Những bổ khuyết cần thiết cho bức tranh toàn
cảnh của văn học Việt Nam hiện đại Giờ đây thỉnh thoảng giở bộ Nhà văn hiện đại ra tra cứu, tôi cứ vừa kính phục
vừa tiếc cho nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan. Không thể không phục, vì chỉ bằng sự lao
động nghiêm túc của cá nhân mình, Vũ Ngọc Phan đã đóng góp cho văn giới một bộ
sách đồ sộ mà cho đến nay, dù hơn sáu mươi năm đã qua đi, vẫn có giá trị tham khảo
cao. Tiếc, vì dù sách đã dày tới 1460 trang in, đã bao quát được 78 nhà văn, từ “những
người đi tiên phong” - những nhà văn hồi mới có chữ quốc ngữ như Trương Vĩnh Ký
- đến những nhà văn trẻ, xuất hiện và thành danh cuối những năm ba mươi, đầu những
năm bốn mươi của thế kỷ XX; nhưng chủ yếu vẫn chỉ là bức tranh văn học chữ quốc
ngữ trong thời gian ấy của nửa nước phía Bắc.
Trong số 78 nhà văn mà Vũ Ngọc Phan tìm hiểu, nghiên cứu chỉ có 3 khuôn
mặt của văn học phương Nam: Trương Vĩnh Ký, Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ. Vâng, chỉ
có thế. Tôi ngờ là do giao thông cách trở, giao lưu văn hóa giữa hai miền khó khăn
nên không đủ thông tin cần thiết chứ không phải do quan niệm đánh giá của tác giả
Nhà văn hiện đại. Căn cứ vào những gì ông đã viết, ta thấy ông không hề khắt khe,
định kiến, thiên lệch. Có thể nói, Vũ Ngọc Phan đã bỏ qua hàng loạt những nhà văn
Nam Bộ, rất quen thuộc với người đọc Nam Bộ, nhiều người có tới hàng chục tác
phẩm đã xuất bản, tất nhiên chưa phải là xuất sắc, nhưng chắc chắn đóng góp của họ
không thua những người trong nhóm Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí được
Vũ Ngọc Phan giới thiệu như Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Hữu Tiến,
Nguyễn Trọng Thuật Có thể kể: Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng
Mưu, Tân Dân Tử, Trương Duy Toản, Phú Đức, Bửu Đình, Phạm Minh Kiên, Nguyễn
ý Bửu, Sơn Vương
Cách đây 4 năm (2001), chúng ta có được một công trình đáng quý khác: bộ Từ
điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (tập I) do PGS-TS. Vũ Tuấn Anh và PGS-TS Bích
Thu chủ biên.
Công trình rất có ích cho những ai nghiên cứu, giảng dạy và học tập văn học
Việt Nam hiện đại. Thế nhưng, tôi cũng tiếc vì trong số 376 tác phẩm từ cuối thế kỷ
thể ghi nhận công sức của nhiều phía. Trước hết là việc một số nhà xuất bản cho sưu
tầm và in lại hàng loạt tác phẩm của các nhà văn sáng tác trong giai đoạn này. Chỉ
riêng nhà xuất bản Tiền Giang trong 5 năm 1986-1990 đã tái bản hơn 40 tác phẩm với
số lượng lớn của Hồ Biểu Chánh. Việc in ấn của các nhà xuất bản địa phương phía
Nam có phần ồ ạt, do nắm bắt được thị hiếu của đông đảo công chúng bình dân Nam
Bộ, nhưng chính việc làm thiếu cân nhắc, gạn lọc này lại có lợi cho giới nghiên cứu -
những người đang “đói” tư liệu.
Trong thời gian này các cấp ủy Đảng và chính quyền nhiều tỉnh đã xúc tiến
việc viết Địa chí văn hóa. Nhiều cuốn được tổ chức công phu, đã giới thiệu kĩ lưỡng
toàn diện về địa phương, trong đó phần văn hóa văn học rất được chú ý. Đáng kể hơn
cả là các bộ Địa chí văn hóa Thành phổ. Hồ Chí Minh, Bến Tre Long An, An Giang.
