Thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở huyện Như Thanh - Thanh Hoá - Pdf 30

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu. Những năm gần đây,
nhờ những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã có
những bước chuyển mình rất quan trọng. Đặc biệt là vào năm 2006 nước ta đã
chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO.
Những nhân tố đó đã làm cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, đại bộ
phận đời sống nhân dân đã được nâng lên một cách rõ rệt. Song, một bộ phận
không nhỏ dân cư đặc biệt là dân cư ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa... đang chịu
cảnh nghèo đói, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống như
ăn, ở, mặc, đi lại... Chính vì vậy, sự phân hoá giàu nghèo ở nước ta ngày càng
diễn ra mạnh mẽ. Nó không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của những nước có
nền kinh tế phát triển trên thế giới, mà đối với nước ta khi nền kinh tế đang có sự
chuyển mình thì vấn đề phân hoá giàu nghèo càng được chú trọng hàng đầu. Để
có thể hoàn thành mục tiêu quốc gia là Xoá đói giảm nghèo thì thì trước tiên phải
rút ngắn sự phân hoá giàu nghèo. Đây không chỉ là nhiệm vụ của bộ máy lãnh
đạo mà còn là nhiệm vụ của toàn thể nhân dân. Phải phát huy truyền thống tinh
hoa văn hoá người Việt trong nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo.
Như Thanh - Thanh Hoá là một huyện miền núi thuộc tỉnh Thanh Hoá,
huyện cũng có một nét chung đối với tất cả các địa phương khác đó là tình trạng
nghèo đói vẫn còn tồn tại. Đời sống một bộ phận nhân dân vẫn đang rất khó
khăn yếu kém. Điều này cũng là một tất yếu đối với một huyện miền núi mà nền
kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp.Huyện mới được thành lập từ năm 1997 từ
việc chia tách từ huyện Như Xuân. Do đó, công tác xoá đói giảm nghèo đặc biệt
quan tâm nhất là từ năm 1997 đến nay.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản hướng
vào phát triển con người, nhất là người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào
quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, để cho người nghèo có cơ hội
và điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội phát triển sản xuất tự vươn lên thoát khỏi

1. Khái niệm.
1.1. Khái niệm nghèo, đói:
1.1.1. Theo quan niệm của Quốc tế.
Theo Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP):
Nghèo đói là trạng thái môt bộ phận dân cư không được hưởng và thão mãn
những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa
nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa
phương.
Khái niệm nghèo đói có thể chia theo hai cách khác nhau: Nghèo tuyệt đối
và nghèo tương đối.
- Nghèo tương đối là sự thõa mãn chưa đầy đủ nhu cầu cuộc sống của con
người như: cơm ăn chưa ngon, quần áo chưa mặc đẹp, nhà ở chưa k hang trang...
hay nói cách khác là có sự so sánh về thoã mãn các nhu cầu cuộc sống giữa
người này với người khác, vùng này với vùng khác.
Hộ nghèo tương đối không phải là đối tượng chủ yếu của chương trình.
Để giải quyết nghèo tương đối có chương trình, giải pháp khác tác động đến như:
Chương trình cho vay vốn giải quyết việc làm, phát triển kinh tế trang trại, cho
vay của ngân hàng chính sách, ngân hàng Nông nghiệp.
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa
vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc
cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người
thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc
vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ
quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác
định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc
thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo
đi về văn hóa-xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính

ngay cả khi những người có thu nhập khác vẫn không có thay đổi. Người ta còn
phê bình là ranh giới nghèo trộn lẫn vấn đề nghèo với vấn đề phân bố thu nhập.
Vì một sự phân chia rõ ràng giữa nghèo và giàu trên thực tế không có nên khái
niệm ranh giới nguy cơ nghèo cũng hay được dùng cho ranh giới nghèo tương
đối.
Ngược với ranh giới nghèo tương đối, các phương án tính toán ranh giới
nghèo tuyệt đối đã đứng vững. Các ranh giới nghèo tuyệt đối được tính toán một
cách phức tạp bằng cách lập ra những giỏ hàng cần phải có để có thể tham gia
vào cuộc sống xã hội.
Các ranh giới nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối đều không có thể xác
định được nếu như không có trị số tiêu chuẩn cho trước. Việc chọn lựa một con
số phần trăm nhất định từ thu nhập trung bình và ngay cả việc xác định một giỏ
hàng đều không thể nào có thể được giải thích bằng các giá trị tự do. Vì thế mà
chúng được quyết định qua những quá trình chính trị.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.1.2. Quan niệm đói nghèo của Việt Nam.
- Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thõa mãn một
phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mức
sống tối thiểu của cộng động xét trên mọi phương diện.
- Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối
thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
- Xóa đói giảm nghèo là một chiến lược của Chính Phủ Việt Nam nhằm
giải quyết vấn đề đói nghèo và phát triển kinh tế tại Việt Nam. Đói nghèo là vấn
đề ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững, đồng thời là vấn đề xã hội nhạy cảm
nhất. Không thể lãng quên nhóm cộng đồng yếu thế, ít cơ hội theo kịp tiến trình
phát triển mà Chính phủ với việc cải cách, sửa đổi những khiếm khuyết của thể
chế kinh tế để nhóm nghèo đói tự vươn lên xoá đói giảm nghèo.
1.1.3. Một số khái niệm liên quan.
- Hộ nghèo: Là những hộ có thu nhập bình quân đầu người trong hộ dưới

