ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TIỂU LUẬN MÔN HỌC:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRONG TIN HỌC
ĐỀ TÀI:
NHỮNG NGUYÊN LÝ SÁNG TẠO VÀ ỨNG
DỤNG TRONG CẤU TRÚC IPv6 GVHD: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm
Người thực hiện: Nguyễn Hoàng Sỹ
Mã số: CH1101037
Lớp: CH06
Tp.HCM, tháng 03 năm 2012
VI.3.1/ RIPng (RIP Next Generation): 19
VI.3.2/ EIGRP cho IPv6: 20
VI.3.3/ OSPFv3 cho IPv6: 22
PHẦN B: NHỮNG NGUYÊN LÝ SÁNG TẠO ỨNG DỤNG TRONG IPv6 24
I. Nguyên lý phân nhỏ: 24
II. Nguyên lý tách khỏi: 24
III. Nguyên lý phẩm chất cục bộ: 25
IV. Nguyên lý kết hợp: 26
V. Nguyên lý vạn năng: 27
VI. Nguyên lý chứa trong: 27
VII. Nguyên lý gây ứng suất sơ bộ: 28
VIII. Nguyên lý thực hiện sơ bộ: 28
IX. Nguyên lý dự phòng: 29
X. Nguyên lý năng động 29
XI. Nguyên lý tác động hữu hiệu: 30
XII. Nguyên lý rẻ thay cho đắt: 30
XIII. Nguyên lý quan hệ phản hồi: 31
XV. Nguyên lý sử dụng trung gian: 31
XVI. Nguyên lý tự phục vụ: 32
XVII. Nguyên lý sao chép (copy) 32
PHẦN C : DEMO CẤU TRÚC VÀ TRIỂN KHAI IPv6 (Video minh họa kèm theo)
32
KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33 LỜI MỞ ĐẦU
hàng đầu như Facebook, Google, Yahoo và Microsoft Bing sẽ
chuyển sang IPv6 lâu dài vào ngày 06/06/2012 .
IPv6 cho phép tăng lên đến 2128 địa chỉ, 3 bit đầu luôn là 001
được giành cho các địa chỉ khả định tuyến toàn cầu (Globally
Routable Unicast –GRU) còn lại 2125 địa chỉ, nghĩa là có khoảng 4,25.1037 địa chỉ,
trong khi IPv4 chỉ có tối đa 3,7.109 địa chỉ, nghĩa là IPv6 sẽ chứa 1028 tầm địa chỉ
IPv4, một sự gia tăng khổng lồ so với 232 (khoảng 4.3 tỷ) địa chỉ của IPv4. Đây là một
không gian địa chỉ cực lớn với mục đích không chỉ cho Internet mà còn cho tất cả các
mạng máy tính, hệ thống viễn thông, hệ thống điều khiển thậm chí cho từng vật dụng
trong gia đình. Người ta nói rằng từng chiếc điều hòa, tủ lạnh, máy giặt hay nồi cơm
điện v.v của từng gia đình một cũng sẽ mang một địa chỉ IPv6 để chủ nhân của chúng
có thể kết nối và ra lệnh từ xa. Nhu cầu hiện nay, ước tính chỉ cần 15% không gian địa
chỉ IPv6 còn 85% dự phòng cho tương lai.
Hệ thống IPv6 hay còn gọi là IPng (Next Generation: thế hệ kế tiếp) được thiết kế với
hy vọng khắc phục những hạn chế vốn có của địa chỉ IPv4 như:
Định dạng phần Header của các gói tin theo dạng mới. Các gói tin sử dụng IPv6
có cấu trúc phần Header thay đổi nhằm tăng cương tính hiệu quả sử dụng thông
qua việc dời các vùng thông tin không cần thiết (non-essensial) và tùy chọn vào
vùng mở rộng (Extension Header Field)
Cung cấp không gian địa chỉ rộng lớn hơn
Cung cấp giải pháp định tuyến và định vị địa chỉ hiệu quả hơn.
Phương thức cấu hình Host đơn giản và tự động ngay cả khi có hoặc không có
DHCP Server (stateful / stateless Host Configuration)
Cung cấp sẵn thành phần Security (Built-in Security)
Hỗ trợ giải pháp chuyển giao ưu tiên (Prioritized Delivery) trong Routing.