Chẳng hạn, bộ Địa chí Bến Tre do Thạch Phương và Đoàn Tứ chủ biên, đã dành tới
120 trang trong tổng số 820 trang in để giới thiệu thành tựu văn học của tỉnh, đã trân
trọng ghi nhận đóng góp của thế hệ nhà văn cuối thế kỉ XIX (Phan Thanh Giản,
Nguyễn Đình Chiểu, Trương Vĩnh Ký, Phan Văn Trị, Trương Gia Mô ) cũng như
của thế hệ nhà văn đầu thế kỉ XX (Sương Nguyệt Anh, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Văn
Vinh, Ca Văn Thỉnh ) và những khuôn mặt tiêu biểu của giai đoạn sau cách mạng
tháng Tám (Dương Tử Giang, Lê Thọ Xuân, Nguyễn Hải Trừng, Trang Thế Hy ).
Có thể nói đến sự đóng góp của giới nghiên cứu trong các viện, các trường đại
học, các hội văn học.
Ngay từ 1987, để kỉ niệm 100 năm ra đời của cuốn tiểu thuyết đầu tiên bằng
chữ quốc ngữ - cuốn Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, khoa Ngữ văn
trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, với sự cộng tác của GS. Nguyễn
Văn Trung, đã cho in và lưu hành nội bộ tác phẩm này.
Năm 1998, Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học TP. Hồ Chí Minh đã xuất
bản bộ Truyện dài đầu tiên và tuyển tập các truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu
thế kỉ XX (Cao Xuân Mỹ sưu tầm tuyển chọn, Bùi Đức Tịnh giới thiệu hiệu đính). Dựa
trên cơ sở này, chị Cao Xuân Mỹ đã mở rộng diện sưu tầm và có được bộ tuyển tập
dày dặn, công phu Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX (2 tập, 1220 trang - Nxb. Văn
nghệ Thành phố Hồ Chí Minh - 2000), tuyển và trích tuyển tác phẩm của 11 tác giả
đối cặn kẽ, tuy vậy vẫn chưa thật đầy đủ.
Rõ ràng, với kết quả sưu tầm nghiên cứu đáng khích lệ nói trên, chúng ta có
điều kiện dựng lại bức tranh toàn cảnh của văn học Việt Nam giai đoạn ba mươi năm
đầu thế kỉ XX và thấy được sự đóng góp tích cực riêng của từng miền vào thành tựu
chung của chặng đầu thử nghiệm xây dựng nền văn học hiện đại; đồng thời có thể chỉ
ra căn nguyên xã hội - lịch sử tạo động lực cho sự phát triển văn học của từng miền.
Riêng văn học Nam Bộ, không thể không chú ý đến tình trạng đô thị được hình thành
sớm, tốc độ đô thị hóa cao, tỉ lệ thị dân - những công chúng mới của văn học ngày
càng đông đảo. Họ đòi hỏi văn học phải thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt tinh thần của họ,
với nguyên tắc “thuận mua vừa bán”. Chính vì thế các nhà văn có điều kiện sớm trở
thành chuyên nghiệp. Chữ quốc ngữ vốn đã gieo mầm từ lâu trên những vùng chịu
ảnh hưởng của đạo Gia Tô ở khắp các miền duyên hải nước ta, nhưng đến giữa thế kỉ
XIX, với tầm nhìn sáng suốt nhà bác học Trương Vĩnh Ký đã cấy thứ văn tự mới ấy
trong hai môi trường rất quan trọng: báo chí (mà ông là chủ bút Gia Định báo) và
trường học (ông là giáo sư, sau đó là hiệu trưởng trường Thông ngôn và trường Sư
phạm Sài Gòn). Mặt khác các cơ sở vật chất kĩ thuật cho nền văn học mới cũng có ở
Nam Bộ sớm hơn so với miền Bắc và miền Trung: báo chí, nhà xuất bản, nhà in.
