luận văn:Giải pháp xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010 - Pdf 11

1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Giải pháp xoá đói giảm nghèo
ở tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010.”

2


1.3. Do trỡnh hc vn thp, vic lm thiu v khụng n nh. 16
1.4. Do bnh tt sc kho yu kộm v bt bỡnh ng gii 16
1.5. Ngi nghốo khụng cú kh nng tip cn vi phỏp lut, cha c bo
v quyn li hp phỏp 17
1.6. Nguy c d b tn thng do nh hng ca thiờn tai v cỏc ri ro
khỏc 17
2. Nguyờn nhõn do iu kin t nhiờn 17
3

3. Cỏc yu t xó hi tỏc ng: 17
3.1. Hu qu ca chin tranh, khng hong kinh t 17
3.2. S tham gia ca cng ng 18
IV.2. c im ca cỏc h nghốo úi 18
V. Một số kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo ở việt nam 19
1. Tỡnh hỡnh nghốo úi Vit Nam 19
2. Mt s gii phỏp chng úi nghốo nc ta 20
CHNG II: THC TRNG ểI NGHẩO V CễNG TC XO ểI
GIM NGHẩO TNH H TNH 22
I. GII THIU ễI NẫT V TNH H TNH 22
1. c im t nhiờn v ti nguyờn thiờn nhiờn 22
1.1. V trớ a lý 22
1.2. a hỡnh 22
1.3. t ai 22
1.4. Khí hậu 24
1.5. Ti nguyờn nc 24
1.6. Tài nguyên biển 24
1.7. Khoỏng sn 24

2.5. Nâng cao kiến thức cho người nghèo và cán bô làm công tác XĐGN . 44
3. Đánh giá chung về kết quả XĐGN 45
3.1. Ưu điểm 45
3.2. Hạn chế 45
IV. THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 47
1. Đói nghèo do hạn chế của chính người nghèo và gia đình họ 48
1.1. Gia đình đông con ít lao động 48
1.2. Thiếu vốn hoặc không có vốn để kinh doanh, chi tiêu không có
kế hoạch 48
1.3. Thiếu hoặc không có kinh nghiệm làm ăn 49
1.4. Thiếu đất, thiếu việc làm và không có nghề phụ kèm theo 49
1.5. Người nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa
được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp 49
1.6. Điều kiện sản xuất khó khăn, thiếu phương tiện sản xuất 50
1.7. Gặp tai nạn, bệnh tật, sức khoẻ yếu kém, đau ốm 50
1.8. Các tệ nan xã hội và các nguyên nhân khác 50
2. Nguyên nhân do điều kiện tự nhiên 51
3. Các yếu tố xã hội tác động 52
3.1 Nguyên nhân do lịch sử 52
3.2 Sự tham gia của cộng đồng 52
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIỂN NGHỊ THỰC HIỆN VIỆC
XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH HÀ TĨNH ĐẾN NĂM 2010 55
I. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TỈNH HÀ TĨNH ĐẾN
NĂM 2010 55
1. Căn cứ 55
2. Phương hướng và mục tiêu của tỉnh về xoá đói giảm nghèo 56
5

TÊNTÀILIỆUTHAMKHẢO
7
5

6LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của trường, khoa Khoa
học quản lý Trường Đại học Kinh tế quốc dân- Hà Nội đã quan tâm dạy dỗ,
truyền thụ cho em những kiến thức khoa học trong suốt 4 năm học vừa qua.
Đặc biệt, em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Mai Văn Bưu đã tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề
tài:
“Giải pháp xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010”
Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ của Sở Kế
hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tĩnh, đặc biệt là Phòng Kế hoạch Phát triển Kinh tế
ngành đã thường xuyên chỉ bảo em trong quá trình thực tập đồng thời giúp đỡ
em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này.
Mặc dù bản thân đã có sự cố gắng nỗ lực nhưng không tránh khỏi những
thiếu sót rất mong sự góp ý và cảm thông của thầy, cô giáo và cán bộ Sở Kế
hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tĩnh để giúp em hoàn thiện hơn nữa.
Kính chúc các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế quốc dân và toàn thể
cán bộ của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tỉnh sức khỏe dồi dào và luôn thành

