Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THÚY HẰNG
CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN
(GIAI ĐOẠN 2004-2010) LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.54 HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN XUÂN MINH Thái Nguyên, tháng 8 năm 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
3
Ch÷ viÕt t¾t trong LuËn v¨n
Chữ viết tắt
Đọc là
BCH
Ban chấp hành
CSHT
Cơ sở hạ tầng
CT
Công trình
CT
Chương trình
DTTS
Dân tộc thiểu số
ĐCĐC
Định canh định cư
ĐBKK
Đặc biệt khó khăn
HĐND
Hội đồng nhân dân
TTCX
Trung tâm cụm xã
QĐ
Quyết định
KH
Kế hoạch
NSĐP
Tái định cư
THCS
Trung học cơ sở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đói nghèo là một vấn đề mang tính toàn cầu, nó không chỉ là một thực
tế đang diễn ra ở nước ta mà còn là một tồn tại ở nhiều nước trên toàn thế
giới. Vào những năm cuối của thế kỉ XX, trên toàn thế giới vẫn còn hơn 1,3 tỉ
người sống dưới mức nghèo khổ, trong đó khoảng 800 triệu người sống ở các
quốc gia thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đây là một thách thức đối
với sự phát triển của các nước trên thế giới.
Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất thế giới, với gần 80%
dân số sống ở khu vực nông thôn và 70% lực lượng lao động trong lĩnh vực
nông nghiệp. Do sự phát triển chậm của lực lượng sản xuất, sự lạc hậu về
kinh tế và trình độ phân công lao động xã hội kém, dẫn tới năng xuất lao động
xã hội và mức tăng trưởng xã hội thấp. Với chủ trương phát triển một nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà
nước, thì đây là một nhiệm vụ chiến lược của công cuộc phát triển kinh tế - xã
hội, vừa là phương tiện để đạt được mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh". Muốn đạt được mục tiêu này thì trước hết
phải xóa bỏ đói nghèo và lạc hậu. Đây là một trách nhiệm hết sức nặng nề của
chung. Vậy nên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: "Công cuộc xoá đói giảm
nghèo ở tỉnh Điện Biên giai đoạn 2004 đến nay" để làm Luận văn Thạc sĩ
Khoa học Lịch sử.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xoá đói giảm nghèo là chủ trương lớn và nhất quán của Đảng và Nhà
nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu
hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân
tộc. Vì vậy, vấn đề này được đề cập trong nhiều tài liệu.
Tác phẩm ''Xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm'' do Bộ Lao
động- Thương binh-Xã hội, xuất bản năm 2003 đã đề cập vấn đề xoá đói giảm
nghèo ở Việt Nam khá cụ thể.
Trong các kì đại hội cũng như trong nhiều chỉ thị, nghị quyết, Đảng và
Nhà nước đều nêu vấn đề xoá đói giảm nghèo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
6
Cuốn ''Cẩm nang giảm nghèo'' của Văn phòng Điều phối chương trình
mục tiêu quốc gia giảm nghèo – Cục Bảo trợ xã hội đã cụ thể hoá, quy trình
hoá việc thực hiện các chính sách giảm nghèo hiện hành.
Bên cạnh đó còn có nhiều tài liệu liên quan tới vấn đề xoá đói giảm
nghèo khác.
Trên đây là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá để chúng tôi tham
khảo và hoàn thành công trình nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, vấn đề xoá
đói giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên từ năm 2004 đến nay chưa cú cụng trỡnh
nào đề cập. Đó chính là vấn đề chúng tôi quan tâm và giải quyết trong đề tài
nghiên cứu của mình.
3. Đối tƣợng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề xoá đói giảm nghèo ở tỉnh
Điện Biên.
được cấu tạo thành 03 chương:
Chương 1: Khát quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Điện Biên.
Chương 2: Công cuộc xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên từ năm 2004
đến năm 2010.
