dần về sau (Deferred payment L/C): là loại
thư tín dụng không thể hủy bỏ, trong đó ngân hàng phát hành L/C hay ngân
hàng xác nhận L/C cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán dần dần toàn
bộ số tiền của L/C trong những thời hạn quy định rõ trong L/C đó.
1.2.3.5. Ưu nhược điểm và trường hợp áp dụng
24
Đối với người xuất khẩu
Ưu điểm của phương thức tín dụng chứng từ đối với người xuất khẩu
là việc khả năng thanh toán đã được đảm bảo hơn. Người xuất khẩu nếu sử
dụng phương thức này sẽ được đảm bảo chắc chắn rằng sau khi giao hàng
và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo những điều qui định trong L/C
hàng tài trợ vốn tín dụng hoặc được ngân hàng ưu đãi bằng cách cho vay
tín dụng theo cách ký quỹ nhỏ hơn 100% giá trị L/C hoặc thanh toán trước
cho người xuất khẩu rồi mới đòi tiền người nhập khẩu.
Tuy vậy cũng có một số nhược điểm khi người nhập khẩu sử dụng
phương thức L/C, đó là phương thức này có thể đem đến rủi ro cho người
nhập khẩu do thanh toán bằng L/C là giao dịch trên cơ sở chứng từ nên khi
thực hiện nghĩa vụ trả tiền, bản thân người nhập khẩu vẫn chưa xác định
được hàng hóa. Vì thế, có thể người mua sẽ phải chịu thiệt hại khi người
bán có hành vi lừa đảo giao hàng không đúng với chứng từ đã lập hoặc
người bán làm cách nào đó có được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với
yêu cầu của L/C nhưng chưa giao hàng hoặc giao hàng thiếu, giao hàng
kém chất lượng…
Một nhược điểm khác đó là chi phí thanh toán bằng phương thức này
khá cao do người mua ngoài việc phải ký quỹ mở L/C còn phải trả phí cam
kết vay vốn hoặc chuyển khoản thanh toán và các chi phí khác.
Đối với ngân hàng
Phương thức tín dụng chứng từ đưa ra một hình thức đảm bảo cho các
bên tham gia, gồm có cả ngân hàng, đảm bảo thanh toán với diều kiện các
điều kiện của L/C được thực hiện và phù hợp. Ngân hàng chỉ có trách
nhiệm kiểm tra bề mặt trong thời hạn quy định xem có phù hợp với L/C
hay không, ngân hàng không chịu trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của
chứng từ, tính chất xác thực của chứng từ, mọi tranh chấp về tính chất “bên