Cung cấp Protocol mới trong việc tương tác giữa các Điểm kết nối (Nodes )
Có khả năng mở rộng dễ dàng thông qua việc cho phép tạo thêm Header ngay
Hop Limit :Trường 8 bit. Trường này tương tự trường Time to live của IPv4. Nó
có tác dụng chỉ ra số hop tối đa mà gói tin IP được đi qua. Qua mỗi hop hay
router, giá trị của trường sẽ giảm đi 1.
Source Address :Trường này gồm 16 octet (hay 128 bit), định danh địa chỉ
nguồn của gói tin.
Destination Address :Trường này gồm 16 octet (hay 128 bit), định danh địa chỉ
đích của gói tin.
Ngoài ra IPv6 Header còn có thêm Extension Headers, là phần Header mở rộng. IPv6
ứng dụng một hệ thống tách biệt các dịch vụ gia tăng khỏi các dịch vụ cơ bản và đặt
chúng trong header mở rộng (extension header), phân loại các header mở rộng theo
chức năng của chúng. Làm như vậy thì sẽ giảm tải nhiều cho router, và thiết lập nên
được một hệ thống cho phép bổ sung một cách linh động các chức năng.
Hình 2.2: Extension Headers
Extension Headers bao gồm 6 loại, khi sử dụng cùng lúc nhiều extension header,
thường có một khuyến nghị là đặt chúng theo thứ tự sau: Hop-by-Hop Options,
Destination Options, Routing, Fragment, Authentication and Encapsulating Security
Payload, Upper-layer.
Hop-by-Hop options header : Header này (giá trị = 0) xác định một chu trình
mà cần được thực hiện mỗi lần gói tin đi qua một router.
Destination Options header : Header này (giá trị = 60) được sử dụng nếu có
Routing Header. Để xác định chu trình cần thiết phải xử lý bởi Node đích. Có thể
xác định tại đây bất cứ chu trình nào. Thông thường chỉ có những Node đích xử
lý header mở rộng của IPv6. Như vậy thì các header mở rộng khác ví dụ:
Fragment header có thể cũng được gọi là Destination Option header. Tuy nhiên,
Destination Option header khác với các header khác ở chỗ nó có thể xác định
nhiều dạng xử lý khác nhau.Mobile IP thường sử dụng Header này.
dãy số 128 bit nhị phân quả là không thuận tiện, và để nhớ chúng thì không thể. Do vậy,
địa chỉ IPv6 được biểu diễn dưới dạng một dãy chữ số hexa .
Để biểu diễn 128 bit nhị phân IPv6 thành dãy chữ số hexa decimal, người ta chia 128 bit
này thành các nhóm 4 bit, chuyển đổi từng nhóm 4 bit thành số hexa tương ứng và
nhóm 4 số hexa thành một nhóm phân cách bởi dấu “:”. Kết quả, một địa chỉ IPv6 được
biểu diễn thành một dãy số gồm 8 nhóm số hexa cách nhau bằng dấu “:”, mỗi nhóm
gồm 4 chữ số hexa.
Hình 3.1: Cách biểu diễn IPv6
IPv6 Address gồm 8 nhóm, mỗi nhóm 16 bits được biểu diển dạng số Thập lục phân
(Hexa-Decimal).
Vd-1 : 2001:0DB8:0000:2F3B:02AA:00FF:FE28:9C5A
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8)
Có thể đơn giản hóa với quy tắc sau :
Cho phép bỏ các số không (0) nằm phía trước trong mỗi nhóm
Thay bằng 1 số 0 cho nhóm có giá trị bằng không
Thay bằng :: cho các nhóm liên tiếp có giá trị bằng không
Như vậy địa chỉ ở Vd-1 có thể viết lại như sau :
Vd-2 : 2001:DB8:0:2F3B:2AA:FF:FE28:9C5A
Vd-3 : địa chỉ = FE80:0:0:0:2AA:FF:FE9A:4CA2
Có thể viết lại = FE80::2AA:FF:FE9A:4CA2
IV. Cấu trúc địa chỉ IPv6:
Hình 4.1: Cấu trúc chung của một địa chỉ IPv6 128 bit
Trong 128 bit địa chỉ IPv6, có một số bit thực hiện chức năng xác định:
Bit xác định loại địa chỉ IPv6 (bit tiền tố - prefix).
