luận văn:Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nhập khẩu thiết bị toàn bộ tại công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật (Technoimport - Pdf 11

Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả nhập khẩu thiết bị toàn bộ
tại công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn
bộ và kỹ thuật (Technoimport )” Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân


đề tài này gồm 3 chương:
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
3
Chương I: Giới thiệu khái quát về công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn
bộ và kỹ thuật
Chương II: Thực trạng hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ tại công ty
XNK thiết bị toàn bộ và kỹ thuật (Technoimport).
Chương III: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nhập nhập khẩu
thiết bị toàn bộ tại Technoimport.
Do trình độ, thời gian còn hạn chế, nguồn tài liệu và thông tin còn hạn
hẹp nên bài viết này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, em
rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý chân thành của các thày cô giáo, các
bạn sinh viên để bài viết này được hoàn thiện hơn.
Nhân đây, em xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới Cô giáo, ThS
Nguyễn Ngọc Điệp, người đã trực tiếp hướng dẫn em tận tình trong suốt quá
trình thực hiện và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn Quý công ty Technoimport, đặc biệt là
các cô chú trong phòng XNK 5 đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá
trình thực tập để em có được những thông tin phục vụ cho bài viết này.
tổng số cán bộ công nhân viên lên đến 90 người với tổng số vốn là hơn 30 tỷ
đồng (năm 2007). Ngoài trụ sở chính tại Tràng Thi, Hà Nội, Technoimport
còn có mạng lưới các chi nhánh tại các thành phố lớn của Việt Nam là Thành
phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng và có văn phòng đại diện tại nhiều
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
5
nước trên thế giới như: Cộng hoà Liên Bang Nga, Pháp, Mỹ, Úc, Thụy Điển,
Hungari, Cuba, Singapore, Ý.

Chức năng nhiệm vụ của công ty
Nhiệm vụ của Công ty là chuyên xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ, máy
móc, thiết bị phụ tùng, vật tư, dịch vụ kỹ thuật và nhiều loại hàng hoá phục vụ
cho mọi nghành, mọi địa phương trong cả nước.
Nhập khẩu thiết bị toàn bộ là quá trình liên tục diễn ra từ đàm phán ký
kết hợp đồng cho đến khâu lắp ráp, vận hành chạy thử cho ra sản phẩm. Nhập
khẩu thiết bị toàn bộ khác với nhập khẩu các loại máy móc hay hàng hoá
thông thường, nó yêu cầu nhà nhập khẩu đảm bào tính hiệu quả của sản phẩm
đầu ra. Các quy trình thủ tục nhập khẩu dài hơn các mặt hàng khác. Việc đàm
phán ký kết, thanh toán phụ thuộc hoàn toàn vào đặc trưng này. Thông thường
đối với một thiết bị toàn bộ, nhà nhập khẩu phải tiến hành rất nhiều khâu, từ
khâu tham gia đấu thầu nhập khẩu (do thiết bị toàn bộ có giá trị lớn, việc sử
dụng, ứng dụng phải được cấp phép của rất nhiều bộ nghành) đến khâu đàm
phán ký kết hợp đồng mua bán với khách hàng nước ngoài, cuối cùng giai
đoạn ký kết hợp đồng, chuyển giao dây chuyền, lắp đặt, vận hành, hướng dẫn
sử dụng, đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra và cuối cùng là giai đoạn bảo
hành thiết bị.
Có thể nói để hoàn thành một hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ, cả