CSHT Cơ sở hạ tầng
HĐND Hội đồng nhân dân
NSNN Ngân sách nhà nước
KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình
8

BẢNG BIỂU

Biểu 1: Vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói
Biểu 2: Phân bổ hộ đói nghèo theo vùng năm 2005 (theo chuẩn mới cho giai
đoạn 2006-2010)
Biểu 3: Diện tích đất đai phân theo mục đích sử dụng
Biểu 4: Một số chỉ tiêu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2001- 2007
Biểu 5: Cơ cấu các nhóm cây trồng
Biểu 6: Tình hình phát triển chăn nuôi của tỉnh năm 2007 (Đv: nghìn con
Biểu 7: Cơ cấu lao động năm 2007
Biểu 8: Dân số và nguồn lao động năm 2007
Biểu 9: Tình hình đói nghèo của tỉnh giai đoạn 2001- 2007
Biểu 10: Tình hình đói nghèo ở các huyện, thị xã năm 2005 và năm 2006
Biểu 11: Các mục tiêu chủ yếu của chương trình XĐGN giai đoạn 2006- 2010


Đối với Việt Nam, đói nghèo là vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển bền
vững, đồng thời là vấn đề xã hội nhạy cảm nhất. Xoá đói giảm nghèo, khuyến
khích làm giàu một cách chính đáng là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước, đó là một trong những vấn đề cơ bản của chính sách xã hội hướng vào
phát triển con người nói chung và người nghèo nói riêng, tạo cơ hội cho họ hoà
nhập vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội.
Hoà chung vào phong trào XĐGN của cả nước, với đặc điểm là một tỉnh
nghèo, được sự quan tâm giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành Trung
ương, các tổ chức Quốc tế. Đảng Bộ và nhân dân Hà Tĩnh sớm phát động việc
thực hiện phong trào XĐGN, tập trung phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo ổn
định chính trị, giữ vững an ninh, quốc phòng góp phần thực hiện tốt công tác
XĐGN. Tuy nhiên sự phân hoá giàu nghèo, sự chênh lệch về mức sống của các
tầng lớp dân cư diễn ra có ranh giới rõ rệt, là vấn đề xã hội đặc biệt quan tâm.
Mỗi giai đoạn tuy có nội dung và giải pháp khác nhau nhưng đều hướng
tới mục tiêu chung là nâng cao đời sống người dân, theo tâm niệm của Hồ Chí
10
Minh:“Làm cho người nghèo thì đủ ăn; người đủ ăn thì khá, giàu; người khá,
giàu thì giàu thêm”.
Kế thừa và phát huy những thành tựu đạt được trong công cuộc XĐGN
giai đoạn 2001-2005, đang ở giữa chặng đường giai đoạn 2006-2010, nhưng
Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh vẫn luôn coi XĐGN là nhiệm vụ hàng đầu để
thực hiện mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra.
Xuất phát từ những vấn đề trên, em xin chọn đề tài thực tập của mình là:
“Giải pháp xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010”
Nhằm đánh giá đúng thực trạng đói nghèo, tìm ra nguyên nhân và biện
pháp để XĐGN ở tỉnh Hà Tỉnh.
Đề tài tập trung nghiên cứu các hộ đói nghèo qua điều tra ở địa bàn tỉnh Hà