Ngoài tờ Gia Định báo - một tờ công báo - nhiều tờ báo khác, chính quyền có, tư nhân
có, nhanh chóng xuất hiện ở Sài Gòn và ganh đua thị phần: Lục tỉnh tân văn, Nông cổ
mín đàm, Nữ giới chung, Công luận báo, Pháp Việt nhứt gia, Phụ nữ tân văn, Thần
chung v.v Để hấp dẫn người đọc, tờ nào cũng dành đất cho văn chương, đặc biệt là
cho truyện ngắn và tiểu thuyết. Có thể nói, báo chí Nam Bộ đã là bà đỡ mát tay cho
các sáng tác văn chương. Vì thế văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ ra đời sớm hơn cả, sớm
hơn miền Bắc trên dưới mười năm. Nếu tính từ những quả bói đầu mùa như
Chuyến đi Bắc Kỳ năm ất Hợi (1876), Chuyện khôi hài (1882) của Trương Vĩnh Ký,
Chuyện giải buồn (2 tập, 1880-1885) của Huỳnh Tịnh Của, Thầy Lazarô Phiền (1887)
của Nguyễn Trọng Quản thì sớm hơn trên dưới 40 năm. Khảo sát kĩ hệ thống tác
phẩm văn xuôi Nam Bộ giai đoạn này, ta thấy có những sắc thái riêng, khác với văn
xuôi miền Bắc.
Về quan điểm sáng tác, ngay Nguyễn Trọng Quản - người mở đầu cho nền tiểu
thức văn nghệ sĩ đã có sự phân hóa. Một bộ phận chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết
Trung Hoa cổ điển, như Trương Duy Toản, Nguyễn Chánh Sắt, Phạm Minh Kiên, Tân
Dân Tử, Huỳnh Thị Bảo Hòa những cây bút này đã tiếp nhận tiểu thuyết Trung Hoa
từ nguyên bản hoặc từ vô số bản dịch ra quốc ngữ, được phổ biến rất rộng ở Nam Bộ
đầu thế kỉ XX. Riêng Trần Phong Sắc, Nguyễn An Khương, mỗi người đã dịch trên
dưới 40 bộ. Nhiều nhà văn, như Phú Đức, Trần Quang Nghiệp, Bửu Đình, Biến Ngũ
Nhy, Nam Đình, Nguyễn Thế Phương, Lê Hoằng Mưu chủ yếu lại chịu ảnh hưởng
tiểu thuyết phương Tây. Chính vì thế, ngay trong ba thập kỉ này, ta đã chứng kiến sự
song hành phát triển của nhiều loại tiểu thuyết: tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết võ hiệp
(các nhà văn chịu ảnh hưởng tiểu thuyết Tàu), tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết phiêu
lưu, tiểu thuyết tâm lý xã hội (các nhà văn chịu ảnh hưởng tiểu thuyết Tây) đáp ứng
yêu cầu hưởng thụ của nhiều đối tượng công chúng khác nhau, chủ yếu và đông đảo
hơn cả là người đọc bình dân Nam Bộ.
Thành tựu của văn học phương Nam trong các giai đoạn văn học tiếp sau đó
cũng lần lượt được khôi phục giá trị. Về chặng đường 15 năm trước Cách mạng tháng
Tám (1930-1945) một giai đoạn phát triển rất tốt đẹp của văn học Việt Nam hiện đại,
sẽ không thể có bức tranh hoàn chỉnh nếu không khẳng định những đóng góp tích cực
của Phi Vân - một Ngô Tất Tố của miền Nam - giúp chúng ta cảm nhận những nét đặc
sắc, độc đáo của nông thôn và người nông dân Nam Bộ qua tiểu thuyết phóng sự
Đồng quê (1942) và các truyện được viết liền sau đó, nhưng xuất bản muộn mất vài
năm: Dân quê (1949), Tình quê (1949), Cô gái quê (1950). Trong lĩnh vực thơ, đã đến
lúc cần tìm hiểu những sáng tác của Thẩm Thệ Hà - tập Thâm thúy và nhiều bài đăng
trên Phổ thông bán nguyệt san (Hà Nội) cũng như trên các báo Đông Thinh, Chúa
Nhật, Điện Tín, Thanh niên với bút danh Thành Kỉnh; của Hồ Văn Hảo (tập Thơ ý,
1949) và nhiều bài đăng trên Phụ nữ tân văn; của Khổng Dương (tập Ly tao, 1940) và
các bài thơ đăng trên Công luận báo (Sài Gòn), Tiểu thuyết thứ bảy, Trung Bắc chủ
nhật (Hà Nội). Nghiên cứu tác phẩm của các thi sĩ nói trên, ta có thể kết luận Nam Bộ
không chỉ đóng góp vào phong trào Thơ mới hai nhà thơ Đông Hồ và Mộng Tuyết.