(dùng nội bộ) chưa nối với mạng internet toàn cầu hiện tại nhưng sẵn sàng nối được khi
cần. Địa chỉ này chia thành 2 kiểu Link Local: nhận dạng đường kết nối nội bộ.
Site Local : nhận dạng trong phạm vi nội bộ có thể có nhiều nhóm.
Mẫu địa chỉ cho Link local: 64 bits đầu = FE80 là giá trị cố định (Prefix = FE80
:: / 64) Interface ID = gồm 64 bits . Kết hợp với Physical Address của Network
Adapter
Hình 5.1.1: Cấu trúc địa chỉ của Link local
Chúng ta thử vào cmd, gõ lệnh ipconfig /all để xem thử giá trị Link-Local
Address
Mẫu địa chỉ cho Site local: Các bit đầu tiên 10 bit đầu được gọi là prefix dùng để
phân biệt các loại, các kiểu địa chỉ khác nhau trong IPv6. Các interface ID trong
các trường hợp trên để nhận dạng thiết bị Node hay router nhưng sử dụng tên
miền.
Hình 5.1.2: Cấu trúc địa chỉ của Site local
V.1.2/ Site-Local Addresses (SLA):
SLA tương tự các địa chỉ Private IPv4 (10.X.X.X, 172.16.X.X, 192.168.X.X) được sử
dụng trong hệ thống nội bộ (Intranet). Phạm vi sử dụng SLA là trong cùng Site.
(*) Site : là khái niệm để chỉ một phần của hệ thống mạng tại các tọa độ địa lý khác
nhau Hình 5.1.3: Cấu trúc địa chỉ của SLA
1111 1110 11 = 10 bits đầu là giá trị cố định (Prefix = FEC0 /10)
Subnet ID : gồm 54 bits dùng để xác địng các Subnets trong cùng Site
IPv6 không còn tồn tại khái niệm địa chỉ Broadcast. Mọi chức năng của địa chỉ
Broadcast trong IPv4 được đảm nhiệm thay thế bởi địa chỉ IPv6 Multicast.
Hình 5.2.1: Cấu trúc địa chỉ Multicast Address
Địa chỉ IPv6 Multicast được định nghĩa với prefix là FF::/8 .
Từ FF00::đến FF0F:: là địa chỉ dành riêng được quy định bởi IANA để sử dụng
cho mục đích multicast.
Octet thứ hai chỉ ra cờ và phạm vi của địa chỉ multicast.
Flag xác định thời gian sống của địa chỉ. Có 2 giá trị của flag :
Flag = 0 : Địa chỉ multilcast vĩnh viễn.
Flag = 1 : Địa chỉ multilcast tạm thời.
Scope chỉ ra phạm vi hoạt động của địa chỉ. Có 7 giá trị của Scope :
Scope = 1 : Interface-local.
Scope = 2 : Link-local.
Scope = 3 : Subnet-local.
Scope = 4 : Admin-local.
Scope = 5 : Site-local.
Scope = 8 : Organization.
Scope = E : Global.
Ngoài ra địa chỉ IPv6 Multicast còn có quy định giá trị của các bit cuối để xác định đối
tượng thuộc phạm vi của Multicast Address
* Bảng mô tả các loại địa chỉ IPv6 Multicast.
FF02::1:FFXX:XXXX là dạng địa chỉ Multicast với vai trò là các Solicited-node (thay
cho ARP của IPv4) dùng để phân giải địa chỉ IPv6 thành địa chỉ MAC của các Node
trong cùng 1 vùng (ở đây vùng trong ví dụ là Link-local).
với bộ định tuyến gần nhất mà kết nối với một mạng con cụ thể.
VI./ Routing Protocol IPv6:
Tương tự như các IPv4 Node, các IPv6 Node sử dụng một bảng định tuyến IPv6 cục bộ
để quyết định cách để truyền packet đi. Các entry trong bảng định tuyến được tạo một
cách mặc định khi IPv6 khởi tạo và các entry khác sẽ được thêm vào khi nhận được các
gói tin Router Advertisement chứa các prefix và các route, hay qua việc cấu hình tĩnh
bằng tay.