Trong xã hội có giai cấp, những người bị áp bức bóc lột phải chịu cuộc
sống cùng cực, thêm vào đó thiên tai chiến tranh gây nên bao cảnh lầm than,
tang tóc. Đói nghèo không chỉ xuất hiện và tồn tại lâu dài dưới chế độ công xã
nguyên thuỷ, chế độ nô lệ, chế độ phong kiến với trình độ lực lượng sản xuất
kém phát triển mà ngay cả trong thời đại CNH, HĐH ngày nay với cuộc cách
mạng KHCN hiện đại lực lượng sản xuất cao chưa từng thấy, trong từng quốc
gia kể cả quốc gia có trình độ phát triển nhất nghèo đói vẫn tồn tại.
Bên canh sự giàu có phồn vinh của nhiều quốc gia, nhiều tập đoàn, nhiều
cá nhân thì đồng thời nhiều quốc gia, nhiều vùng, nhiều gia đình rơi vào cảnh
nghèo khổ, khốn cùng. Trong xu thế toàn cầu hoá, sự chênh lệch giàu nghèo
ngày càng gia tăng thì vấn đề XĐGN càng trở thành nhiệm vụ và trung tâm của
cả cộng đồng và mỗi quốc gia. Chính vì vậy phải có quan điểm và cách giải
quyết phù hợp. Tuy nhiên mỗi quốc gia, mỗi khu vực nghèo đói phân chia ở
mức độ khác nhau, do đó ta xem xét vấn đề nghèo đói dưới hai quan niệm sau:
1. Quan niệm chung:
Trong đời sống thực tế cũng như trong nghiên cứu khoa học các vấn đề
KTXH, chúng ta thấy khái niệm đói, nghèo hay nghèo khổ, giàu nghèo, phân
hoá giàu nghèo. Ngay khái niệm đói nghèo nếu tách riêng để phân tích và nhận
dạng cũng thấy giữa đói và nghèo, trong cặp đôi này vừa có quan hệ mật thiết
với nhau, vừa có khác biệt về mức độ và cấp độ. Đã lâm vào tình trạng đói (mà
12
ý nghĩa trực tiếp của nó là đói ăn, thiếu lương thực thực phẩm để duy trì sự tồn
tại của sinh vật và con người) thì đương nhiên là nghèo. Đây vẫn thuần tuý là
đói ăn, nằm trọn trong phạm trù kinh tế- vật chất. Nó khác với đói thông tin, đói
hưởng thụ văn hoá thuộc phạm trù đời sống tinh thần. Quan niệm về nghèo thì
có nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Tất nhiên dù ở dạng nào thì nghèo vẫn
có quan hệ mật thiết với đói. Nghèo là một kiểu đói tiềm tàng và đói là tình

thường gắn nó với lý thuyết phát triển.
Sau khi làm rõ những luận cứ chung như những tiền đề phương pháp luận,
chúng ta tìm hiểu quan niệm cụ thể về đói nghèo, chỉ tiêu và chuẩn mực đánh
giá nó.
Vậy “đói nghèo” là gì?
Tại hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á- Thái Bình
Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc- Thái Lan tháng 9/1993 đã đưa ra định
nghĩa nghèo đói như sau:“ Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không
được hưởng và thoã mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội
thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của
các địa phương”.
Như vậy, đói nghèo gồm các khía cạnh cơ bản sau:
- Trước tiên và trước hết là sự khốn cùng về vật chất đo lường một tiêu chí
thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng.
- Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo
dục và y tế.
- Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, tức khả năng một hộ gia đình
hay cá nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu nhập và về sức khoẻ.
- Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói và quyền lực của người nghèo.
Để phân biệt rõ hơn nữa quan niệm về đói nghèo, các nước đã phân làm
hai loại: “Nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”.
Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả
mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống.
Nghèo tương đối: là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương.
14
Theo đó sự thiếu thốn “của cải” trong mối quan hệ với nhu cầu thiết yếu