Trong lĩnh vực nghiên cứu phê bình, chúng ta cũng cần đánh giá sự đóng góp
của các nhà văn Nam Bộ một cách kỹ lưỡng đầy đủ hơn. Vu Gia đã có một công trình
biên soạn. Nhưng công việc vẫn còn nhiều. Còn cần dụng công sưu tầm và tái bản
những sáng tác của Thiên Giang: Pháp du hồi ký đăng trên báo Sài Gòn mới năm
1949 và tập truyện ngắn Lao tù, xuất bản cũng trong năm này; của Vũ Anh Khanh:
các tập truyện ngắn Sông máu, Đầm Ô Rô, các tiểu thuyết Nửa bồ xương khô, Cây ná
trắc và tập thơ nổi tiếng Chiến sĩ hành; của Hoàng Tấn: tiểu thuyết Mẹ cũng chết vì tổ
quốc và của một số nhà văn nhà thơ yêu nước khác.
Nhìn chung thành tựu sáng tác văn nghệ Việt Bắc và các vùng tự do khác của
nước ta trong giai đoạn 1945-1954 khá nổi trội về thơ, ký và truyện ngắn, kịch một
màn. Chính vì thế hàng loạt những tiểu thuyết kể trên là một sự bổ khuyết thích đáng,
để văn học nước ta trong chín năm này đạt được sự cân đối cần có về mặt thể loại.
Cũng cần nhắc đến 21 năm chống Mỹ, giải phóng miền Nam (1954-1975). Vai
trò, tác dụng của văn học yêu nước trong các thành thị tạm chiếm ở nửa nước phía
Nam đã được khẳng định từ lâu. Một số chuyên khảo về dòng văn học này đã được
xuất bản: Văn học yêu nước tiến bộ trong lòng các thành thị miền Nam (in trong
tập Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước) của Thạch Phương. Nhìn lại một chặng
đường văn học của Trần Hữu Tá. Nhiều tuyển tập thơ văn yêu nước đã được tổ chức
thực hiện khá công phu: Tiếng hát những người đi tới, Văn học yêu nước - tiến bộ -
cách mạng trên văn đàn công khai Sài Gòn 1954-1975, Viết trên đường tranh
đấu. Nhiều bộ tuyển tập hoặc toàn tập của các nhà văn tiêu biểu cho khuynh hướng
này cũng lần lượt được ấn hành: Tuyển tập Vũ Bằng, Võ Hồng, Nguyễn Văn Xuân,
Bình Nguyên Lộc, Lê Vĩnh Hòa, toàn tập Lý Văn Sâm và nhiều tập truyện ngắn, tiểu
thuyết có chiều sâu tư tưởng và nghệ thuật già dặn của Vũ Hạnh, Sơn Nam, Trần Duy
Phiên, Nhật Tiến, Thế Vũ, những tập thơ giàu sức chiến đấu của Trần Quang Long,
Võ Quê, Tần Hoài Dạ Vũ, Chinh Văn, các tập bút ký chính luận văn sảo, đậm chất trí
tuệ của Nguyễn Ngọc Lan, Lý Chánh Trung v.v
Thời gian qua đi đã 30 năm, đến nay chúng ta có căn cứ để nhận xét: khuynh
hướng văn học này không chỉ có giá trị phục vụ kịp thời trực tiếp hoặc gián tiếp chống
Mỹ và tha thiết kêu gọi người đọc - nhất là thanh niên - “Tìm về dân tộc”, góp phần
tích cực vào sự nghiệp thống nhất đất nước, mà không ít tác phẩm thực sự có giá trị
lâu dài, chịu đựng được sự thử thách của thời gian. Giá trị này được cấu thành bởi tư