đường dây và trạm biến thế, mỏ than, nhà máy cơ khí chế tạo, các nhà máy
luyện cán thép, nhà máy xi măng, nhà máy phân bón, hoá chất, nhà máy sợi,
nhà máy dệt, nhà máy giấy, nhà máy in, công trình thuỷ lợi, y tế, thông tin,
bưu chính viễn thông, các trường đại học, bảo tàng, cung văn hoá, và rất
nhiều hạng mục công trình phục vụ cho các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội,
an ninh quốc phòng của đất nước. Technoimport đã trở thành một thương
hiệu quen thuộc với các ngành, địa phương và chủ đầu tư trong cả nước.
Giai đoạn 2: từ năm 1989 đến nay
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
7
Đây là thời kỳ đổi mới, Công ty đã tiến hành hoạt động hạch toán kinh
doanh theo cơ chế thị trường với nhiều loại hình kinh doanh phong phú và đa
đạng. Technoimport là một doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh
vực xuất nhập khẩu với ngành nghề kinh doanh: xuất nhập khẩu và nhận uỷ
thác xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ, máy móc vật tư, phương tiện vận tải và
các loại hàng công nghiệp, hàng tiêu dùng; nhận uỷ thác giao nhận, vận
chuyển nội địa hàng công trình hàng hoá xuất nhập khẩu đến mọi địa điểm
theo yêu cầu của khách hàng; kinh doanh nội địa các loại hàng hoá nói trên;
cung cấp dịch vụ tư vấn về đầu tư và thương mại; hợp tác đầu tư, liên doanh,
liên kết với các tổ chức kinh tế khác; ký hợp đồng xuất khẩu lao động đi các
nước, tiếp tục phát huy thế mạnh truyền thống và kinh nghiệm nhiều năm
trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật, coi trọng công tác
tư vấn đầu tư thương mại phục vụ các địa phương và các nghành trong việc
hiện đại hoá và đầu tư chiều sâu các công trình hiện có, tính toán hiệu quả đầu
tư và nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật cho các dự án mới, mở rộng và đa
dạng mặt hàng xuất nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn kinh doanh
với sản xuất để tạo thêm nguồn hàng xuất khẩu, tăng cường hợp tác, liên kết

1. Đặc điểm về sản phẩm
Thiết bị toàn bộ là một tập hợp máy móc, thiết bị vật tư dùng riêng cho
một dự án có trang bị công nghệ, có thống số kỹ thuật được mô tả và quy định
cụ thể trong thiết kế dự án dùng để sản xuất ra một loại sản phẩm cụ thể.
Nội dung của hàng hóa là thiết bị toàn bộ, trong buôn bán quốc tế thiết
bị được hiểu là tập hợp những máy móc và dụng cụ cần thiết cho việc thực
hiện quá trình công nghệ nhất định. Nhiều trường hợp đó chỉ là những công
cụ linh kiện cho một dây chuyển sản xuất đi kèm với các tài liệu kỹ thuật.
Những thiết bị nhập về này luôn được nhà sản xuất tách rời nhau, chẳng hạn
những máy móc thiết bị chính cho một dây chuyền sản xuất sau đó mới đến
linh kiện bổ trợ, tài liệu hướng dẫn vận hành cuối cùng là lắp ráp, vận hành,
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
9
chạy thử do các chuyên gia của nhà máy sản xuất tiến hành. Khi hệ thống vận
hành tốt nhà sản xuất mới chính thức bàn giao lại cho người mua cuối cùng.
Thông thường việc mua bán thiết bị toàn bộ còn kèm theo việc chuyển
giao công nghệ mà đối tượng của nó là các bằng phát minh, sáng chế, bí quyết
kỹ thuật, giấy phép sử dụng phát minh sáng chế. Do thiết bị toàn bộ đa dạng,
nhiều chủng loại nên việc mua bán thiết bị toàn bộ cũng đa dạng với nhiều
hình thức tiến hành. Nhập khẩu thiết bị toàn bộ là quá trình liên tục diễn ra từ
đàm phán ký kết hợp đồng cho đến lắp ráp, vận hành, chạy thử cho ra sản
phẩm. Nhập khẩu thiết bị toàn bộ khác với nhập khẩu các loại máy móc hay
hàng hóa khác, nó yếu cầu nhà nhập khẩu đảm bảo tính hiệu quả của sản
phẩm đầu ra. Do thiết bị toàn bộ có giá trị lớn, việc sử dụng, ứng dụng phải
được cấp phép của rất nhiều bộ nghành, nó ảnh hưởng đến trình độ phát triển,
khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong nước nên nhập khẩu thiết bị toàn bộ
không thể tran lan, đại trà mà phải do doanh nghiệp có uy tín, có kinh nghiệm

