luận văn:Hoạt động nhập khẩu máy móc thiết bị hàng không tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hàng không: Thực trạng và giải pháp - Pdf 11

LuËn v¨n tèt nghiÖp
NguyÔn Xu©n Léc
1
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46



ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Đề tài: “Hoạt động nhập khẩu máy móc
thiết bị hàng không tại Công ty Cổ phần
Xuất nhập khẩu Hàng không: Thực trạng
và giải pháp”


không trong những năm vừa qua đã đạt được những thành tựu lớn, nhưng bên
cạnh đó vẫn còn những hạn chế trong hoạt động kinh doanh của Công ty.
Nhưng để có thể đánh giá chính xác hơn thực trạng hoạt động kinh doanh tại
Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Hàng không AIRIMEX và dưới sự chỉ dẫn
tận tình của Th.S Nguyễn Quang Huy và sự giúp đỡ của các cán bộ phòng
LuËn v¨n tèt nghiÖp
NguyÔn Xu©n Léc
3
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46
kinh doanh, em chọn đề tài : “Hoạt động nhập khẩu máy móc thiết bị hàng
không tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hàng không: Thực trạng và
giải pháp” làm luận văn tốt nghiệp.
Việc nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hoạt động kinh doanh của Công
ty trong thời gian vừa qua. Qua đó rút ra được những điểm mạnh, yếu trong
hoạt động kinh doanh và từ đó sẽ đề xuất ra phương hướng và giải pháp nhằm
khắc phục những hạn chế còn tồn tại.
Kết cấu của luận văn tốt nghiệp gồm 3 chương:
• Chương 1: Khái quát những vấn đề cơ bản về hoạt độnh nhập
khẩu hàng hoá của doanh nghiệp xuất nhập khẩu
• Chương 2: Thực trạng hoạt động nhập khẩu thiết bị tại Công ty
Cổ phần xuất nhập khẩu Hàng không - AIRIMEX
• Chương 3: Hoàn thiện hoạt động nhập khẩu thiết bị tại công ty
Cổ phần Xuất nhập khẩu Hàng không trong thời gian tới
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em đã nhận được sự giúp đỡ và tạo
điều kiện thuận lợi từ TH.S Nguyễn Quang Huy - Giảng viên Khoa Thương
mại và các cán bộ nhân viên phòng kinh doanh trong công ty. Em xin chân
thành cảm ơn sự giúp đỡ hết sức quý báu này! Do kiến thức còn hạn chế và
thiếu kinh nghiệm thực tiễn, đề tài của em vẫn còn nhiều thiếu sót. Rất mong
sự góp ý của các thầy cô, các cán bộ nhân viên trong công ty,… để đề tài được
hoàn thiện hơn và giúp em nâng cao tầm nhận thức.

một quốc gia khác theo nguyên tắc thị trường quốc tế nhằm phục vụ sản xuất
trong nước hay tái xuất khẩu để tìm kiếm lợi nhuận.
Đối với mỗi quốc gia, hoạt động nhập khẩu luôn là một bộ phận quan
trọng trong quá trình buôn bán quốc tế, nó thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa
các nền kinh tế trên thế giới. Điều này càng thể hiện rõ ràng hơn khi sự khan
hiếm về tài nguyên của mỗi nền kinh tế. Điển hình là Nhật Bản, một nước có
nguồn tài nguyên khan hiếm và phải nhập khẩu nhiều loại hàng hoá khác nhau
đề khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ 2. Hoạt động nhập
khẩu hàng hoá của Nhật Bản cho thấy phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế
LuËn v¨n tèt nghiÖp
NguyÔn Xu©n Léc
5
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46
và vai trò quan trọng của hoạt động nhập khẩu đối với mỗi quốc gia trong việc
phát triển nền kinh tế.
Hơn nữa, với xu thế toàn cầu hoá, liên minh liên giữa các nền kinh tế
hình thành nên các khu vực mậu dịch tự do hay các liên minh kinh tế như EU,
AFTA, NAFTA,… cho thấy khối lượng các hoạt động ngoại thương ngày
càng lớn và nhập khẩu là một bộ phận không thể thiếu để ổn định nền kinh tế
của từng quốc gia riêng lẻ mà còn là sự ổn định của liên minh hay của từng
khu vực kinh tế.
1.2. Vai trò của nhập khẩu
Qua những thời kì phát triển của nền kinh tế thế giới, ta có thể thấy
được mối quan hệ chặt chẽ giữa sự phát triển nền kinh tế và hoạt động mua
bán hàng hoá quốc tế. Quốc gia nào có hoạt động thương mại quốc tế phát
triển thì ở đó có một nền kinh tế phát triển. Trước năm 1986, Việt Nam chủ
trương xây dựng nền kinh tế tự cung tự cấp nhưng thực tế đã chỉ ra rằng đó là
một sai lầm trong việc khôi phục và phát triển đất nước sau chiến tranh. Sự
khan hiếm hàng hoá hay các thiết bị máy móc kĩ thuật đã gây ra ảnh hưởng
nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và buôn bán hàng hoá. Học được từ