Chương 3: Những chuyển biến về kinh tế- xã hội tỉnh Điên Biên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
8
S húa bi Trung tõm Hc liu - i hc Thỏi Nguyờn
9
Chng 1
IU KIN T NHIấN, KINH T, X HI TNH IN BIấN
1.1. iu kin t nhiờn
1.1.1. Khái quát sự thành lập tỉnh Điện Biên và v trớ a lớ
Thu xa, in Biờn cú tờn gi l Mng Thanh (tờn gi ny c theo
õm Hỏn - Vit ca t Mng Then, cú ngha l Mng Tri). Vo th k
XVIII, Hong Cụng Cht chim vựng t ny t tay ca ngi L. Nm
Sau khi chia tỏch tnh, in Biờn cú 8 n v hnh chớnh trc thuc: 1
thnh ph, 1 th xó v 6 huyn (4 huyn nghốo thuc ỏn 30a ca Chớnh
ph); gm 88 xó, phng, trong ú cú 59 xó thuc din c bit khú khn v
biờn gii, 14 xó nghốo ngoi Chng trỡnh 135/CP, 65 xó thuc vựng II v
vựng III.
in Biờn l mt tnh min nỳi thuộc vùng Tõy Bc Tổ quốc Việt Nam,
cú ta a lí t 20
o
54'- 22
o
33' v Bc v 102
o
10' - 103
o
36' kinh ụng V
phớa bc, tnh in Biờn giỏp tnh Lai Chõu, phớa đụng v đụng bc giỏp tnh
Sn La, phớa tõy bc giỏp tnh Võn Nam (Trung Quc), phớa tõy v tõy nam
giỏp nc Cng hũa Dõn ch Nhõn dõn Lo.
1.1.2. a hỡnh
Do nh hng ca cỏc hot ng kin to nờn a hỡnh ca in Biờn
rt phc tp, c cu to bi nhng dóy nỳi đá chy di theo hng tõy bc -
ụng nam vi cao bin i t 200m n hn 1.800 một. a hỡnh thp dn
t bc xung nam v nghiờng dn t tõy sang ụng.
Chen vo gia nhng dóy nỳi xanh thm l nhng cỏnh ng trự phỳ
trong các thung lng nh hp, th-ờng xuyên đ-ợc bồi đắp phù sa màu mỡ bởi
các con sụng Mó, Nm Mc v Nm Nỳa.
Nm gn gia nhng dóy nỳi đá là cỏnh ng Mng Thanh với chiều dài
20km, chiều rộng 5km, nổi tiếng phì nhiêu nhất của vùng Tây Bắc: Nht
Thanh, nh Lũ, tam Than, t Tc
(
Nam (Trung Quốc) qua Mường Tè (tỉnh Lai Châu) - thị xã Mường Lay - Tuần
Giáo rồi chảy về tỉnh Sơn La. PhÇn l-u vùc ch¶y qua địa bàn Điện Biên, s«ng
§µ có các phụ lưu chính là Nậm Ma, Nậm Bum, Nậm Pô, Nậm Mức
Hệ thống sông Mã có các phụ lưu chính là sông Nậm Khoai thuộc huyện
Tuần Giáo và sông Nậm Mạ thuộc huyện Điện Biên với diện tích lưu vực
2.550 km2. Đây là hệ thống sông lớn thứ hai của tỉnh.
Hệ thống sông Mê Kông có diện tích lưu vực là 1.650 km2 với các
nhánh chính là sông Nậm Rốm, Nậm Núa. Sông Nậm Rốm bắt nguồn từ bắc
huyện Điện Biên qua thành phố Điện Biên Phủ - Pa Thơm (huyện Điện Biên)
rồi chảy sang Lào. Sông Nậm Núa bắt nguồn từ Mường Nhà chảy theo hướng
nam - bắc sau đó chuyển sang hướng đông – tây, hîp l-u víi s«ng Nậm Rốm
ở lòng chảo Điện Biên rồi chảy sang Lào.