công nghệ lạc hậu, lỗi thời.
Nhóm mặt hàng chủ lực thứ hai là thiết bị lẻ, maý móc phụ tùng (chiếm
24,5%) và nguyên liệu sản xuất (chiếm 15,0%) mà Công ty nhập khẩu cho các
nhà máy, xí nghiệp trong cả nước, hầu hết là theo các hợp đồng nhập khẩu uỷ
thác. Kinh doanh các mặt hàng này theo hình thức uỷ thác có ưu điểm là
không mất vốn mà vẫn thu được lợi nhuận, bên cạnh đó thị trường lại được
mở rộng thêm.
2. Đặc điểm về thị trường nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
Thị trường là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưỏng tới hiệu
quả nhập khẩu thiết bị toàn bộ. Là thị trường có tính chất một chiều: các nước
đang phát triển bao giờ cũng ở địa vị người mua và các nước phát triển là
người bán. Do tính chuyển giao kỹ thuật công nghệ bao giờ cũng theo hướng
từ nước phát triển nhất sang nước phát triển kém hơn, sau đó đến các nước
đang phát triển, cuối cùng là các nước kém phát triển.
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
11
Gần đây có xu hướng chuyển giao thiết bị toàn bộ và kỹ thuật trong nội
bộ các nước phát triển với nhau. Điều này do quá trình quốc tế hoá ngày càng
cao, sâu sắc, hợp tác và đầu tư lẫn nhau giữa các nước phát triển diễn ra càng
nhiều, việc lập các liên doanh, đặt các chi nhánh ở các lãnh thổ để thâm nhập
và chiếm lĩnh thị trường cơ sở để phát triển việc chuyển giao thiết bị toàn bộ,
khoa học và kỹ thuật.
Về vấn đề thị trường, đặc biệt thị trường nhập khẩu luôn là vấn đề nan
giải, bức xúc đòi hỏi phải tập trung giải quyết. Trước khi chuyển sang cơ chế
thị trường, Công ty chỉ có quan hệ chủ yếu với các nước Liên xô cũ và các
nước Đông Âu. Sau khi Liên Xô cũ và một loạt các nước xã hội chủ nghĩa
Đông Âu tan rã, Công ty đã có nhiều cố gắng và bước đầu đạt được một số

USD

So v
ới
năm
trước
(%)
Tri
ệu
USD

So với
năm
trước
(%)
Nhật Bản 26,7 30,3

113,5 34,3

113,2 34,6 100,8

30,9

89,3
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
12
Pháp 10,0 13,6

102,2 23,0 102,6

22,7

98,7
CHLB Đức 3,4 3,9 114,7 4,7 120,5 4,9 104,2

4,80

97,9
(Nguồn: Phòng kế hoạch tài chính)

Các máy móc thiết bị nhập từ các nước như Hàn Quốc, Đài Loan hoặc
Trung Quốc thường không phải là loại hiện đại song có một ưu điểm là giá
hạ hơn so với các thiết bị nhập ở các nước công nghiệp tiên tiến. Thiết bị toàn
bộ nhập khẩu từ các nước công nghiệp phát triển thường là thiết bị trong các
nghành cơ khí chính xác, sản xuất gạch men, luyện thép, luyện kim, dầu khí,
thiết bị viễn thông
3. Đặc điểm về lao động
Là một doanh nghiệp thương mại nên Technoimport không có nhiều
lao động như doanh nghiệp sản xuất.
Bảng 2: Cơ cấu lao động theo tính chất lao động
TT Chỉ tiêu Số lượng (người) Tỉ trọng (%)
1 Nhân viên hành chính 83 92,3
2 Cán bộ quản lý 3 3,3
3 Nhân viên phục vụ, vệ sinh 4 4,4
4 Tổng số 90 100
(Nguồn : Phòng tổ chức cán bộ)
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân


6
9 Phòng xuất nhập khẩu số 4

6
10 Phòng xuất nhập khẩu số 5 11
11 Phòng xuất nhập khẩu số 6

9
12 Phòng xuất nhập khẩu số 7 8
13 Tổng số 90
(Nguồn : Phòng tổ chức cán bộ)
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
14
Tuy số lượng cán bộ không nhiều nhưng chất lượng lại rất tốt hầu hết
tất cả các nhân viên của công ty đều được đào tạo qua trường lớp với học thức
khá rộng trình độ nghiệp vụ cao với bằng cấp và bề dày kinh nghiệm trong
kinh doanh do đòi hỏi của tính chất công việc (theo số liệu từ phòng tổ chức
cán bộ: hơn 90% có trình độ từ đại học trở lên) trừ một số những người lao
động phụ làm các công việc như quét dọn, trông xe, thường trực. Chính điều
này đã giúp cho tỷ lệ thành công cũng như hiệu quả của các hợp đồng xuất
nhập khẩu của công ty là khá cao.
4. Bộ máy tổ chức quản lý của công ty
Phòng kế hoạch
tài
c
hính

