Giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Tây Hà Nội - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế thế giới đã và đang là một xu thế tất yếu trong thế
giới ngày nay khi làn sóng toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ.
Trong điều kiện này, ở Việt Nam hiện nay, hoạt động thanh toán quốc tế tại
các ngân hàng thương mại không chỉ góp phần nâng cao uy tín và vai trò
của ngân hàng đó trong phạm vi khu vực và trên trường quốc tế mà còn hỗ
trợ thiết thực và hiệu quả cho phát triển kinh tế đối ngoại và công tác hội
nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, việc tổng kết thực tiễn và tìm ra các
giải pháp hoàn thiện các hoạt động thanh toán quốc tế tại một ngân hàng
thương mại là điều vô cùng cần thiết.
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Tây Hà Nội (NHNo
Tây Hà Nội) là một chi nhánh của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT Việt Nam), nằm ở trung tâm phía Tây
Hà Nội, một khu vực rất năng động và có nhiều trụ sở của các doanh
nghiệp lớn. Trong những năm qua, hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo
Tây Hà Nội tuy mới được hình thành nhưng đã đạt được nhiều thành tích
đáng kể, phát triển khá nhanh chóng và đã đóng góp một phần không nhỏ
trong kết quả kinh doanh chung của toàn ngân hàng. Tuy vậy, trước xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo
Tây Hà Nội đã gặp phải khá nhiều khó khăn và bộc lộ những mặt hạn chế
cần được khắc phục.
Chính từ thực tế của hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo Tây Hà
Nội, em đã chọn đề tài: “Giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thanh
toán quốc tế tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Tây
Hà Nội” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
1
2. Mục đích và phương pháp nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc nghiên cứu lý thuyết và thực
tiễn hoạt động thanh toán quốc tế của NHNo Tây Hà Nội, đánh giá những
kết quả đạt được cũng như những hạn chế, từ đó luận văn đề xuất một số

các công cụ và các phương thức đòi hoặc chi trả tiền tệ. Tổng hợp các yếu
tố cấu thành cơ chế đó tạo thành thanh toán quốc tế giữa các quốc gia.
Thanh toán quốc tế có những đặc điểm khác biệt rõ ràng so với thanh
toán quốc nội:
Thứ nhất, thanh toán quốc tế khác thanh toán quốc nội là ở yếu tố
ngoại quốc. Hoạt động thanh toán quốc tế cũng có những đặc điểm tương
tự như hoạt động thanh toán trong nước, tuy vậy nó khác thanh toán quốc
nội ở yếu tố ngoại quốc. Trong đó, yếu tố ngoại quốc được thể hiện trên
các thành tố cụ thể như:
3
+ Chủ thể tham gia thanh toán quốc tế là những người cư trú và phi cư
trú, không phân biệt quốc tịch hay khác quốc tịch hoặc giữa những người
phi cư trú với nhau.
+ Tiền tệ trong thanh toán quốc tế được chuyển khoản từ tài khoản
người phi cư trú sang tài khoản người cư trú hoặc giữa tài khoản hai người
phi cư trú với nhau không kể tài khoản đó mở ở một ngân hàng hay ở hai
ngân hàng ở trong cùng một quốc gia hay ở hai quốc gia khác nhau.
+ Tiền tệ được sử dụng trong thanh toán quốc tế phải là ngoại tệ đối
với một trong hai nước hoặc có thể là nội tệ có nguồn gốc ngoại tệ.
Thứ hai, hoạt động thanh toán quốc tế là một loại dịch vụ mà ngân
hàng cung ứng cho khách hàng. Chính vì vậy, ngoài những đặc điểm
truyền thống của một loại hình dịch vụ ngân hàng như dịch vụ mang tính
vô hình, quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời, không
thể lưu trữ được dịch vụ thì dịch vụ thanh toán quốc tế còn có một số đặc
điểm riêng khác như: cung ứng dịch vụ qua biên giới quốc gia, tiêu dùng
dịch vụ ở nước ngoài, hình thành đại lý dịch vụ ở nước người tiêu dùng
dịch vụ.
Thứ ba, hoạt động thanh toán quốc tế còn chứa đựng nhiều rủi ro tiềm
ẩn. Nguyên nhân phát sinh những rủi ro này là không gian thanh toán lớn,
thời gian thanh toán dài, cơ sở vật chất và khoa học kỹ thuật phục vụ thanh