kiện làm việc.
Thứ hai, nhập khẩu sẽ thúc đẩy hoạt động xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đối với bất kì quốc gia nào trên thế giới,
họ đều không thể tự sản xuất được tất cả hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng hay
xây dựng, đặc biệt ở những nước đang phát triển. Những nền kinh tế đang
phát triển như Việt Nam, quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho mục
đích phát triển kinh tế là rất lớn, nhưng những nền kinh tế này không thể tự
sản xuất ra các trang thiết bị máy móc hiện đại, do đó không còn con đường
nào khác ngoài nhập khẩu để hiện thực hoá mục đích đó. Ngoài ra, hoạt động
nhập khẩu phát triển sẽ điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Sự phát triển của nhập khẩu
sẽ đẩy mạnh sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ do áp dụng
những thành tựu khoa học trên thế giới, qua đó tỉ trọng ngành dịch vụ và công
nghiệp tăng còn tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm dần.
Thứ ba, nhập khẩu hàng hoá có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp sản xuất, chất lượng
LuËn v¨n tèt nghiÖp
NguyÔn Xu©n Léc
7
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46
là tiêu chí đầu tiên khi lựa chọn nguyên vật liệu. Các doanh nghiệp sản xuất
trong nước đang khan hiếm nguồn nguyên liệu có chất lượng tốt nhằm nâng
cao chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, họ cũng cần một quy trình sản xuất
hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Do đó, hoạt động nhập khẩu sẽ
giúp họ giải quyết tốt những vấn đề này. Còn với doanh nghiệp thương mại,
nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài đem tiêu thụ tại thị trường trong nước sẽ
đem lại lợi nhuận cho họ khi hàng hoá đó có chất lượng tốt, mẫu mã phong
phú thoả mãn yêu cầu của thị trường.
Các quốc gia trên thế giới đang áp dụng ngày càng nhiều khoa học công
nghệ vào mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Và Việt Nam cũng không nằm ngoài
xu thế này, nhất là Việt Nam đang trên đường hội nhập với nền kinh tế thế