Chi nhánh tại
H
ải
P
hòng

Chi nhánh tại
Đà N
ẵng

Phòng hành
chính qu
ản trị

Phòng xuất
nh
ập khẩu 1

Phòng xuất
nh
ập khẩu 2

Phòng xuất
nh
ập khẩu

Đứng đầu bộ máy quản trị là tổng giám đốc có quyền quyết định điều
hành hoạt động của Công ty theo đúng kế hoạch, chính sách pháp luật của nhà
nước và chịu trách nhiệm trước tập thể lao động về kết quả kinh doanh của
công ty. Giúp việc cho tổng giám đốc là 2 phó tổng giám đốc:
- Phó tổng giám đốc phụ trách quản lý các phòng chức năng giúp tham
mưu cho tổng giám đốc về các công tác quản lý tài chính, hành chính và tổ
chức cán bộ. Các phòng chức năng trực thuộc sự phó tổng giám đốc này là:
+ Phòng Kế hoạch tài chính: gồm 1 kế toán trưởng kiêm trưởng phòng
kế toán 3 phó phòng và 6 nhân viên khác. Giữ vai trò giám đốc đồng tiền cho
mọi hoạt động của Công ty, thực hiện theo cơ chế hạch toán tập trung. Mọi
vấn đề liên quan đến tài chính dưới bất kỳ hình thức nào đều phải qua phòng
kế hoạch tài chính trước khi trình lãnh đạo phê duyệt.
Các văn
phòng đại
diện tại nước
ngoài

Trung tâm
XNK và hiệp
tác lao động
Phòng xuất
nh
ập khẩu 5

Phòng xuất
nh
ập khẩu 6

Phòng xuất
nh

+ Phòng XNK 7: Hoạt động nhập khẩu các loại thiết bị máy móc khác
nhau, chủ yếu thiết bị và nguyên liệu sản xuất cho các nhà máy bia, thiết bị
thông tin liên lạc, thiết bị thi công.
4.2. Các đơn vị trực thuộc
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
17
- Trung tâm tư vấn và đầu tư thương mại: Nhiệm vụ là tham mưu cho
Tổng giám đốc, cho các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu, cho các chi nhánh
về những vấn đề liên quan đến hoạt động của Công ty. Cung cấp các dịch vụ
tư vấn như: Soạn thảo hồ sơ mời thầu, xét thầu và soạn thảo, đàm phán ký kết
hợp đồng.
- Trung tâm xuất nhập khẩu và hợp tác lao động quốc tế: Chức năng
chính là xuất nhập khẩu lao động
- Chi nhánh Công ty tại Hải Phòng: Hoạt động tất cả các lĩnh vực xuất
nhập khẩu của Công ty nhưng hoạt động chủ yếu là giao nhận vận tải.
- Chi nhánh Công ty tại Đà Nẵng: hoạt động kinh doanh nhập khẩu khu
vực miền Trung và hoạt động giao nhận vận tải tại cửa khẩu Đà Nẵng
- Các chi nhánh văn phòng ở nước ngoài: Tìm hiểu, nghiên cứu thị
trường nước ngoài, giúp giao dịch với đối tác thuận lợi và mở rộng thị trường.
III. Hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây.
1. Kết quả kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
Trước những năm 90, Technoimport là doanh nghiệp độc quyền trong
nhập khẩu thiết bị toàn bộ. Là một doanh nghiệp nhà nước, với ưu thế độc
quyền chỉ có Technoimport mới được phép nhập khẩu thiết bị toàn bộ, Công
ty đã nhập khẩu hơn 500 công trình thiết bị toàn bộ trong phạm vi cả nước.
Ngày nay, dù có sự biến động lớn về kinh tế, tiền tệ, đổi mới về cơ chế quản
lý, phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt trong cơ chế thị trường, mất đi ưu