bảo lãnh mở L/C, chiết khấu chứng từ….Qua đó các doanh nghiệp cũng sẽ
thuận lợi hơn trong việc sản xuất cũng như tiêu thụ hàng hóa trên thị trường
thế giới.
Thực hiện thanh toán quốc tế, Ngân hàng có thể giám sát được tình
hình kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước theo
đúng chính sách kinh tế đối ngoại được đề ra.
5
1.1.2.2. Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Hoạt động thanh toán quốc tế làm tăng tính thanh khoản cho các
Ngân hàng. Điều này xuất phát từ việc khách hàng theo quy định phải
ký quỹ một khoản tiền nhất định khi yêu cầu Ngân hàng thực hiện dịch
vụ thanh toán quốc tế cho mình. Nguồn tiền này khá ổn định và phát
sinh thường xuyên do nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp. Khi
kỳ hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán chưa đến, đây sẽ là một nguồn tạo
thanh khoản cho Ngân hàng dưới hinh thức tiền tệ tập trung nhờ thanh
toán.
Thanh toán quốc tế tạo động lực cho Ngân hàng phát triển ứng
dụng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại. Do yêu cầu của dịch vụ
cần nhanh chóng, chính xác và kết nối quốc tế, thanh toán quốc tế luôn
đòi hỏi sự đầu tư lớn về công nghệ, viễn thông và xử lý dữ liệu. Điều
này làm nâng cao tính hiện đại của hệ thống công nghệ trong toàn Ngân
hàng,
Thêm vào đó, thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ đòi hỏi trình
độ cao về chuyên môn, ngoại ngữ, luật pháp trong nước cũng như quốc
tế. Do đó đòi hỏi cán bộ Ngân hàng phải không ngừng học hỏi, nâng
cao trình độ, trau dồi về kiến thức để phù hợp với yêu cầu công việc.
Trên cơ sở giúp Ngân hàng nâng cao chất lượng về công nghệ và
nhân lực, thanh toán quốc tế giúp các Ngân hàng tạo dựng được uy tín,
niềm tin với khách hàng, thu hút nhiều khách hàng mới có nhu cầu
thanh toán quốc tế, từ đó nâng cao sức cạnh tranh và lợi nhuận trên thị

Sơ đồ 1.1: Quy trình chuyển tiền
(1) Người hưởng lợi thực hiện nghĩa vụ quy định trong hiệp định, hợp
đồng hoặc các thỏa thuận.
(2) Người yêu cầu chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng của nước mình
chuyển ngoại tệ ra nước ngoài.
(3) Ngân hàng chuyển tiền báo nợ tài khoản ngoại tệ của người yêu
cầu chuyển tiền.
(4) Ngân hàng chuyển tiền phát lệnh thanh toán cho ngân hàng trả tiền
ở nước người hưởng lợi.
(5) Ngân hàng trả tiền báo nợ tài khoản ngân hàng chuyển tiền.
(6) Ngân hàng trả tiền báo có tài khoản người hưởng lợi.
1.2.1.4. Các hình thức chuyển tiền
Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T, có những dạng
điện là: Telex, Fax, EFT (Electronic Funds Transfer) và SWIFT (Society
for Worldwide Interbank Financial Telecommunication). Trong đó SWIFT
là hình thức phổ biến ngày nay do phương thức chuyển tiền này có ưu điểm
là chuyển thông tin thanh toán nhanh chóng với giá thành hạ và an toàn.
Ngân hàng
chuyển tiền
Người yêu cầu
Người hưởng
lợi
Ngân hàng trả
tiền
4
3 2
1
6
5
8