15
- Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối
thiểu và thu nhập không đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc
sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn đứt bữa từ 1 đến 2 tháng,
thường vay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả.
- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một
phần của nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn
mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Nhu cầu thiết yếu gồm 3 yếu tố: ăn, mặc, ở.
Nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồm 5 yếu tố: văn hoá, giáo dục, y tế, đi lại,
giao tiếp.
Nhu cầu tối thiểu, mức cụ thể của nhu cầu tối thiểu phụ thuộc vào điều kiện
phát triển kinh tế của từng vùng, từng quốc gia theo từng thời kỳ.
II. XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
1. Khái niệm
Xoá đói giảm nghèo là làm cho một bộ phận dân cư có mức sống nghèo
đói được nâng cao, từng bước thoát khỏi tình trạng đói nghèo, biểu hiện ở tỷ lệ
và số lượng người nghèo giảm xuống. Nói cách khác, xoá đói giảm nghèo là quá
trình chuyển bộ phận dân cư nghèo đói lên một mức sống cao hơn.
Ở khía cạnh khác, xoá đói giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều
kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời
sống mọi mặt của con người.
Ở góc độ người nghèo, xoá đói giảm nghèo là quá trình tác động tạo điều
kiện của cộng đồng xã hội, giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn
lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó có nhiều lựa chọn hơn,
giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo đói.
Ở góc độ vùng nghèo: xoá đói giảm nghèo là quá trình thúc đầy phát triển
kinh tế, chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội sang trình độ sản
xuất mới cao hơn.


Như vậy, từ cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói lại kéo theo cái vòng luẩn
quẩn khác của sự phát triển của một quốc gia, của một vùng. Vì vậy muốn cho
đất nước, vùng phát triển chúng ta phải phá vỡ các mắt xích cơ bản như hạn chế
Nghèo đói

B
ệnh tật

Gia tăng dân s


Ô nhi
ễm môi
trường
Suy dinh dư
ỡng

Th
ất học

T
ệ nạn x
ã h
ội

17

18
Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức
độ giàu nghèo. Hiện nay, Việt Nam chưa có chuẩn đói nghèo thống nhất, trên
thực tế vẫn sử dụng một trong hai chuẩn sau để đánh giá đói nghèo.

1. Chuẩn đói nghèo quốc tế:
- Nghèo đói lương thực, thực phẩm: là những người có mức thu nhập
không đảm bảo cho lượng dinh dưỡng tối thiểu (bù đắp 2100 Kcal/người/ngày).
- Nghèo đói chung: Được xác định trên cơ sở ngưỡng nghèo lương thực
thực phẩm và coi đó là tương ứng với 70% nhu cầu cơ bản tối thiểu, 30% còn lại
là nhu cầu cơ bản tối thiểu khác. Nghèo đói chung là những người không đảm
bảo thu nhập để đáp ứng cả hai yêu cầu trên.
Qua nguồn số liệu điều tra mức sống dân cư Việt Nam cho thấy: năm 1998
nghèo đói chung có mức chi tiêu là là 1,79 triệu triệu đồng/năm/người (cao hơn
đói nghèo lương thực thực phẩm là 39%). Dựa trên các ngưỡng nghèo này, tỷ lệ
đói nghèo chung năm 1998 là 37,4%; còn tỷ lệ đói nghèo lương thực tương ứng
là 15%.
2. Chuẩn đói nghèo của Việt Nam:
Chuẩn mực đói nghèo năm 1997-1998 được xác định: (Hệ thống văn bản
về Bảo trợ xoá đói giảm nghèo)
- Hộ đói: là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 13kg
gạo/người/tháng, tương đương với 45000đ (áp dụng cho mọi vùng).
- Hộ nghèo: phân theo 3 vùng có mức thu nhập như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người
dưới 15kg gạo, tương đương 55000đ.
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: là hộ có thu nhập bình quân đầu
người dưới 20kg gạo, tương đương với 70000đ.
+ Vùng thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu ngưòi dưới 25 kg gạo,
tương đương với 90000đ.
Cách xác định chuẩn nghèo của Bộ LĐTBXH mang tính chất tương đối