Đặc điểm chung của các sông suối trong tỉnh là có độ dốc lớn, lắm thác
nhiều ghềnh, nhất là các sông suối thuộc hệ thống sông Đà và sông Nậm
Rốm. Do do, tiÒm năng thuỷ điện rất lớn, có thể phục vụ đắc lực cho công
cuộc XĐGN của tỉnh.
1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
12
Trong s¸ch “Kiến văn tiểu lục”, Lê Quý Đôn cã mét nhận xét: “Châu
này, thế núi vòng quanh, nước sông bao bọc, đồn sở ở giữa, ruộng đất bằng
phẳng màu mỡ, bốn bên đến chân núi, đều phải đi một ngày đường, công việc
làm ruộng bằng nửa công việc châu khác, mà số hoa lợi thu lại gấp đôi. Thổ
sản có sa nhân, sáp vàng, diêm tiêu, lưu hoàng và sắt sống. Có một quả núi,
nước suối rất mặn, thú rừng thời th-êng đến uống, người địa phương dùng nỏ
bắn được rất nhiều, tục gọi là “mỏ thịt” [34, tr.359-360].
Như vậy, tỉnh Điện Biên có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú,
trong đó đất và rừng là những nguồn tài nguyên quan trọng nhất.
1.1.4.1. Tµi nguyªn §Êt
dày trên 70cm. Chủ yếu là nhóm đất feralit đỏ vàng và mùn vàng đỏ trên núi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
13
Quỹ đất dành cho phát triển lâm nghiệp chiếm khoảng 75% tổng diện
tích tự nhiên, bao gồm các loại đất nằm ở độ dốc trên 25
o
và một phần đất ở
độ dốc dưới 25
o
.
Diện tích đất đang sử dụng vào sản xuất nông, lâm nghiệp của Điện
Biên có 479.817ha, chiếm 50,2% diện tích tự nhiên của tỉnh. Trong đó đất sử
dụng vào sản xuất nông nghiệp là 111.749ha, chiếm 11,6% diện tích tự nhiên;
đất sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp là 367.398 ha, chiếm 38,5% và mặt nước
nuôi trồng thủy sản là 670ha, chiếm 0,07% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đất
chưa sử dụng có 225.594 ha, chiếm 23,6% tổng diện tích tự nhiên, cùng với
khoảng 189.000 ha đất lâm nghiệp chưa có rừng. Tuy hầu hết là đất dốc, chỉ
thích hợp để phát triển sản xuất lâm nghiệp, nhưng được xác định là nguồn tài
nguyên quí giá, một thế mạnh cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, gãp
phÇn tÝch cùc vµo viÖc XDGN.
1.1.4.2. Tµi nguyªn rõng vµ ®Êt rõng
Là tỉnh miền núi nên Điện Biên có tiềm năng rừng và đất rừng rất lớn.
Toàn tỉnh có tới 757.937ha rừng và đất rừng, chiếm 79,3% tổng diện tích tự
nhiên. Năm 2004, tổng diện tích đất có rừng của Điện Biên là 367.398 ha,
chiếm 48,5% tiềm năng đất rừng và đạt tØ lệ che phủ 38,5%, trong đó rừng tự
nhiên là 356.225 ha, chiếm 96,9% đất có rừng; rừng trồng là 11.225 ha chiếm
3,1%. Hầu hết rừng ở Điện Biên hiện nay là rừng phòng hộ. Trong số hơn
466.000 ha đất chưa sử dụng thì diện tích đất đã quy hoạch cho phát triển lâm
nghiệp của tỉnh là 397.989 ha. Nh×n chung, đất đai ở Điện Biên chủ yếu được
nụng nghip. Tuy nhiờn, vic khai thỏc cỏc tim nng ny cũn hạn chế. Nếu
đ-ợc khai thác tốt sẽ góp phần to lớn vào công tác XĐGN của tỉnh. Hin nay,
trờn a bn tnh mi cú mt s nh mỏy thu in nh N Li 9.300 KW,
Thỏc Bay 2.400 KW, Thỏc Trng 6.200 KW, Nm Mc 44 Mw c xõy
dng v khai thỏc khỏ hiu qu.