1.3.1. Nhập khẩu liên doanh
Đây là hình thức nhập khẩu dựa trên sự tự nguyện của các chủ thể kinh
tế tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu, trong đó có ít nhất một bên nhập khẩu
trực tiếp nhằm kết hợp với nhau để thực hiện các giao dịch và đưa ra các biện
pháp liên quan đến nhập khẩu để cả hai bên cùng thu được lợi ích mong
muốn.
Trong hình thức này, các bên không phải chịu rủi ro do có sự phân bổ
về vốn, trách nhiệm, quyền hạn cho các bên. Thực tế, bên nào có kinh
nghiệm, bạn hàng giao dịch và nghiệp vụ tốt sẽ có quyền nhập khẩu và trực
tiếp góp vốn, bảo đảm cho các hoạt động sau đó như tiêu thụ, gia công.
Tại Việt Nam, hoạt động nhập khẩu liên doanh vẫn đang được áp dụng
tại nhiều doanh nghiệp do một mặt thiếu vốn, năng lực cần thiết; mặt khác do
không thể tìm được đối tác có nhu cầu tương tự.
1.3.2. Nhập khẩu trực tiếp
Là hình thức nhập khẩu mà một doanh nghiệp độc lập nhập khẩu hàng
hoá mà doanh nghiệp đó kinh doanh. Hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp
nhập khẩu không chỉ nghiên cứu thị trường, luật pháp và chính sách của nhà
nước mà còn là các tập quán quốc tế, thông lệ quốc tế.
Khi áp dụng hình thức nhập khẩu này, doanh nghiệp nhập khẩu tự tìm
kiếm nhà cung ứng những hàng hoá mình cần nhập khẩu. Điều này đòi hỏi
LuËn v¨n tèt nghiÖp
NguyÔn Xu©n Léc
9
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46
doanh nghiệp phải nắm bắt được chất lượng hàng hoá của đối tác cũng như
những thông tin về đối tác để đảm bảo không bị gian lận thương mại. Trong
hình thức này, doanh nghiệp nhập khẩu sẽ chịu toàn bộ những rủi ro xảy ra
nhưng được hưởng lợi toàn bộ. Các doanh nghiệp sẽ có sự tự chủ trong việc
mua hàng hoá hơn so với các hình thức khác, nhà nhập khẩu sẽ tự chủ hoàn
toàn từ khâu nghiên cứu nhu cầu thị trường cho đến tìm kiếm đối tác, ký kết

trong hoạt động nhập khẩu uỷ thác.
Trước khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác, hai bên sẽ ký kết hợp đồng mà
theo đó bên uỷ thác nhận được hàng hoá theo đúng yêu cầu của mình và phải
trả cho bên nhận uỷ thác một khoản tiền gọi là lệ phí uỷ thác. Bên nhận uỷ
thác sẽ thay mặt bên uỷ thác tự tìm kiếm đối tác và thực hiện tất cả các khâu
trong hoạt động nhập khẩu hàng hoá đó. Bên cạnh đó, bên nhận uỷ thác không
phải chịu rủi ro về vốn hay về hoạt động bán hàng vì sau khi nhận được lệ phí
uỷ thác, bên nhận uỷ thác sẽ giao hàng cho bên uỷ thác. Trên thực tế, bên
nhận uỷ thác thường là các công ty lớn có khả năng về vốn, nghiệp vụ và có
uy tín trên thị trường.
Hoạt động nhập khẩu sẽ đem lại lợi ích cho cả bên uỷ thác và bên nhận
uỷ thác. Trong khi bên nhận uỷ thác kiếm được một khoản lệ phí uỷ thác, còn
bên uỷ thác vẫn có những hàng hoá mà mình mong muốn mặc dù điều kiện để
nhập khẩu trực tiếp không cho phép. Bên uỷ thác cũng sẽ tiết kiệm được thời
gian khi không phải làm các thủ tục để có thể nhập khẩu hàng hoá. Tuy nhiên,
về lâu dài các doanh nghiệp uỷ thác sẽ mất lợi thế về chi phí trong hoạt động
bán hàng và đôi khi hàng hoá không đảm bảo đúng yêu cầu về chất lượng, kỹ
thuật như trong hợp đồng uỷ thác.
Hoạt động nhập khẩu hàng hoá có nhiều hình thức, các doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu cần xác định chính xác tiềm lực của mình không
chỉ về tài chính mà bên cạnh đó là các nghiệp vụ trong hoạt động nhập khẩu
hàng hoá sao cho lợi ích đem lại là tối ưu.
2. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI DOANH NGHIỆP
Hoạt động nhập khẩu nói riêng cũng như hoạt động ngoại thương nói
chung luôn được tổ chức thực hiện với nhiều khâu, nhiều nghiệp vụ từ nghiên
cứu thị trường và tìm kiếm đối tác cho đến đàm phán ký kết hợp đồng và thực
LuËn v¨n tèt nghiÖp
NguyÔn Xu©n Léc
11
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46