VI.1/ Bảng định tuyến IPv6:
* Các đặc tính:
Một bảng định tuyến sẽ có mặt trên tất cả các node chạy giao thức IPv6. Bảng định
tuyến lưu những thông tin về các subnet (mạng con) của mạng và một next hop (điểm
tiếp theo) để có thể đến được subnet đó. Trước khi bảng định tuyến được kiểm tra, thì
bộ nhớ đích đến sẽ được kiểm tra xem có những entry nào trong đó khớp với địa chỉ
đích có trong IPv6 header của gói tin hay không. Nếu không có thì bảng định tuyến sẽ
được sử dụng để quyết định.
Interface được sử dụng để truyền gói tin (next hop interface). Interface xác định
Interface vật lý hay luận lý được sử dụng để truyền gói tin đến đích của nó hay router
tiếp theo.
Địa chỉ Next hop: với những đích nằm trên cùng một liên kết cục bộ thì địa chỉ Next
hop chính là địa chỉ đích của gói tin. Với những đích không nằm cùng subnet thì địa chỉ
Next hop chính là địa chỉ của một router.
Sau khi interface và địa chỉ của Next hop được xác định thì node sẽ cập nhật bộ nhớ
cache mới. Các gói tin tiếp theo sẽ được truyền đến đích sử dụng cache này để đi tới
đích mà không phải kiểm tra bảng định tuyến.
VI.1.1/ Các loại entry trong bảng định tuyến IPv6:
Các entry trong bảng định tuyến IPv6 được sử dụng để lưu những loại đường sau:
host thất bại thì IPv6 sẽ giả sử rằng đích có thể đến được một cách cục bộ. Còn nếu việc
định tuyến trên router thất bại thì IPv6 sẽ gửi một ICMP Destination Unreachable-No
Route to Destination về cho máy gửi và bỏ gói tin.
VI.2/ Định tuyến tĩnh IPv6:
* Các đặc tính:
Định tuyến tĩnh trên IPv6 không khác biệt nhiều so với định tuyến tĩnh trên IPv4. Định
tuyến tĩnh được cấu hình bằng tay và xác định một đường đi rõ ràng giữa hai Node
mạng. Không giống như các giao thức định tuyến động, định tuyến tĩnh không được tự
động cập nhật và phải được người quản trị cấu hình lại nếu hình trạng mạng có sự thay
đổi.
Lợi ích của việc sử dụng định tuyến tĩnh là bảo mật và hiệu quả tài nguyên của Router.
Định tuyến tĩnh sử dụng băng thông ít hơn các giao thức định tuyến động và không đòi
hỏi quá cao năng lực của CPU để tính toán các tuyến đường tối ưu.
Bất lợi chính khi sử dụng định tuyến tĩnh là không thể tự động cấu hình lại nếu có thay
đổi về cấu trúc liên kết mạng. Và bất lợi thứ 2 là không tồn tại một thuật toán nào để
chống loop cho định tuyến tĩnh.
Định tuyến tĩnh còn được sử dụng cho các mạng nhỏ chỉ với một đường duy nhất đến hệ
thống mạng bên ngoài.Và để cung cấp bảo mật cho một mạng lớn hơn nhằm đảm bảo
một vài thông lượng đến các mạng khác được kiểm soát hơn. Nhìn chung, hầu hết các
hệ thống mạng sử dụng giao thức định tuyến động để giao tiếp giữa các Node mạng
nhưng có thể có một hoặc vài tuyến được cấu hình định tuyến tĩnh cho mục đích đặc
biệt.
VI.2.1/ Cấu hình static route IPv6:
Trên các thiết bị Cisco, dùng câu lệnh ipv6 route trong mode config để cấu hình static
VI.3/ Các giao thức định tuyến động trong IPv6:
VI.3.1/ RIPng (RIP Next Generation):
Routing Information Protocol next generation (RIPng - RFC 2080) là một giao thức
định tuyến theo vector khoảng cách với số hop giới hạn là 15. Sử dụng các kỹ thuật
split-horizon, poison reverse, hold-down timer, triggered updates để ngăn chặn tình
trạng lặp vòng định tuyến. RIPng bao gồm các tính năng sau đây:
Tương tự với RIP và RIPv2 cho địa chỉ IPv4, RIPng sử dụng giao thức định tuyến dựa
trên giải thuật Bellman-Ford.
Sử dụng IPv6 cho vận chuyển.