1.1.4.4. Tài nguyên khoáng sản
Theo s liu iu tra ỏnh giỏ ca Cc a cht Khoỏng sn Vit Nam,
in Biờn l tnh cú tim nng, trin vng v ti nguyờn khoỏng sn, nh: nc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
15
khoáng, than mỡ, đá vôi, đá đen, đá granit, quặng sắt và kim loại màu Đến
nay, trên địa bàn tỉnh đã xác định được 32 điểm quặng sắt và kim loại, 14 điểm
mỏ than, trong đó có 2 điểm đã được đánh giá trữ lượng cấp C1 và nhiều điểm
khoáng sản vật liệu xây dựng, nước khoáng Sơ bộ cho thấy, các khoáng sản
chính ở Điện Biên gồm có: sắt, chì, chì - kẽm, nhôm, đồng, thủy ngân
Mỏ sắt phân bố rải rác ở các huyện Điện Biên, Tuần Giáo và Mường
Chà với quy mô nhỏ, chỉ ở mức điểm quặng và chưa xác định được trữ lượng.
Mỏ chì - kẽm phân bố tập trung quanh huyện Điện Biên, Điện Biên
Đông, Tủa Chùa và thành phố Điện Biên Phủ; trong số đó có điểm quặng chì
kẽm ở khu vực Tuần Giáo đang hoạt động.
Mỏ nhôm và nhôm - sắt có triển vọng ở xã Phình Sáng huyện Tuần
Giáo với trữ lượng cấp P khoảng 40 - 50 triệu tấn.
1.1.4.5. Du lịch
Điện Biên là tỉnh giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là lĩnh vực văn hoá -
lịch sử. Nổi bật nhất là hệ thống di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ
gồm: Sở chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ - Mường Phăng; các cứ điểm Him
Lam, Bản Kéo, Độc Lập; Các đồi A1, C1, D1, E1 và khu trung tâm tập đoàn
cứ điểm của Pháp (Khu hầm Đờcát).
Quần thể di tích này là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá để phát triển du
ng, nhp tng trng bỡnh quõn thi kỡ 2001 - 2005 t 16,29%/nm.
Tuy nhiờn, v thng mi quc t, nht l xut nhp khu qua cỏc ca khu
trờn a bn cũn hn ch cha tng xng vi tim nng ca tnh.
Ngay t khi mi thnh lp (năm 2004), tnh Điện Biên cú 83 c s kinh
doanh du lch. H thng khỏch sn du lch gm 38 c s vi tng s 687
phũng khỏch, trong ú trờn 95% s phũng t tiờu chun ún khỏch quc t.
Mt s d ỏn phỏt trin du lch sinh thỏi, du lch vn hoỏ - lch s quy mụ ln
v hin i ó v ang c xõy dng, ỏp ng kp thi nhu cu ca du
khỏch. S du khỏch n in Biờn nm 2005 khong 120 ngn lt; trong ú
cú hn 10.000 lt khỏch quc t.
1.3. iu kin xó hi
1.3.1. Dõn c
S húa bi Trung tõm Hc liu - i hc Thỏi Nguyờn
17
Năm 2009, dân số trung bình của tỉnh Điện Biên là 491.172 ng-ời. Với
mt dõn s bỡnh quõn 49 ngi/km
2
, in Biờn l mt trong nhng tnh cú
mt dõn s thp nht trong c nc (246 ngi/km
2
) v thp hn nhiu so
vi mt dõn s trung bỡnh ca vựng Tõy Bc (67 ngi/km
2
) [20, tr.20].