(%)
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
18
Tổng tài sản 137,19 153,04

111,6 150,39

98,3 160,50

106,7 165,93

103,4

Tổng nợ phải
trả
105,25 120,74

114,7 117,23

97,1 127,26

108,6

130,84

102,8


là 0,54 tỷ. Điều này cho thấy năm 2005 công ty hoạt đông khá hiệu quả. Sang
đến năm 2006 thì doanh thu đạt 156,23 tỷ cao hơn so với năm 2005 là 2,3%
nhưng lợi nhuận sau thuế lại giảm 71,6% và tình trạng này tiếp tục diễn ra
trong năm 2007 khi doanh thu tiếp tục tăng 3,6 tỷ (tăng tướng ứng 2,3%) so
với năm trước nhưng lợi nhuận sau thuế lại giảm 3%, chỉ đạt được 32 triệu.
Trong nội bộ Công ty có sự chênh lệch khá cao giữa các phòng kinh doanh và
các chi nhánh trong Công ty, chi nhánh trong thành phố Hồ Chí Minh có
doanh thu cao nhất Công ty, tiếp theo là trung tâm xuất nhập khẩu lao động và
hợp tác quốc tế, sau đó là phòng xuất nhập khẩu 5 và đến các chi nhánh,
phòng ban khác.
Bảng 6: Tình hình xuất nhập khẩu trong 4 năm 2003 – 2007
(đơn vị: USD)
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
19
Các chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Xuất khẩu (thực
hiện)
5.463.733

5.741.821

5.454.073

6.835.917

6.564.801


97.433.749

111.300.000

103.943.929

Thực hiện so với
kế hoạch (%)
127,4

145,4

110,3

117,5

110,7

( Nguồn : báo cáo tổng kết kế hoạch kim ngạch xuất nhập khẩu )
Qua bảng tình hình xuất nhập khẩu trên, trong cả 4 năm 2003, 2004,
2005, 2006, 2007 Công ty đều hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao, làm
tròn nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước, bảo toàn và phát triển vốn do nhà
nước cấp. Năm 2003, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức 127,4% tăng 27,4%
tương ứng là 26.030.367 USD so với kế hoạch đề ra. Đặc biệt, năm 2004 đánh
dấu sự thành công vượt bậc của công ty với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt
mức 145,4% tương ứng đạt 148.342.029 USD, tăng 45,4% so với mức kế hoạch,
tương ứng tăng 46.318.626 và điều này cũng thể hiện rõ khi cả doanh thu và lợi
nhuận đều tăng lên đáng kể. Năm 2005, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 110,3%
tương ứng đạt 107.438.112 USD cũng vượt mức kế hoạch đề ra, tăng 10,3%
tương ứng tăng 9.944.362 USD, tuy không tăng bằng năm 2004 nhưng lợi

tằm, sợi các loại. Trong đó:
Biểu 2: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của công ty:
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
21
57.5%
9.2%
10.2%
18.1%
5%
Cao su
Bao PP
Quần áo
Lao động
Mặt hàng và
dịch vụ khác

(Nguồn : Báo cáo tổng kết cơ cấu hàng xuất nhập khẩu năm 2007)
(Bao gồm: hành sấy, tiêu đen, ống hút, mây tre, than gáo dừa, gốm sứ
mỹ nghệ…)
Nhìn vào bảng trên, chúng ta có thể thấy, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
của công ty là cao su, chiếm 57,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu còn các
mặt hàng khác chiếm tỷ trọng không nhiều. Trong những năm gần đây, công
ty đã đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và hoạt động này đã mang lại nguồn thu
đáng kể, ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của
công ty.
Khu vực xuất khẩu chính của Công ty là các thị trường: Hàn Quốc,
Đức, Nhật Bản, Hà Lan, Pháp, Úc, Thái lan, Đan Mạch, Thụy Sỹ, Cambodia,


CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG
NHẬP KHẨU THIẾT BỊ TOÀN BỘ TẠI CÔNG TY
I. Đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ của Công ty
những thành tựu đạt được và những vấn đề còn tồn tại
1. Hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ của Việt Nam cũng như
của Công ty thời kỳ trước 1990
Sau khi giành được độc lập, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng nỗ lực