• Số phòng học( Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo) chỉ
đáp ứng được dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng học
tạm bợ bằng tranh tre, nứa, lá.
• Chưa có trạm y tế xã hoặc có nhưng là nhà tạm.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
• Chưa có chợ hoặc chợ tạm bợ.
- Hộ vượt nghèo hay hộ thoát nghèo: Là những hộ mà sau một qúa trình
thực hiện chương trình Xoá đói giảm nghèo cuộc sống đã khá lên và mức thu
nhập đã ở trên chuẩn mực nghèo đói. Hiện nay, ở một số địa phương có sử dụng
khái niệm hộ thoát(hoặc vượt) đói và họ thoát nghèo. Hộ thoát nghèo đương
nhiên không còn là hộ đói nghèo nữa. Trong khi đó, hộ thoát nghèo đói có thể
đồng thời thoát hẳn nghèo(ở trên chuẩn nghèo), nhưng đa số trường hợp thoát
đói(rất nghèo) nhưng vẫn ở trong tình trạng nghèo.
- Số hộ nghèo giảm hay tăng trong một khoảng thời gian: Là hiếu số giữa
tổng số hộ nghèo ở thời điểm đầu và cuối. Như vậy, giảm số hộ đói nghèo khác
với khái niệm số hộ vượt nghèo và thoát nghèo. Số hộ thoát nghèo là số hộ ở đầu
kỳ nhưng đến cuối kỳ vượt ra khỏi ngưỡng nghèo. Trong khi đó, số hộ nghèo
giảm đi trong kỳ chỉ phản ánh đơn thuần chênh lệch về mặt số lượng hộ nghèo,
chưa phản ánh thật chính xác kết quả của việc thực hiện chương trình.
- Hộ tái nghèo: Là hộ vốn dĩ trước đây thuộc hộ nghèo và đã vượt nghèo
nhưng do nguyên nhân nào đó lại rơi vào cảnh đói nghèo. Ý nghĩa của khái niệm
này là phản ánh tính vững chắc hay tính bền vững của các giải pháp xoá đói
giảm nghèo. Thực tế cho thấy, hầu hết các hộ tái nghèo chính là do gặp thiên tai
bất khả kháng.
- Hộ nghèo mới hay là hộ mới vào danh sách nghèo: Là những hộ ở đầu kì
không thuộc danh sách đói nghèo nhưng đến cuối kỳ lại là hộ nghèo. Như vậy,
hộ mới bước vào danh sách nghèo bao gồm những hôn như sau: Hộ nghèo
chuyển tiếp từ nơi khác đến; hộ nghèo tách hộ; hộ trung bình khá vì một lý do
nào đó lại trở thành hộ nghèo hoặc hộ tía nghèo.