S phõn b dõn c khụng ng u: cỏc vựng trung tõm tnh, mt
dõn s rt cao (Thnh ph in Biờn ph: 1200 ng/km
2
, in Biờn ụng; 65
ng/km
10.694 lt h, chim 49%); thiu t canh tỏc sn xut (cú 6.148 lt h,
chim 28,17%) (nm 2004), chm ỏp dng khoa hc cụng ngh vo sn xut;
mt b phn h nghốo do ụng con, thiu lao ng, khụng cú vic lm, mc
cỏc t nn xã hi.
1.3.2. Dõn tc, phong tc tp quỏn
Tnh in Biờn cú 21 thành phần dõn tc sinh sng, trong ú dõn tc
Thỏi chim tỉ l cao nht, khong 42,2%, tip n l dõn tc Mụng chim
27,2%, dõn tc Kinh chim 19%, dõn tc Kh Mỳ 3,9%, cũn li l cỏc dõn tc
khỏc, nh: Dao, H Nhỡ, Hoa, Khỏng, La H, Giỏy Dõn tc Kinh cú 2.152
h nghốo, t l h nghốo 2,56%/tng s h dõn ton tnh. Dõn tc thiu s cú
34.242 h nghốo, t l h nghốo 41,45%/tng s h dõn ton tnh, trong đó:
dõn tc Thỏi: 14.065 h, t l h nghốo 38,64%/tng s h nghốo ton tnh,
(chim 41,07%/tng h nghốo l dõn tc thiu s); dõn tc Mụng: 11.980 h,
t l h nghốo 32,91%/tng s h nghốo ton tnh (chim 34,98%/tng s h
nghốo l dõn tc thiu s); dõn tc khỏc: 8.197 h, t l h nghốo 22,52%/tng
s h dõn ton tnh (chim 23,93%/tng s h nghốo l dõn tc thiu s).
Mi thành phần dõn tc cú nhng nột riờng v ngụn ng, phong tc tp
quỏn, vn húa to thnh bc tranh a sc mu cho nn vn húa in Biờn.
Đó là tim nng phong phỳ v vn húa phi vt th ca tnh.
Dõn tc Thỏi c trỳ vựng Tõy Bc ó hn chc th kỉ. Hin nay, dõn
tc này sinh sng hu ht cỏc huyn, th trong tnh (tp trung huyn in
Biờn v Tun Giỏo). Ngi Thỏi rất cú kinh nghim trong việc ti nc, p
phai, o mng Ngun lng thc chớnh của họ l lỳa nc. Sn phm ni
ting l vi th cm vi hoa vn c ỏo, mu sc rc r, m bụng lau bn,
p. Ngi Thỏi nh sn, mi bn thng cú 30 80 núc nh k nhau, sinh
sng dc theo cỏc con sui, ngun nc.
S húa bi Trung tõm Hc liu - i hc Thỏi Nguyờn
19
Dõn tc Mụng c trỳ hu ht cỏc huyn, tp trung nhiu Ta Chựa,
20
Tập quán du canh du c- của đồng bào các dân tộc in Biờn vẫn còn
rất phổ biến. Phng thc sn xut lc hu, ph bin vn l phỏt, t rng lm
nng ry. Sau vi nm trng ta cõy lng thc, t ai b bc mu, nng
sut thp, ngi dõn li kộo i ni khỏc, tip tc phỏ rng, t nng lm ry
mi. Tỡnh trng y din ra t bao i nay dn n ngun nc b cn kit,
rng u ngun b tn phỏ, khụng sc ngn nhng cn ma ln, nhng
trn l quột, dẫn đến t ai bị xói mòn, bc mu.
Nh vy, b con cỏc dõn tc in Biờn sng ch yu da vo nng
ry, nhng do a hỡnh dc, trỡnh dõn trớ thp, cha bit ỏp dng khoa hc
k thut vo sn xut, cũn chu nh hng bi tp quỏn sn xut lc hu, dn
n kinh t phỏt trin chm, t l h úi nghốo mc cao.