Bao gồm IPv6 prefix và địa chỉ IPv6 của hop tiếp theo.
Sử dụng địa chỉ FF02::9 là địa chỉ multicast cho tất cả các RIP-Router. FF02::9 được
xem như địa chỉ đích cho tất cả các gói tin RIP updates.
Gửi thông tin update trên UDP port 521.
Hình VI.1: Định dạng gói tin RIPng
Command : Loại thông điệp. 0x01 là thông điệp Request, 0x02 là thông điệp Response.
Version : Phiên bản của RIPng. Hiện tại chỉ là 0x01.
Route table entry (RTE) : giá trị bảng định tuyến.
Có 2 định dạng RTE cho RIPng:
Hình VI.2: Next hop RTE
Next hop RTE : Định nghĩa địa chỉ IPv6 của hop tiếp theo.
IPv6 prefix RTE : Mô tả địa chỉ IPv6 đích, route tag, chiều dài prefix và metric trong
bảng định tuyến RIPng.
Bộ lọc route.
EIGRP cho ipv6 cung cấp bộ lọc route bằng cách sử dụng câu lệnh distribute-list prefix-
list. EIGRP cho IPv6 gồm 4 thành phần cơ bản sau:
Neighbor discovery.
Neighbor discovery là quá trình mà router tự động học về những router khác mà nó kết
nối trực tiếp trong mạng.Router cũng phát hiện ra các router lân cận không thể kết nối
được hoặc không hoạt động.EIGRP neighbor cũng phát hiện ra những router lân cận đã
hoạt động trở lại bởi vì những router lân cận sẽ gởi trả lại hello packet.Với các hello
packet, IOS của cisco có thể xác định được router lân cận còn sống và hoạt động.Một
khi tình trạng này được xác định, các bộ định tuyến lân cận có thể trao đổi thông tin
định tuyến.
Reliable transport protocol.
Reliable transport protocol là giao thức có thể tin cậy trong việc vận chuyển các gói
EIGRP tới những router lân cận. Nó hỗ trợ truyền gói tin multicast lẫn unicast.Một số
gói tin EIGRP phải được gửi đáng tin cậy và một số khác thì không.Về hiệu quả, độ tin
cậy được cung cấp chỉ khi cần thiết. Ví dụ, trên một mạng đa truy cập, có những tính
năng multicast (như Ethernet) nó không phải là cần thiết để gửi gói tin hello 1 cách tin
cậy cho tất cả các router lân cận. Do đó, EIGRP gởi 1 gói tin multicast hello với một chỉ
dẫn trong gói tin thông báo cho bên nhận rằng gói tin không cần được công nhận. Việc
vận chuyển tin cậy có một điều khoản để gửi gói tin multicast một cách nhanh chóng
khi các gói tin không được công nhận đang chờ giải quyết. Quy định này giúp đảm bảo
rằng thời gian hội tụ vẫn còn thấp trong sự hiện diện của các liên kết tốc độ khác nhau.
DUAL finite state machine.
DUAL finite state machine là cơ chế tiêu biểu cho quá trình ra quyết định cho tất cả các
tính toán lộ trình. Nó theo dõi tất cả các tuyến đường được quảng bá bởi tất cả các
router lân cận. DUAL sử dụng số metric bao gồm khoảng cách và thông tin chi phí để
lựa chọn hiệu quả các đường đi không bị lặp.Khi nhiều tuyến đường để đến một router
tồn tại, DUAL sẽ xác định tuyến đường có metric thấp nhất, và lưu tuyến đường này
vào bảng định tuyến.Các tuyến đường khác có thể để đến router này với số metric lớn
hơn, DUAL sẽ xác định khoảng cách báo cáo cho mạng này.
Thông tin này được lan truyền trong các gói tin gọi là Link-state advertisements (LSAs).
Một tập các dữ liệu LSA trên mỗi router được lưu trữ trong một cơ sở dữ liệu link-state
(LSDB). Nội dung từ cơ sở dữ liệu đó được sử dụng cho thuật toán Dijkstra, kết quả
cuối cùng là tạo ra các bảng định tuyến OSPF.
* Ngoài cấu trúc địa chỉ IPv6 ra, ta còn phải chú ý đến việc chuyển đổi giữa IPv4 hiện
tại với IPv6 còn có các phương pháp triển khai cơ bản:
· Cấu hình các tunnel bằng tay qua một mạng IPv4 đã có, để bao đóng các traffic của
IPv6.