NguyÔn Xu©n Léc
12
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46
quan trọng đó là tổng hợp, phân tích, đánh giá mới thấy được xu hướng vận
động của thị trường. Đặc điểm của phương pháp này là tốn kém về thời gian,
chi phí nhưng bù lại thông tin thu thập được phản ánh đúng xu hướng thị
trường.
2.1.2. Nội dung nghiên cứu thị trường
Đây là khẩu đầu tiên của quá trình nhập khẩu hàng hoá, nghiệp vụ này
là bắt buộc đối với bất kì doanh nghiệp nào muốn kinh doanh hàng hoá. Họ
cần phải nắm vững đặc điểm của từng thị trường như thị hiếu, phương thức
tiêu dùng và các phong tục tập quán của thị trường đó để có những điều chỉnh
phù hợp. Đây là quá trình phức tạp đòi hỏi sự chính xác để đưa ra các kết luận
và các phương án đúng đắn nhằm giảm thiểu rủi ro và tiết kiệm chi phí.
Thông qua hoạt động nghiên cứu thị trường, chúng ta có thể trả lời
được những vấn đề cơ bản của thị trường:
- Kinh doanh với ai?
- Kinh doanh mặt hàng gì? Mẫu mã như thế nào?
- Kinh doanh vào thời điểm nào và ở dâu?
- Giá cả và lợi nhuận như thế nào?
- Kinh doanh với số lượng bao nhiêu?
Nghiên cứu thị trường không chỉ nghiên cứu thị trường trong nước mà
còn nghiên cứu cả thị trường nước ngoài nữa.
a)Nghiên cứu thị trường trong nước
Nghiên cứu thị trường trong nước là nghiên cứu nhu cầu hiện tại và xu
thế sử dụng hàng hoá trên thị trường. Qua đó dự đoán nhu cầu sử dụng hàng
hoá trong tương lai gần như: thị trường cần hàng hoá gì? số lượng bao nhiêu?
mẫu mã, kiểu dáng như thế nào?
Khi tiến hành nghiên cứu thị trường, điều quan trọng mà doanh nghiệp
cần quan tâm đến đó là khả năng sản xuất và tiêu dùng hàng hoá của thị

2.2. Xây dựng chiến lược, kế hoạch và phương án nhập khẩu
2.2.1. Xác định mục tiêu chiến lược
Dựa vào kết quả nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sẽ có những
thông tin về thị trường, về nhà cung cấp và những hàng hoá cần nhập khẩu.
Doanh nghiệp sẽ có cơ sở để xây dựng chiến lược, kế hoạch và phương án
LuËn v¨n tèt nghiÖp
NguyÔn Xu©n Léc
14
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46
nhập khẩu hàng hoá tránh tình trạng nhập khẩu ồ ạt một loại hàng hoá mà mẫu
mã kém phong phú gây lãng phí nguồn lực. Để có thể xây dựng được một
chiến lược kinh doanh hợp lý, doanh nghiệp cần xác định mục tiêu chiến lược.
Mục tiêu là những giá trị cụ thể mà doanh nghiệp đạt được trong một
giai đoạn hay trong cả một quá trình kinh doanh. Mục tiêu này bao gồm mục
tiêu dài hạn, mục tiêu ngắn hạn. Khi tiến hàng xác định mục tiêu, doanh
nghiệp cần tính toán sao cho đảm bảo tính hợp lý, tính khả thi, tính đồng
bộ,… giữa những mục tiêu đặt ra trong cùng một thời kỳ.
2.2.2. Xác định các chính sách và điều kiện nhập khẩu
Đây là công việc xác định tư tưởng chỉ đạo trong suốt quá trình đàm
phán và thực hiện hợp đồng sau này. Doanh nghiệp cần xác định chính sách
nhập khẩu của mình thực hiện trong thời kỳ dài hay chỉ mang tính thời vụ, bên
cạnh đó là xác định điều kiện sẵn có của doanh nghiệp.
2.2.3. Lập kế hoạch, phương án kinh doanh
Trước hết ta phải hiểu thế nào là kế hoạch kinh doanh? Phương án kinh
doanh?
Kế hoạch kinh doanh là bản mô tả một cách tổng quát những nhiệm vụ,
mục tiêu của doanh nghiệp và những phương pháp để đạt được những mục
tiêu đó. Công tác lập kế hoạch sé giúp cho hoạt động nhập khẩu của công ty đi
đúng hướng và dễ thích ứng với những bất ngờ xảy ra. Kế hoạch kinh doanh
cũng cần phải đảm bảo tính khả thi và tính đồng bộ.