Tiểu kết chng.
in Biờn l mt tnh min nỳi cn gp nhiu khú khn: a hỡnh him
tr, chia ct mnh, giao thụng i li khú khn, khớ hu khc nghit, thiờn tai,
l lt, giú lc liờn tip xy ra; kinh t chm phỏt trin, t l úi nghốo cao, i
sng vt cht, tinh thn ca nhõn dõn cũn thp, CSHT kinh t- xó hi cũn hn
ch, lc hu, li l tnh mi thnh lp. Do vy, in Biờn ng trc muụn vn
khú khn, th thỏch ũi hi phi c gii quyt. Tuy nhiờn bờn cnh nhng
khú khn, thỏch thc, tnh cũn cú nhng thun li c bn sau: ng b v nhõn
dõn cỏc dõn tc trong tnh luụn gi vng v phỏt huy truyn thng on kt, tin
tng vo s lónh o ca ng. C s vt cht KT- XH c xõy dng, ó v
ang phỏt huy hiu qu. Nhiu ch trng, chớnh sỏch ca ng i vi min
nỳi c thc thi, nht l vn u t phỏt trin tng nhiu so vi cỏc nm trc.
Bờn cnh ú, tnh cũn cú nhiu tim nng, th mnh ch-a đ-ợc khai thác. Đó là
những cơ sở giúp lãnh đạo tỉnh hoạch định chính sách XGN, phỏt trin KT-
XH, a in Biờn sm thoỏt khi mt tnh nghốo.
thp, th trn, th xó v nhng ni trung tõm cũn b hn ch do giao thụng rt
khú khn; cú ni t huyn xung xó phi i ti 2 - 3 ngy, t xó xung bn
mt 3 - 4 ngy. iu ú ó hn ch rt nhiu n vic tip thu nhng tin b
trong sn xut.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
22
Đa số nhân dân Lai Châu vẫn sống trong cảnh nghèo đói, nhất là dân
vùng cao, vùng sâu, vùng xa số hộ đói chiếm tới 30- 40%. Những năm trước
đây, Nhà nước đã phải tổ chức cứu đói cho khoảng 25.000 hộ. Do dân nghèo
nên tỉnh nghèo, hằng năm Trung ương phải hỗ trợ trên 80% ngân sách.
Từ thực tế trên, cùng những chủ trương, chính sách của Chính phủ và
hướng dẫn thực hiện của các Bộ, ngành, Trung ương, cuối năm 1992, UBND
tỉnh Lai Châu đã triển khai thực hiện chương trình quốc gia XĐGN. Thông
qua các giải pháp phù hợp với điều kiện của địa phương, tỉnh triển khai lồng
ghép các nguồn lực trên địa bàn xã, chú trọng giải pháp xây dựng cơ sở hạ
tầng nông thôn, kết hợp khai thác, thu hút các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng từ
các tổ chức trong nước và quốc tế.
Mặc dù đã triển khai từ cuối năm 1992, nhưng công cuộc XĐGN của
tỉnh Lai Châu còn thiếu nhiều yếu tố cần thiết để trở thành một chương trình
có mục tiêu. Đến cuối năm 1994, tỉnh Lai Châu là một trong 6 tỉnh miền núi
phía Bắc được Bộ Lao động- Thương binh- Xã hội chỉ đạo tham gia chương
trình hợp tác XĐGN Việt- Đức theo hiệp định đã kí kết giữa Việt Nam và
Cộng hoà Liên bang Đức. Từ chương trình trên, UBND tỉnh đã chỉ đạo tiến
hành khảo sát, xây dựng chương trình XĐGN có mục tiêu tại 8 xã của 4
huyện: Tủa Chùa, Sìn Hồ, Tuần Giáo và Điện Biên để chỉ đạo rút kinh
nghiệm. Sau khi sơ kết rút kinh nghiệm, BTV Tỉnh uỷ (Khóa 8) đã ra Nghị
quyết số 15 về công tác XĐGN 5 năm (1996-2000). Từ đó, công tác XĐGN
tỉnh Lai Châu thực sự trở thành một chương trình có mục tiêu, ngày càng
được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả trên các lĩnh vực thông qua việc thực
XĐGN của Cộng hoà Liên bang Đức, UNICEP (qua Hội Phụ nữ tỉnh), của
các tổ chức phi Chính phủ, thông qua các đoàn thể quần chúng, với tổng số
vốn trên 9 tỉ đồng. Riêng dự án tín dụng XĐGN do Cộng hoà Liên bang Đức
đã cho 4.070 lượt hộ trên địa bàn 18 xã, 4 huyện và thị xã Điện Biên Phủ vay
10.510 triệu đồng.