1.800.000đồng/người/năm được coi là nghèo.
Giai đoạn 2006-2010:
Chuẩn nghèo chỉ áp dụng cho 2 khu vực là:
Khu vực Nông thôn: Thu nhập bình quân 200.000đồng/người/tháng, được
coi là nghèo.
Khu vực thành thị: Thu nhập bình quân 260.000đồng/người/tháng, được
coi là nghèo.
1.1.5. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo.
- T ăng trưởng kinh tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia.
Nó là điều kiện cần thiết đầu tiên để khác phục tình trạng nghèo đói, lạc hậu, để
cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân cư.
- Xoá đói giảm nghèo gắn với tăng trưởng kinh tế. Bất cứ quốc gia nào
cũng phải lấy nền quan tọng nhất của nó là phát triển tăng trưởng kinnh tế để xoá
đói giảm nghèo, chỉ có tăng trưởng kinh tế mới cho phép các quốc gia tích luỹ để
đầu tư cho xoá đói giảm nghèo vì xoá đói giảm nghèo cần rất nhiều nguồn lực và
trong nhiều năm. Mặt khác tăng trưởng kinh tế phải vì người nghèo, vùng nghèo
thì mới lam fcho khoảng cách giầu nghèo một cách hợp lý với tiến trình phát
triển của xã hội. Nếu tăng trưởng kinh tế không vì người nghèo thì chính nó lại
làm cho kh oảng cách giầu nghèo tăng thêm và điều này không phù hợp với định
hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên trong phân bố ngân sáchchúng ta không được
thiên lệch về một hướng nào. Nếu tăng trưởng kinh tế quá nhanh thì nguồn ngân
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sách cho xoá đói giảm nghèo sẽ ít và người nghèo không theo kịp tiến trình phát
triển kinh tế và ngược lại nếu chú trọng và công tác xoá đói giảm nghèo mà
không quan tâm đến tăng trưởng kinh tế thì càng làm cho người nghèo càng
nghèo thêm.
Vì vậy, xoá đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng và tăng
trưởng bền vững vào tăng trưởng kinh tế trên diện rộng được coi là một bộ phận
quan trọngcủa chiến lược và là nhiệm vụ chung của xã hội và chính người

nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo. Trong đó phải kể đến một số yếu tố cơ
bản có ảnh hưởng đến đói nghèo của huyện như sau:
2.1.Yếu tố khách quan.
• Yếu tố tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp thuần tuý
của huyện. Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp luôn bị rơi vào tình
cảnh mất mùa, có năm mất trắng ở một số xã đối với diện tích lúa nước (năm
2005). Đây không chỉ là do thiên nhiên ngày càng biến đổi phức tạp khó lường
mà nó còn do một phần bàn tay con người gây ra. Việc thiếu ý thức trong bảo vệ
rừng là một nguyên nhân điển hình gây ra nhiều lũ quét và lốc xoáy. Do tàn pha
rừng và môi trường thiên nhiên nên tự nhiên không còn tuân theo quy luật vốn
có của nó nữa. Chính việc này gây ra hiệu quả sản xuất nông nghiệp tụt giảm
đáng kể. Không ai khác gánh chịu hậu quả này đó chính là người nông dân. Khi
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
rơi vào cảnh mất mùa thì người nghèo lại càng nghèo hơn. Bên cạnh đó, ngoài
sản xuất nông nghiệp họ rất khó chuyển đổi canh tác. Một phần là vì địa hình
phức tạp, và một phần là do khí hậu hạn chế khả năng canh tác của họ. Chính vì
vậy nghèo đói vẫn còn tồn tại và một phần là điều kiện tự nhiên gây nên.
• Yếu tố kinh tế- xã hội.
Nền kinh tế non trẻ do việc huyện mới được thành lập không lâu, sự ổn
định cần thiết của nó cũng chỉ mới là bước đầu. Để có thể tạo cơ hội cho người
dân có nhiều việc làm hơn, có thu nhập cao hơn là từ nông nghiệp thuần tuý vẫn
phải có thời gian. Chính vì vậy khó có thể tránh khỏi sự chênh lệch về kinh tế
cũng như là thu nhập của ngưòi dân so với các địa phương khác. Thực tế cho
thấy, khi kinh tế chưa thực sự ổn đinh, tác động của nó đến đời sống người dân
là rất lơn. Nó không chỉ gây ra tình trạng thiếu việc, thiếu cơ sở vật chất… mà
còn kìm hãm chính sự phát triển của con người. Như vậy, người dân rơi vào
cảnh nghèo đói là một điều khó thể tránh khỏi. Hiện tượng này không chỉ xảy ra
với huyện Như Thanh - Thanh Hoá mà còn xảy ra trên phạm vi tỉnh, cả nước và