nhiên, với những đối tác có khoảng cách về địa lý thì sử dụng hình thức đàm
phán này rất khó khăn và đàm phán trực tiếp cũng đi kèm với chi phí cao.
- Đàm phán qua thư: Có độ chính xác cao, tất cả yêu cầu và mong
muốn của hai bên đều được thể hiện trên thư tín,và hình thức này cũng tiết
kiệm rất nhiều chi phí cho các bên tham gia. Nhưng phương thức này có thề
tốn nhiều thời gian nếu thư tín bị thất lạc không đến được tay đối tác.
- Đàm phán sử dụng phương tiện truyền thông(Fax, telex, email…):
hình thức này được sử dụng khá phổ biến vì tính nhanh, đảm bảo nội dung cần
đàm phán. Tuy nhiên, chỉ có thể áp dụng khi các bên thật sự tin tưởng lẫn
nhau.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
NguyÔn Xu©n Léc
16
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46
Mỗi phuơng thức đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau, tuỳ
vào điều kiện của mình mà doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức đàm phán
phù hợp. Với mỗi quá trình đàm phán đều có nội dung cơ bản sau:
- Hỏi giá: bên mua sẽ yêu cầu bên bán đưa ra những thông tin cơ bản về
hàng hoá mình cần nhập khẩu bao gồm: tên hàng, chủng loại, chất lượng, giá
cả,… Bước này không đòi hỏi bên mua phải trở thàng người mua hàng.
- Báo giá: Sau khi người mua yêu cầu, người bán sẽ đưa ra những thông
tin và sản phẩm cho đối tác theo đúng yêu cầu của đối tác.
- Chào hàng: ở bước này, người bán đưa ra lời đề nghị với người mua
về một số lượng hàng hoá nhất định có kèm theo các điều khoản cần thiết.
- Đặt hàng: là lời đề nghị của người mua đối với người bán về một số
lượng hàng hoá dưới hình thức đơn đặt hàng. Nếu đã có báo giá thì việc bên
mua đặt hàng đánh dấu việc hợp đồng chính thức hình thành.
- Hoàn giá: Khi nhận được đơn đặt hàng, nếu không chấp nhận hoàn
toàn nội dung trong đó thì một trong hai bên sẽ đưa ra đề nghị mới gọi là hoàn
giá và chào hàng cũ coi như bị huỷ bỏ
Sơ đồ 1- Các bước của hoạt động nhập khẩu thiết bị
Ký kết
kinh
doanh
nhập
khẩu
Xin
giấy
phép
xuất
khẩu
Mở L/C
khi bên
bán yêu
cầu
Thuê

nài về
hàng
hoá
(nếu có)
LuËn v¨n tèt nghiÖp
NguyÔn Xu©n Léc
18
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46
2.4.1. Ký kết kinh doanh nhập khẩu
Đây là kết quả của buổi đàm phán giữa các bên tham gia mua bán hàng
hoá quốc tế. Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế sẽ là văn bản xác định mối
quan hệ giữa người bán và người mua, bên bán phải chịu trách nhiệm về
những hoạt động gây thiệt hại cho bên mua và ngược lại.
2.4.2. Xin giấy phép xuất khẩu
Để có thể nhập khẩu hàng hoá, doanh nghiệp nhập khẩu phải xin giấy
phép nhập khẩu tại các cơ quan có thẩm quyền.
Theo quy định 57/CP của Chính phủ: “ Thương nhân là doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo qui định của pháp luật được xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã ghi trong giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh sau khi đã đăng ký mã số tại cục Hải quan tỉnh, thành phố
thì không phải xin giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu.” ( Trang 144 - Giáo
trình Quản trị kinh doanh xuất nhập khẩu – Nxb Thống kê – Hà Nội - 2000)
2.4.3. Mở L/C khi bên bán yêu cầu
Khi có yêu cầu của bên bán về việc mở L/C mới có thể giao hàng,
doanh nghiệp nhập khẩu cần chuẩn bị những giấy tờ cần thiết để mở L/C tại
ngân hàng. Giấy đề nghị mở L/C bao gồm hai phần: một phần sẽ cấu thành
nội dung của L/C và phần còn lại là cam kết của đơn vị mở L/C.
a) Phần sẽ cấu thành nội dung L/C
Phần này sẽ được trình bày bằng văn bản tiếng Anh dưới sự hỗ trợ của
Ngân hàng mà doanh nghiệp yêu cầu mở L/C. Sở dĩ phải bằng tiếng Anh là do