(WB) khuyến nghị áp dụng chuẩn nghèo 2 USD/người/ngày (sức mua tương
đương) đối với các nước đang phát triển. Chuẩn nghèo của Trung Quốc,
Philippine hiện nay là 2USD, còn ở Thai Lan, Malaysia là 3USD thì chuẩn
nghèo ở Việt Nam tại thời điểm năm 2004 được quy đổi theo sức mua tương
20
đương mới chỉ là 0.95USD ở khu vực miền núi, 1.2USD ở khu vực nông thôn
đồng bằng và 1.7USD ở khu vực thành thị. Trong tương lai sẽ tiến đến sử dụng
một chuẩn nghèo thống nhất để đánh giá tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam và có tính
đến tiêu chí Quốc tế để so sánh.
3. Chuẩn đói nghèo của tỉnh Hà Tĩnh:
Việc đánh giá đói nghèo ở Hà Tĩnh hiện nay sử dụng chuẩn nghèo của Bộ
LĐTBXH áp dụng cho giai đoạn 2006- 2010.
Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế- xã hội và kết quả thực hiện công
tác XĐGN ở Hà Tĩnh những năm qua:
- Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh ta còn thấp, thua so với mức thu
nhập bỉnh quân đầu người của cả nước.
- Tỷ lệ đói nghèo Hà Tĩnh còn cao hơn mức bình quân đói nghèo cả nước,
(Tỷ lệ hộ đói nghèo Hà Tĩnh năm 2007 là 28,91%, cả nước là 14,7%).
- Nguồn lực để hỗ trợ cho hoạt động XĐGN còn nhiều hạn chế.
Từ những điều kiện trên, thời kỳ 2006- 2010 Hà Tĩnh chưa đủ điều kiện nâng
chuẩn đói nghèo trên mức chung cả nước. Chính vì vậy, chuẩn đói nghèo của cả
nước được Hà Tĩnh vận dụng để đánh giá thực trạng đói nghèo và để xây dựng
chương trình, dự án XĐGN thời kỳ 2006- 2010.
IV. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC HỘ ĐÓI NGHÈO
IV.1. Nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo:
Đói nghèo do nhiều nguyên nhân gây nên, có cả chủ quan và khách quan. Để
nhận biết một cách đầy đủ chúng ta có thể chia thành 3 nhóm nguyên nhân sau

Vấn đề bệnh tật và sức khoẻ kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi
tiêu của người nghèo làm họ rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo. Họ phải
gánh chịu hai gánh nặng: một là mất đi thu nhập từ lao động, hai là gánh chịu
chi phí cho khám chữa bệnh đẩy họ đến chỗ vay mượn, cầm cố tài sản để có tiền
trang trải chi phí, dẫn đến tình trạng càng có ít cơ hội cho người nghèo thoát
khỏi vòng đói nghèo. Bất bình đẳng làm sâu sắc hơn tình trạng đói nghèo, phụ
nữ ít có cơ hội tiếp cận với khoa học, kỹ thuật công nghệ mới, họ phải gánh
nặng việc gia đình, thu nhập thấp hơn nam giới, tỷ lệ trẻ em tử vong do bà mẹ
không hiểu sinh sản sức khỏe.
22
1.5. Người nghèo không có khả năng tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo
vệ quyển lợi hợp pháp:
Người nghèo và đối tượng hoàn cảnh đặc biệt thường có trình độ học vấn
thấp nên không có khả năng giải quyết các vấn đề vướng mắc có liên quan đến
pháp luật. Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo
khó nắm bắt, mạng lưới các dịch vụ pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn
chế, phân bổ không đều, phí dịch vụ còn cao.
1.6. Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác:
Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày
và những biến động bất thường xảy ra với cá nhân, gia đình hay cộng đồng. Do
nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích lũy kém nên họ có khó
khả năng làm việc, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khoẻ…). Với khả
năng kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn,
những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ.
Các rủi ro trong sản xuất kinh doanh đối với người nghèo cũng rất cao, do
họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn. Khả năng đối phó
và khắc phục rủi ro của người nghèo cũng rất kém do nguồn thu nhập của họ