quyết tâm thoát nghèo nên đói nghèo vẫn tồn tại trong cuộc sống của họ. Đói
nghèo chỉ có thể xoá được khi có sự nỗ lực từ chính bản thân người nghèo.
Trên đây chỉ là một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến vấn đề nghèo đói.
Thực tế cho thấy nạn nghèo đói không thể giải quyết trong thời gian ngắn, chính
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vì vạy mà những yếu tố ảnh hưởng đến nó cũng sẽ thay đổi theo thực trạng
nghèo đói của từng nơi.
3. Ảnh hưởng của đói nghèo đến đời sống xã hội.
Vấn đề nghèo đói không chỉ gây ra những hậu quả cho bản thân người
nghèo mà còn gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển chung của toàn xã
hội. Ta có thể thấy được tác động của nghéo đói đến bản thân người nghèo và
ảnh hưởng đến toàn xã hội thông qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Ảnh hưởng của nghèo đói đến đời sống xã hôi.
Nghèo đói dẫn đến
Bệnh tật Gia tăng dân số
Môi trường sống Suy dinh dưỡng
Tệ nạn xã hội Thất học
Nghèo đói
Cản trở sự tăng trưởng kinh tế Kìm hãm sự phát triển con người
Bất bình đẳng xã hội Phá huỷ môi trường
( Nguồn:Tài liệu tập huấn Cán bộ Xoá đói giảm nghèo cấp huyện và xã-2006)
Như vậy, muốn kinh tế phát triển được thì phải giải quyết được vấn đề
nghèo đói.
Xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản hướng
vào phát triển con người, nhất là người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, để cho người nghèo có cơ hội
và điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội phát triển sản xuất tự vươn lên thoát khỏi

tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, những bài học đó chỉ là cơ sở để
nghiên cứu, việc áp dụng được hay không còn phả xem xét rất nhiều ở từng khía
cạnh và thời kỳ cụ thể của nước ta.
4.2. Kinh nghiệm Xoá đói giảm nghèo của một số địa phương trong nước.
- Kinh nghiệm góp phần xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Đồng Nai : Đưa
"những cái thiếu" về nông thôn, đến tận tay người nghèo.
Đồng Nai được xem là một trong những địa phương thành công nhất trong việc
thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo. Bài học kinh nghiệm của tỉnh thì
nhiều, nhưng dưới góc nhìn của Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo Chính phủ, thì
các chính sách "đem cái chữ đến cho người nghèo", "gắn chế biến nông sản với
vùng nguyên liệu" và "đưa ngân hàng về cơ sở" của Đồng Nai là những nét nổi
bật.
+)Dạy chữ, dạy nghề cho người nghèo
Trước khi triển khai thực hiện giải pháp nâng cao dân trí cho người nghèo, tỉnh
đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng trường lớp ở nông thôn, các vùng
khó khăn và tiến đến kiên cố hóa. Có cái nền vững chắc như vậy cùng với phong
trào xã hội hóa giáo dục của tỉnh diễn ra mạnh mẽ đã tác động đến ý thức của
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
người dân, đặc biệt là nông dân trong việc chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và
đào tạo. Nhờ vậy, đến nay hầu hết các em tuổi từ 18 trở xuống đều có trình độ tốt
nghiệp trung học cơ sở.
Tỉnh cũng chủ trương bên cạnh với công tác dạy chữ cần quan tâm đến
dạy nghề để giúp người dân có việc làm, thu nhập ổn định, thoát nghèo bền
vững. Sở Lao động, thương binh và xã hội cùng ngành giáo dục - đào tạo đã tổ
chức được nhiều trường, khóa, lớp đào tạo nghề ngay tại các doanh nghiệp, tại
các xã vùng sâu, vùng xa để người dân nghèo, trình độ văn hóa chưa cao được
học những ngành nghề phù hợp. Hiện nay, ngoài các trung tâm học tập cộng
đồng có dạy nghề thì ở tất cả các huyện, thị xã trong tỉnh đều có nhiều trường,
lớp dạy nghề trên các lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp. Tỉnh cũng tiến hành