quỹ và cách thức giải quyết trong trường hợp nhà nhập khẩu không có khả
năng thanh toán phần chênh lệch này
- Cam kết liên đới trách nhiệm trong trường hợp đơn vị mở L/C uỷ thác
2.4.4. Đôn đốc bên bán giao hàng
Bên mua có quyền yêu cầu bên bán chuẩn bị đầy đủ hàng hoá cả về số
lượng và chất lượng khi gần đến thời hạn thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
2.4.5. Thuê phương tiện vận tải
Tuỳ theo từng điều kiện giao hàng trong hợp đồng nhập khẩu mà doanh
nghiệp có phải chịu cước phí vận tải chặng chính hay không. Nếu trong hợp
LuËn v¨n tèt nghiÖp
NguyÔn Xu©n Léc
20
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46
đồng có ghi điều kiện giao hàng là EXW, FAS, FCA, FOB thì doanh nghiệp
phải có nghĩa vụ thuê phương tiện vận tải và phải chịu mọi chi phí liên quan.
* Các phương thức vận tải
Trên thế giới hiện nay, hoạt động giao thương quốc tế thường sử dụng
phương thức vận tải bằng đường biển. Ngoài ra, còn có những phương thức
vận chuyển khác như: vận tải bằng đường bộ, vận tải đường hàng không, vân
tải đường sắt,…
* Những chứng từ có liên quan
Trong vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, có rất nhiều chứng từ
được sử dụng và mỗi loại có công dụng khác nhau, nhưng nhìn chung chứng
từ thường dùng là:
− Vận đơn đường biển
− Biên lai thuyền phó
− Giấy gửi hàng đường biển
− Phiếu gửi hàng
Ngoài ra còn có những chứng từ khác trong vận chuyển hàng hoá bằng
đường biển: Biên bản lược khai hàng hoá, sơ đố xếp hàng,

- Giá trị hàng hoá
b) Xuất trình hàng hoá:
Trong bước này, hải quan sẽ đối chiếu hàng hoá với tờ khai hải quan để
hoàn tất thủ tục hải quan và nộp thuế. Hoạt động này đòi hỏi sự chính xác, do
vậy chủ hàng cần sắp xếp hàng hoá theo trật tự để tạo điều kiện cho cán bộ hải
quan thực hiện nghiệp vụ kiểm tra hàng hoá.
c) Thực hiện các quy định của hảỉ quan
Sau khi tiến hành kiểm tra và đối chiếu hàng hoá, cơ quan hải quan sẽ
đưa ra những quyết định xem hàng hoá có được nhập khẩu hay xuất khẩu hay
không. Hải quan sẽ đưa ra các quyết định sau:
- Cho hàng thông quan
- Cho hàng qua biên giới khi chủ hàng đã nộp thuế nhập khẩu
- Cho hàng qua biên giới có điều kiện
- Không được phép nhập khẩu hay xuất khẩu
LuËn v¨n tèt nghiÖp
NguyÔn Xu©n Léc
22
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46
Chủ hàng cần thực hiện đúng những quyết định của cơ quan hải quan,
nếu vi phạm thì chủ hàng sẽ phải chịu trách nhiệm về việc truy tố hình sự.
2.4.8. Nhận hàng
a) Các hình thức giao nhận
Trong buôn bán hàng hoá quốc tế, các bên tham gia luôn muốn phân
chia quyền hạn, nghĩa vụ của mình trong quá trình thực hiện hợp đồng. Nhưng
để có thể thoả thuận mà hai bên đều đạt được lợi ích mong muốn thường rất
khó khăn, vì vậy các bên thường dựa vào các thông lệ quốc tế mà các bên
thoả thuận để lựa chọn, nhưng thường là INCOTERMS 2000.
Bảng 1 - Những điều kiện giao hàng trong Incoterms 2000
TT Điều kiện Nội dung Trách nhiệm
1