Người xuất khẩu, người hưởng lợi (Principal)
Người nhập khẩu, người trả tiền (Drawee)
Ngân hàng nước người xuất khẩu, ngân hàng chuyển (Remitting bank)
Ngân hàng đại lý, ngân hàng nhờ thu (Collecting bank)
1.2.2.3. Phân loại và quy trình thực hiện
a/ Nhờ thu trơn (Clean collection)
Phương thức nhờ thu trơn là phương thức thanh toán mà trong đó
người có các khoản tiền phải thu từ các công cụ thanh toán nhưng không
thể tự mình thu được nên phải ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ghi trên
công cụ thanh toán đó không kèm với điều kiện chuyển giao chứng từ.
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu trơn
(1) Người xuất khẩu hoặc người cung ứng dịch vụ giao hàng hoặc
cung ứng dịch vụ và gửi trực tiếp chứng từ giao hàng cho người nhập khẩu.
7
2
Ngân hàng
chuyển
Người hưởng
lợi
Ngân hàng thu
Người trả tiền
6
1
3
4 5
10
(2) Người xuất khẩu hoặc người cung ứng dịch vụ ký phát một hối
phiếu, một hóa đơn đòi tiền người nhập khẩu và viết lệnh nhờ thu ủy thác
cho ngân hàng nước mình thu tiền từ người nhập khẩu.
(3) Ngân hàng chuyển ủy thác cho ngân hàng đại lý của nước mình ở

người bán yêu cầu ngân hàng chỉ trao chứng từ cho người mua khi người
mua đã trả tiền hối phiếu cho người ký phát.
Thứ hai là nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ - D/A (Documents Against
Acceptance), người bán yêu cầu ngân hàng chỉ trao chứng từ cho người
mua khi người mua chấp nhận trả tiền hối phiếu do người bán ký phát.
Ngân hàng
chuyển
Người hưởng
lợi
Ngân hàng thu
Người trả tiền
6
7 2
1
3
4 5
12
Cuối cùng là nhờ thu trao chứng từ khi thực hiện các điều kiện khác –
D/TC (Documents Against other Terms and Conditions), người bán yêu
cầu ngân hàng chỉ trao chứng từ cho người mua khi người mua chấp nhận
các điều kiện khác do người bán yêu cầu.
1.2.2.4. Ưu nhược điểm và trường hợp áp dụng
a/ Phương thức nhờ thu phiếu trơn
Ưu điểm của phương thức nhờ thu phiếu trơn là quyền lợi của người
nhập khẩu luôn được đảm bảo hơn so với người xuất khẩu. Người mua có
thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hoặc có thể từ chối
thanh toán, không nhận hàng khi tình hình thị trường có bất lợi với họ.
Tuy vậy phương thức này cũng có nhược điểm là không đảm bảo
được quyền lợi cho người bán vì việc nhận hàng hoàn toàn tách rời khỏi
khâu thanh toán, do vậy người nhập khẩu có thể nhận hàng và không trả

số thị trường không có tập quán sử dụng phương thức tín dụng chứng từ thì
phương thức nhờ thu cũng được sử dụng.
1.2.3. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.2.3.1. Khái niệm và các văn bản pháp lý điều chỉnh
14
Nguồn pháp lý điều chỉnh phương thức tín dụng chứng từ là “Các tập
quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, số 500, bản sửa đổi
năm 2000” của Phòng thương mại quốc tế – UCP 500 (The Uniform
Customs and Practice for Documentary Credits, Revision 2000, ICC
Publication No 500). Tuy vậy bản quy tắc này mang tính chất pháp lý tùy
ý, có nghĩa là khi áp dụng nó các bên đương sự phải thỏa thuận ghi vào
L/C, đồng thời có thể thỏa thuận khác, miễn là có ghi rõ trong nội dung
L/C.
Ngoài ra còn có các văn bản khác điều chỉnh như: Tập quán ngân hàng
tiêu chuẩn quốc tế kiểm tra chứng từ theo L/C số 645 năm 2003 Phòng
thương mại quốc tế (International Standard Banking Practice for the
examination of documents under documentary credits – ISBP 645 2003
ICC) và Bản phụ trương UCP 500 về việc xuất trình chứng từ điện tử
(Supplement to UCP500 for Electronic Presentation, version 1.0. eUCP 1.0
2002 ICC).
1.2.3.2. Các bên tham gia
15
Người yêu cầu mở thư tín dụng, là người nhập khẩu hoặc là người
nhập khẩu ủy thác cho một người khác (Applicant).
Ngân hàng phát hành thư tín dụng, là ngân hàng của người nhập khẩu,
nó cấp tín dụng cho người nhập khẩu (Issuing Bank).
Người hưởng lợi thư tín dụng, là người xuất khẩu hay bất cứ người
nào khác mà người hưởng lợi chỉ định (Beneficiary).
Ngân hàng thông báo thư tín dụng, là ngân hàng đại lý của ngân hàng
phát hành ở nước người hưởng lợi (Advising Bank).