Trong 3 năm (2001- 2003), bằng nhiều nguồn vốn, từ Ngân hàng Chính
sách Xã hội, các dự án quốc tế, các đoàn thể Trung ương đã lồng ghép đầu tư
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
24
tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo. Đến năm 2003, nguồn vốn ưu đãi cho người
nghèo đã thực hiện trên địa bàn156 xã, phường/156phường.
Từ đầu tháng 1 năm 2001 đến quý I năm 2003, Dự án hợp tác XĐGN
Việt - Đức (KFW), với tổng số vốn 7,044 tỉ đồng đã cho 2.284 lượt hộ nghèo
vay, với số tiền là 8.288,6 triệu đồng, số đang dư nợ là trên 7.000 triệu đồng,
số hộ đang dư nợ là 2.009 hộ.
Ngoài ra trong giai đoạn này, số vốn cho hộ nghèo vay còn được huy
động từ nhiều nguồn khác nhau: tổ, nhóm phụ nữ tiết kiệm, các hội viên của
các đoàn thể, quỹ XĐGN của các huyện, thị , thực hiện sự trợ giúp nhau bằng
ngày công, con giống và các hình thức khác. Tuy nhiên, nguồn vốn tín dụng
mới chỉ đáp ứng được 55,99% hộ nghèo, còn trên 40% hộ nghèo chưa được
vay vốn.
Ch-¬ng tr×nh h-íng dÉn ng-êi nghÌo khuyÕn n«ng, khuyÕn l©m
Từ năm 1992 đến giữa năm 1994, các địa phương trong tỉnh đã tích cực
đưa các loại giống cây trồng mới có năng suất cao vào sản xuất. Đặc biệt là
vùng lòng chảo Điện Biên, sản lượng lúa tăng cao hơn các năm trước.
Trung tâm khuyến nông đã đưa giống ngô lai đến tận bản làng và hướng
dẫn kĩ thuật cho dân, kết quả cho năng suất giống ngô lai đạt 35- 40 tạ/ha.
Các trung tâm khoa học, bảo vệ thực vật, thú y cũng mở nhiều lớp tập
huấn hướng dẫn kĩ thuật bảo vệ cây trồng mới, phòng chống dịch bệnh cho
hiện được 11 mô hình trình diễn, 4.608 hộ được tập huấn kĩ thuật trồng trọt,
chăn nuôi (trong đó có 2.798 hộ trực tiếp tham gia thực hiện các mô hình),
gồm: lúa lai có diện tích 29 ha với 450 hộ; lúa nguyên chủng: 18 ha, 126 hộ;
cây khoai tây: 22 ha, 682 hộ; ngan lai và gà Lương Phượng: 8.510 con, 440
hộ; các loại cây khác và con khác: 840 hộ tham gia.
Dự án định canh định cƣ, dự án di dân và xây dựng vùng kinh tế
mới
Thực hiện định canh định cư, từ năm 1992 đến giữa năm 1994, tỉnh đã
vận động nhân dân chuyển đổi các vùng kinh tế mới, được Nhà nước đầu tư
với số tiền 422 triệu đồng cho 395 hộ chuyển cư, gắn việc giao đất, giao rừng