phục được hiện tượng đói nghèo vẫn còn tiếp diễn.
- Các tổ chức quốc tế:
Kinh tế đối ngoại chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Sự hợp tác, liên
kết với các tổ chức còn ít. Vốn đầu tư vào các chương trình xoá đói giảm nghèo
còn thấp, song quản lý chưa tốt nên hiệu quả chưa cao.
IV.2. Đặc điểm của các hộ nghèo đói
- Phần lớn ngưòi nghèo từ nông nghiệp, 77% số người nghèo là nông dân
với trình độ học vấn thấp và ít khả năng tiếp cận các nguồn lực trong sản xuất
(vốn, kỹ thuật, công nghệ…
- Đa số người nghèo tập trung ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa… có cơ
sở hạ tầng yếu kém, tài nguyên thiên nhiên khắc nghiệt đồng thời tình trạng hộ
nghèo có ít đất hoặc không có đất để canh tác do đó năng suất thấp. Cần phải
tiến hành ngay cải cách nhằm tạo việc làm phi nông nghiệp hơn.
- Các hộ có nhiều con hoặc ít lao động có tỷ lệ nghèo cao hơn và đặc biệt
dễ bị tổn thương khi phải gánh chịu thêm chi phí về y tế và giáo dục.
24
- Các hộ nghèo dễ bị tổn thương bởi những biến động bất thường xảy ra,
các hộ nghèo có thể bị tách biệt về mặt địa lý hoặc về mặt xã hội.
- Những người dân nghèo đô thị làm việc trong khu vực kinh tế phi chính
thức, công việc không ổn định, thu nhập thấp và bấp bênh. Người nghèo nhập cư
thành thị không có hộ khẩu gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ công cộng.
V. MỘT SỐ KINH NGHIỆM XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM:
3. Tình hình nghèo đói ở Việt Nam
Sau hơn 20 năm đổi mới với cơ chế quản lý kinh tế theo hướng phát triển
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam đã có sự
chuyển biến rõ rệt. Tốc độ tăng trưởng GDP cao và tăng đều qua các năm, bình
quân khoảng 8.5% nhờ đó đời sống nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên Việt

đồng quốc tế, sự nỗ lực của dân, nước ta hiện nay đang dẫn đầu trên thế giới về
XĐGN, là một trong những thành công đáng ghi nhận. Việt Nam đã đẩy nhanh
tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2007 đạt vượt mức kế hoạch và cao nhất trong
10 năm qua là 8.5%. Công tác XĐGN đạt kết quả nổi bật trong mấy năm gần
đây, đặc biệt năm 2007 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 14.7% so với ( năm 1995
là 29%, năm 2000 là 25%, năm 2005 là 22%). Để đạt được những thành tựu đó,
đúc rút kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới đồng thời vận dụng sáng tạo
vào hoàn cảnh đất nước trong từng thời kỳ, giải pháp do chính phủ tập trung vào
những mảng chính sau đây:
1. Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông để XĐGN trên diện rộng:
- Điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn đảm bảo sản xuất
phù hợp nhu cầu và khả năng tiêu thụ của thị trường.
- Mở rộng đào tạo nghề cho người dân nông thôn
- Thực hiện chính sách tín dụng phù hợp điều kiện người nghèo.
2. Phát triển công nghiệp tạo việc làm và nâng cao mức sống cho người
nghèo:
- Phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh.
- Khuyến khích người nghèo ở đô thị tự thoát nghèo với sự hỗ trợ của nhà
nước và cộng đồng dân cư
- Tăng cường hệ thống dịch vụ giới thiệu việc làm cho người nghèo.
- Xây dựng các tiêu chuẩn quy phạm thiết kế quy hoạch đô thị, ưu tiên
dành quỹ đất cho người nghèo.
3. Phát triển KCHT tạo cơ hội cho các xã nghèo, vùng nghèo, người nghèo
tiếp cận các dịch vụ công:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status