1
Bản thuyết minh Báo cáo tài chính năm 2007 của công ty.

Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
23
quyết tâm xây dựng đất nước. Trải qua cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nền
kinh tế Việt Nam ở buổi ban đầu còn vô cùng nghèo nàn, lạc hậu và hết sức
thiếu thốn, cơ sở vật chất hầu như ở con số không. Từ đầu những năm 1950,
đã có một số ít công trình thiết bị toàn bộ được nhập khẩu về Việt Nam thông
qua việc ký kết biên bản hợp tác song phương giữa hai chính phủ, song quá
trình nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật chỉ thực sự bắt đầu khi Tổng công
ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật (Technoimport) ra đời năm
1959. Đây là doanh nghiệp Nhà nước đầu tiên được thành lập để hoạt động
trong lĩnh vực tư vấn về kình tế, đồng thời cũng là doanh nghiệp duy nhất
được Nhà nước giao nhiệm vụ nhập khẩu các công trình thiết bị toàn bộ cho
tất cả các Bộ ngành, địa phương, kể cả cho an ninh quốc phòng trong suốt

1988
Năm
1989
Năm
1990
Hàng nguyên liệu 57,0 58,7 56,2 59,0 59,2
Máy móc thiết bị 34,7 30,7 34,8 33,5 27,4
Hàng đã chế biến 8,3 10,6 9,0 7,5 13,4
Tổng 100 100 100 100 100
(Nguồn: Tổng cục thông kê, 1990)
Với bối cảnh như vậy, vốn để nhập khẩu thiết bị toàn bộ chủ yếu là từ
các nguồn như vốn viện trợ không hoàn lại, tín dụng chính phủ, tín dụng của
các tổ chức quốc tế cho vay thông qua các hiệp định cấp chính phủ hoặc thoả
thuận quốc tế, tín dụng ngân hàng, tín dụng xuất khẩu thoả thuận và ký kết
trong hợp đồng mua bán dưới sự bảo đảm của Ngân Hàng Ngoại Thương
Việt Nam và nguồn vốn dự trữ của Nhà nước hoặc vốn tự có của các doanh
nghiêp (dù rằng chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong giai đoạn này).
Căn cứ vào các nguồn vốn vay và viện trợ nói trên cùng với nguồn vốn
ngân sách, Nhà nước sẽ cân đối và cấp vốn cho đơn vị chuyên trách tiến hành
nhập khẩu. Những năm cuối thập kỷ 70, Công ty đã nhập một số lượng lớn
công trình thiết bị, máy móc góp phần xây dựng cơ sở vất chất kỹ thuật cho
đất nước từ các nguồn vốn vay và viện trợ của nhiều nước và các tổ chức
quốc tế (cả tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa), từ đó có được sự tin tưởng
của Nhà nước, của các chủ đầu tư trong nước cũng như các đối tác nước
ngoài. Từ sau năm 1978 – 1979, một loạt các nước (chủ yếu là các nước tư
bản chủ nghĩa) và tổ chức quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tê (IMF), Ngân hàng
Thế giới (WB) đã ngừng cấp vốn vay và viện trợ cho Việt Nam, chỉ có
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
316,00 57,46 200,00 36,36 34,00 6,18
1989

205,08 38,12 250,69 46,60 82,15 15,28
(Nguồn: Báo cáo tồng kết của Công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ
và kỹ thuật và tổng cục thống kê 1990)
Với các nguồn vốn vay nước ngoài khác, trong những năm này Công ty
đã nhập khẩu gần 500 công trình thiết bị toàn bộ cỡ lớn và nhỏ phục vụ cho
sự nghiệp xây dựng đất nước, trong đó có thể kể đến các công trình như: Các
nhà máy thủy điện Hoà Bình, Trị An; các trạm biến thế và đường dây 110KV,
220KV; các mỏ than Cẩm Phả; các công trình thủy lợi và thông tin bưu chính
viễn thông
Sự hỗ trợ của Liên Xô và một số nước Đông Âu có ý nghĩa hết sức
quan trọng đối với sự nghiệp khôi phục và phát triển kinh tế cũng như bảo vệ
Tổ quốc. Hiệu quả của sự hợp tác ấy càng rõ rệt trong hoàn cảnh nước ta phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status