(8) Ngân hàng phát hành thông báo chấp nhận hay từ chối nhận chứng từ.
1.2.3.4. Thư tín dụng thương mại
5
Người hưởng lợi Người yêu cầu
Chi nhánh ngân
hàng phát hành
Ngân hàng thông
báo
Ngân hàng phát
hành
7
6
35
2
1
6
7
8
8
1
1
4
17
Thư tín dụng thương mại (Letter of credit – L/C) là một chứng thư
trong đó ngân hàng phát hành L/C sẽ cam kết trả tiền cho người xuất khẩu
nếu họ xuất trình được các chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều
khoản quy định trong L/C.
Thư tín dụng thương mại có tính chất rất quan trọng là thư tín dụng
được soạn thảo trên cơ sở hợp đồng mua bán ngoại thương nhưng sau khi
phát hành nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán ngoại thương.

trong đó có quy định quyền của người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu
ngân hàng phát hành L/C, hoặc là ngân hàng chỉ định chuyển nhượng toàn
bộ hay một phần quyền thực hiện L/C cho một người hay nhiều người
khác.
Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C): người hưởng lợi một L/C
dùng L/C như một tài sản thế chấp để yêu cầu phát hành một L/C khác cho
người hưởng lợi khác hưởng, L/C phát hành sau gọi là L/C giáp lưng.
Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): là loại thư tín dụng chỉ bắt đầu
có hiệu lực khi thư tín dụng kia đối ứng với nó đã mở ra.
Thư tín dụng xác nhận (Confirmed L/C): là loại thư tín dụng không thể
hủy bỏ được một ngân hàng khác xác nhận trả tiền theo yêu cầu của ngân
hàng phát hành L/C.
Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C): là loại L/C ứng trước
một phần tiền cho người hưởng lợi L/C trước khi giao hàng.
Thư tín dụng thanh toán dần về sau (Deferred payment L/C): là loại thư
tín dụng không thể hủy bỏ, trong đó ngân hàng phát hành L/C hay ngân
hàng xác nhận L/C cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán dần dần toàn
bộ số tiền của L/C trong những thời hạn quy định rõ trong L/C đó.
1.2.3.5. Ưu nhược điểm và trường hợp áp dụng
19
Đối với người xuất khẩu
Ưu điểm của phương thức tín dụng chứng từ đối với người xuất khẩu
là việc khả năng thanh toán đã được đảm bảo hơn. Người xuất khẩu nếu sử
dụng phương thức này sẽ được đảm bảo chắc chắn rằng sau khi giao hàng
và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo những điều qui định trong L/C
thì được thanh toán tiền hàng nhanh chóng.
Ngoài ra, khả năng vay vốn của người xuất khẩu theo L/C cũng cao
hơn. Do người xuất khẩu thường không sử dụng tiền tự có của mình để đi
gom hàng mà thường đi vay vốn. Nếu người xuất khẩu sử dụng phương
thức tín dụng chứng từ, khả năng được thanh toán của họ cao hơn, do vậy