· Thực thi các kỹ thuật có thể tự động xây dựng và chọn các tunnel dựa trên IPv6
header.
· Cung cấp các liên kết ảo chuyên dụng như ATM, Frame Relay PVC hay MPLS VPN.
· Thực thi một dual-stack network để cho IPv4 và IPv6 được triển khai.
Để thực thi các phương pháp này, ta cần nâng cấp các router để có thể chạy các giao
thức của cả IPv4 và IPv6. Các router này được gọi là dual-stack router.
· PAN cải thiện hiệu suất cao của mạng bằng 4 cách: qua việc xử lý các capsule ở
kernel, bằng cách tối thiểu hoá việc copy dữ liệu, qua việc thực thi các lệnh ngay trên
các processor trên node, và qua một thiết kế cung cấp cho các capsule khả năng thực thi
cao nhất. PAN cung cấp một hệ thống quản lý bộ nhớ đồng dạng, cho phép các con trỏ
đến các vùng của bộ nhớ có thể được truyền trong hệ thống.
· Active Node Transport System (ANTS): ANTS được phát triển bởi MIT, là một thực
thi của mạng hoạt động, sự thực thi này sử dụng hướng tiếp cận theo dạng in-band
(mang code theo gói tin) để xây dựng một cấu trúc mạng hoạt động.
· Active IPv6 (AIPv6): node không phải là để thay thế IP node mà để cải tiến khả năng
của IP. Sử dụng một kỹ thuật gọi là: “protected buffer” để ngăn không cho các AIPv6
packet sửa đổi địa chỉ nguồn và hop limit của packet.
E (có tầm toàn cục). Tuỳ vào cách gán địa chỉ multicast, chúng ta có thể kiểm soát các
gói tin multicast được đi bao xa, và các thông tin định tuyến kết hợp với các nhóm
multicast được quảng bá bao xa. Ví dụ: nếu chúng ta muốn quảng bá một multicast
trong văn phòng của ta, và muốn toàn thế giới thấy nó, ta sẽ gán tầm cho nó là E (110),
tuy nhiên, nếu bạn muốn tạo một nhóm multicast cho một hội nghị truyền hình bạn có
thể gán tầm là 5 hay 2.
II. Nguyên lý tách khỏi:
Header của IPv6 đơn giản và hợp lý hơn IPv4. IPv6 chỉ có 6 trường và 2 địa chỉ, trong
khi IPv4 chứa 10 trường và 2 địa chỉ. Định dạng được đơn giản hoá: IPv6 header có
kích thước cố định 40 octet với ít trường hơn IPv4, nên giảm được overhead, tăng độ
linh hoạt.
Không có header checksum: trường checksum của IPv4 được bỏ đi vì các liên kết ngày
nay nhanh hơn và có độ tin cậy cao hơn vì vậy chỉ cần các host tính checksum còn
router thì khỏi cần
Không có sự phân mảnh theo từng hop: Trong IPv6 thì chỉ có host nguồn mới có thể
phân mảnh một packet theo các giá trị thích hợp dựa vào một MTU path mà nó tìm
được, do đó, để hỗ trợ host thì IPv6 chứa một hàm giúp tìm ra MTU từ nguồn đến đích.
IPv6 định nghĩa một loại địa chỉ mới: anycast. Là một địa chỉ được gán cho một nhóm
các máy có chung chức năng, mục đích. Khi packet được gửi cho một địa chỉ anycast,
việc định tuyến sẽ xác định thành viên nào của nhóm sẽ nhận được packet qua việc xác
định máy gần nguồn nhất. Việc sử dụng anycast có 2 ích lợi: một là, nếu bạn đang đến
một máy gần nhất trong một nhóm, bạn sẽ tiết kiệm được thời gian bằng cách giao tiếp
với máy gần nhất; thứ hai là việc giao tiếp với máy gần nhất giúp tiết kiệm được băng
thông
III. Nguyên lý phẩm chất cục bộ:
Trong IPv6 nguyên lý này dễ dàng nhận thấy, các thành phần cấu trúc địa chỉ được tách
ra nhiều chức năng thực hiện một cách linh hoạt, tăng hiệu suất tối ưu đường truyền.