định và giao hàng cho người mua.
Địa điểm chuyển rủi ro là nơi đến.

10
DAF Giao hàng trên biên giới
11
DEQ Giao trên cầu cảng ở cảng đến
12
DDU Giao hàng tới đích chưa thuế
13
DDP Giao hàng tới đích có thuế
Nguồn: Giáo trình Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương – NXB Thống kê
LuËn v¨n tèt nghiÖp
NguyÔn Xu©n Léc
23
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46
b) Tiếp nhận hàng tại cảng đến
Hải quan sẽ thông báo cho nhà nhập khẩu để họ chuẩn bị giấy tờ cần
thiết làm thủ tục nhận hàng tại cảng khi hàng cập cảng như:

đơn thông báo
hàng hoá, vận đơn,
Theo Nghị định NĐ 200/CP ngày 31/12/1973, các cơ quan vận tải(ga,
cảng) có trách nhiệm tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu trên các phương tiện vận
tải từ nước ngoài vào, bảo quản hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lưu kho
và giao cho bên đặt hàng theo lệnh giao hàng. Do vậy, doanh nghiệp nhập
khẩu cẩn phải:
- Ký kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan vân tải (ga, cảng) về việc nhận
hàng
- Xác nhận với cơ quan vận tải kế hoạch tiếp nhận hàng

định nếu bên bán xuất trình bộ chứng từ với nội dung đã ghi trong thư tín
dụng. Hình thức này đảm bảo an toàn, tiện lợi cho cả bên mua và bên bán.
− Phương thức thanh toán nhờ thu: Người bán sau khi hoàn thành nghĩa
vụ giao hàng sẽ lập hối phiếu gửi đến ngân hàng nhờ thu hộ số tiền ghi trên
hối phiếu từ người mua. Có hai hình thức nhờ thu là nhờ thu phiếu trơn và
nhờ thu kèm chứng từ.
− Phương thức thanh toán chuyển tiển(Tranfers): Người mua thanh
toán cho người bán bằng cách gửi cho người bán thư chuyển tiền hay điện
chuyển tiền.
− Phương thức thanh toán ghi sổ(Open account): Người bán sau khi
giao hàng cho người mua sẽ mở tài khoản ghi rõ tổng số tiền trị giá hợp đồng.
Người mua chịu trách nhiệm thanh toán số tiền đó trong một thời hạn nhất
định.
− Phương thức thanh toán trả tiền mặt(Cash payment): Là phương thức
dùng tiền mặt để thanh toán tiền mua hàng. Người mua trả tiền cho người bán
và hoàn thành nghĩa vụ của mình.
Trong những phương thức trên, phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ được sử dụng phổ biến nhất trong buôn bán quốc tế vì lợi ích nó đem lại
cho cả bên bán và bên mua.
LuËn v¨n tèt nghiÖp
NguyÔn Xu©n Léc
25
Líp: Th−¬ng m¹i quèc tÕ 46
Khi tiến hành thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ, nhà nhập
khẩu sẽ thanh toán tiền hàng cho ngân hàng khi nhận được bộ chứng từ hợp lệ
về hàng hoá nhập khẩu do nhà xuất khẩu lập. Bộ chứng từ bao gồm: hoá đơn
thương mại (Commercial Invoice); vận đơn (Bill of Lading); bảng kê bao bì
đóng gói (packing list); giấy chứng nhận xuất xử (certificate of origin);Giấy
chứng nhận số lượng/chất lượng (Certificate of Quality/Quantity); chứng nhận
bảo hiểm (certificate of insurance).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status