nhập khẩu do thanh toán bằng L/C là giao dịch trên cơ sở chứng từ nên khi
thực hiện nghĩa vụ trả tiền, bản thân người nhập khẩu vẫn chưa xác định
được hàng hóa. Vì thế, có thể người mua sẽ phải chịu thiệt hại khi người
bán có hành vi lừa đảo giao hàng không đúng với chứng từ đã lập hoặc
người bán làm cách nào đó có được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với
yêu cầu của L/C nhưng chưa giao hàng hoặc giao hàng thiếu, giao hàng
kém chất lượng…
Một nhược điểm khác đó là chi phí thanh toán bằng phương thức này
khá cao do người mua ngoài việc phải ký quỹ mở L/C còn phải trả phí cam
kết vay vốn hoặc chuyển khoản thanh toán và các chi phí khác.
Đối với ngân hàng
21
Phương thức tín dụng chứng từ đưa ra một hình thức đảm bảo cho các
bên tham gia, gồm có cả ngân hàng, đảm bảo thanh toán với diều kiện các
điều kiện của L/C được thực hiện và phù hợp. Ngân hàng chỉ có trách
nhiệm kiểm tra bề mặt trong thời hạn quy định xem có phù hợp với L/C
hay không, ngân hàng không chịu trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của
chứng từ, tính chất xác thực của chứng từ, mọi tranh chấp về tính chất “bên
trong” của chứng từ do người nhập khẩu và người hưởng lợi L/C giải
quyết. Hơn nữa, thông qua phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng còn
có thể thu một khoản phí dịch vụ hoặc thu được một khoản lãi nếu khách
hàng vay…
Tuy nhiên phương thức L/C cũng là phương thức chứa nhiều rủi ro
cho ngân hàng hơn so với phương thức nhờ thu và phương thức chuyển
tiền. Do trong phương thức này, ngân hàng đã tham gia với tư cách là một
thành viên của hoạt động thanh toán, vì vậy cũng phải chịu trách nhiệm về
hoạt động kinh doanh. Tuy ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm kiểm tra tính
xác thực “bề ngoài” của bộ chứng từ nhưng nếu kiểm tra không kỹ, dù có
sai sót nhưng vẫn trả tiền cho người xuất khẩu thì sau đó nếu người nhập
khẩu kiểm tra lại thấy bộ chứng từ không hoàn hảo thì sẽ có quyền từ chối

tiết những hoạt động của nền kinh tế, đặc biệt là ngoại thương. Tỷ giá cao
hay thấp sẽ trực tiếp khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động xuất nhập khẩu.
Và rõ ràng điều này ảnh hưởng đến thanh toán quốc tế của Ngân hàng
thương mại.
1.3.1.3. Chính sách quản lý ngoại hối
Chính sách quản lý ngoại hối là những quy định pháp lý, những thể lệ
của Ngân hàng Nhà nước trong việc quản lý ngoại tệ, vàng bạc, đá quý và các
giấy tờ có giá trị bằng ngoại tệ; cũng như việc trao đổi, sử dụng, mua bán
ngoại tệ trên thị trường và trong quan hệ thanh toán, tín dụng với nước ngoài.
23
Chính vì vậy Ngân hàng thương mại khi hoạt động thanh toán quốc tế phải
đảm bảo chấp hành, nghiêm ngặt các quy định quản lý ngoại hối Nhà nước đã
ban hành. Sự hợp lý, hay không phù hợp của chính sách ngoại hối đều có ảnh
hưởng đến việc thanh toán quốc tế của các Ngân hàng thương mai,
1.3.1.4. Tình hình phát triển các hoạt động thương mại quốc tế của
quốc gia
Hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại chịu ảnh
hưởng trực tiếp từ sự phát triển thương mại quốc tế của một quốc gia. Nếu
hoạt động này phát triển tốt, nhu cầu về xuất nhập khẩu hàng hóa cao, hoạt
động thanh toán quốc tế sẽ có điều kiện mở rộng. Ngược lại sự trì trệ trong
thương mại quốc tế sẽ thu hẹp hoạt động thanh toán quôc tế nói chung tại
các Ngân hàng thương mại.
1.3.2. Các yếu tố chủ quan
1.3.2.1. Nguồn lực của Ngân hàng
Không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế mà vấn đề
nguồn lực còn có ảnh hưởng quan trọng đến toàn bộ hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng thương mại. Một nguồn lực mạnh sẽ giúp Ngân hàng vận
hành trôi chảy các hoạt động của mình, không ngừng mở rộng quy mô.
Bên cạnh đó, nguồn lực của mỗi Ngân hàng là yếu tố quyết định đến
việc cải tiến, đổi mới công nghệ trong thanh toán quốc tế. Điều này có thể

sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động này, nâng cao chất lượng
dịch vụ, đẩy nhanh quá trình và thời gian thanh toán, tạo điều kiện giao
dịch thuận lợi nhất cho khách hàng. Chính vì vậy đổi mới công nghệ là vấn
đề sống còn trong việc phát triển thanh toán quốc tế.
25

Trích đoạn Hạn chế chung Hạn chế đối với từng phương thức thanh toán Kế hoạch phát triển của NHNo Tây Hà Nội Giảm bớt sự chồng chéo, phức tạp trong việc thực hiện nghiệp Hoàn thiện các nghiệp vụ hiện có tại Chi nhánh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status