Đã có hơn 10.000 hộ nghèo sử dụng giống mới, kỹ thuật canh tác mới trong chăn
nuôi trồng trọt. Thực hiện chính sách trợ giá một số loại giống mới cho hộ nghèo
như: Lúa vụ mùa là 5.000đ/kg, lúa vụ chiêm là 3.000đ/kg, Ngô vụ đông là
3.000đ/kg... Trợ giá, trợ cước cho các sản phẩm thếit yếu như : muối, dầu hoả,
phân bón, giấy vở học sinh, than đá trong 5 năm là 3 tỷ đồng.
Đã cấp 30.000 thẻ KCB cho người nghèo theo Quyết định 139 của Chính
phủ. Hàng năm có trên 15.000 lượt người nghèo được KCB miễn giảm phí tại cơ
sơ y tế cấp huyện và gần 1000 lượt người được KCB miễn giảm phí ở các tuyến
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
y tế cấp trên. Số trẻ em được đúng độ tuổi là 8.479 em = 95,4%. Trong thời gian
qua huyện đã tiếp nhận hỗ trợ cho 535 hôộổn định dân cư thuộc diện di dân từ
các huyện và tỉnh khác.Huyện đã tổ chức được 12 lớp tập huấn nâng cao năng
lực Xoá đói giảm nghèo cho trưởng thôn với 450 học viên, hàng năm tập huấn
cho cán bộ làm công tác Xoá đói giảm nghèo của 34 xã, thị trấn.
Thực hiện cuộc vận động toàn dân hỗ trợ giúp đỡ hộ nghèo về nhà ở, trong
2 năm 2004-2005 đã hỗ trợ xây dựng được 1290 ngôi nhà cho hộ nghèo. Kết quả
sau thời gian thực hiện mục tiêu giảm nghèo đã giảm được 18.08% hộ = 2.775
hộ thoát nghèo, nhưng cũng có 156 hộ thoát nghèo. Đến cuối năm 2005 còn 15%
hộ nghèo = 2.630 hộ đạt 100% kế hoạch
Có được kết quả trên là do có sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng-
HĐND-UBND-MTTQ và các đoàn thể, sự nổ lực cố gắng của các ban chỉ đạo,
tập thể, các nhân, các phòng, ban ngành, cơ quan đơn vị đã góp phần không nhỏ
giảm tỷ lệ hộ nghèo theo đúng chỉ tiêu hàng năm đã đặt ra như: Xã Minh thọ, thị
trấn Chuối, Xã Vạn Hoà, Xã Thăng long...Trong đó, những đơn vị tiêu biểu xuất
sắc là Hội nông dân, Phòng nông nghiệp, Phong Nội vụ-LĐTB&XH và mốt số
cơ quan đoàn thể khác.
5. Sự cần thiết phải xoá đói giảm nghèo ở huyện Như Thanh - Thanh Hoá.
Nhìn nhận thực tế những tổn thất mà nghèo đói gây ra đối với Việt nam
nói chung và địa phương nói riêng, chúng ta có thể khẳng định tầm quan trọng

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghèo rất có thể trở thành hộ đói, như vậy thì sự nỗ lực của cán bộ và nhân dân
xem như đổ xuống sông xuống biển. Chính vì vậy, phải luôn thấy được sự cần
thiết của công tác Xoá đói giảm nghèo. Nó không chỉ mang lại cho người nghèo
một cuộc sống tốt đẹp hơn, bên cạnh đó nó có tác động tích cực đến mọi mặt của
đời sống xã hội.
Từ những phân tích trên ta có thể kết luận rằng công tác Xoá đói giảm
nghèo rất quan trọng và thực sự cần thiết. Sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế
cũng như toàn bộ đời sống của nhân dân trong huyện phụ thuộc vào hiệu quả của
chương trình quốc gia Xoá đói giảm nghèo. Nhìn chung, trong những năm vừa
qua đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. Điều này càng làm cho
vai trò của Xoá đói giảm nghèo trong huyện quan trọng hơn về mọi mặt.
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần 2: Đánh giá thực trạng đói nghèo ở huyện Như Thanh - tỉnh Thanh
hoá giai đoạn 2001-2005.
I. Đặc điểm của huyện Như Thanh - Thanh Hoá.
1. Đặc điểm tự nhiên.
Như Thanh - Thanh Hoá là huyện miền núi, nằm ở phía tây nam của tỉnh
Thanh Hoá. Được thành lập theo Nghị Định 72/CP, ngày 18/11/1996 của Chính
Phủ. Huyện mới chính thức đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính từ tháng 01
năm 1997. Toàn huyện có 16 xã và 1 thị trấn. Trong đó có 5 xã thuộc chương
trình 135. Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 58.733,42 ha, trong đó đất
nông nghiệp là 42.116,30 ha, đất phi nông nghiệp là 6.847,56 ha, còn lại là đất
chưa sử dụng 9.769,56 ha. Dân số của huyện theo số liệu thống kê vào ngày
01/2006 là 85.227 người, trong đó có 40.669 người trong độ tuổi lao động. Với 4
dân tộc anh em là Kinh, Thái, Mường, Thổ. Như Thanh - Thanh Hoá còn có một
số di tích lịch sử và khu du lịch sinh thái nổi tiếng như: Lò cao kháng chiến, chùa
thờ bà Triệu Thị Trinh, vườn Quốc gia Bến En.
Với điều kiên như vậy thì đời sống của nhân dân trong huyện chủ yếu dựa

đã có 16/17 xã, thị trấn có điện lưới quốc gia, 17/17 xã, thị trấn có điện thoại.
3. Đặc điểm văn hoá, xã hội.
Kinh tế phát triển là nhân tố phát triển văn hoá, giáo dục. Thực hiện Nghị
Quyết Trung ương khóa XII và khoá XIII và các Nghị Quyết văn hoá, giáo dục
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status