Đề tài: PHÁP LUẬT VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP pot - Pdf 11

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Bài Tiểu luận
Môn Luật Tài chính
ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC: THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
GVHD: ThS. Phan Phương Nam
Lớp: K09501
Danh sách sinh viên thực hiện:
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 2
2.2.Thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam giai đoạn từ khi Luật Ngân sách nhà nước
1996 được ban hành cho đến nay 13
KẾT LUẬN 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
LỜI MỞ ĐẦU
Trong suốt nhiều năm qua, ngân sách nhà nước đã thực hiện tốt vai trò của mình
trong việc giúp nhà nước hình thành và ổn định các quan hệ thị trường, góp phần kiểm
soát tình hình lạm phát, tỷ lệ lãi suất thích hợp, làm lành mạnh hóa nền tài chính quốc
gia, đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế… Song song với những mặt tích cực
ấy, ngân sách nhà nước trong quá trình sử dụng vẫn bộc lộ những mặt hạn chế nhất
định. Ví như yếu kém trong việc quản lý thu chi ngân sách nhà nước, sử dụng ngân
sách nhà nước chưa đúng cách…; dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách hay còn gọi là
bội chi ngân sách nhà nước.
Tùy định hướng và thực tiễn tình hình phát triển kinh tế, xã hội của từng quốc gia
mà bội chi ngân sách nhà nước mang ý nghĩa tích cực hay tiêu cực. Đối với Việt Nam
trong hoàn cảnh hiện tại, vấn đề bội chi ngân sách luôn được đề đặt ra và tìm hướng
khắc phục hợp lý. Cùng với nhu cầu và hoàn cảnh này, Chính phủ nước ta đã thiết lập
cơ chế pháp lý thích hợp với hoàn cảnh kinh tế thời cuộc, tận dụng các công cụ của

chênh lệch thiếu giữa tổng số chi ngân sách trung ương và tổng số thu ngân sách trung
ương của năm ngân sách
1
”.
Từ khái niệm trên cho thấy, bội chi ngân sách nhà nước được tính toán từ tổng số
chi và tổng số thu của ngân sách trung ương. Cụ thể:
• Tổng số chi của ngân sách trung ương bao gồm các khoản phải chi theo
nhiệm vụ, tức các khoản chi phát triển kinh tế,xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh;
bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các
khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Vấn đề này được quy định tại Điều 31
Luật ngân sách nhà nước 2002 và cụ thể hóa tại Điều 21 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP
với nội dung như sau:
 Chi đầu tư phát triển về:
+ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng
thu hồi vốn do trung ương quản lý;
+ Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, góp vốn cổ phần, liên
doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước
theo quy định của pháp luật;
+ Chi hỗ trợ tài chính, bổ sung vốn, hỗ trợ và thưởng xuất khẩu cho các doanh nghiệp,
tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật;
+ Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước
do các cơ quan trung ương thực hiện;
+ Chi hỗ trợ các tổ chức tài chính của Nhà nước do Trung ương quản lý;
+ Chi bổ sung dự trữ nhà nước;
+ Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật.
 Chi thường xuyên về:
+ Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn hóa thông tin
văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các sự
nghiệp khác do các cơ quan trung ương quản lý:
o Các trường phổ thông dân tộc nội trú;

o Các hoạt động sự nghiệp môi trường;
o Các sự nghiệp kinh tế khác.
+ Các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội do ngân sách trung ương
bảo đảm theo quy định của Chính phủ;
+ Hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, hệ thống Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân;
+ Hoạt động của cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam;
+ Hoạt động của các cơ quan trung ương của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam; Liên đoàn Lao động Việt Nam; Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh;
5
+ Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
+ Phần chi thường xuyên trong các chương trình quốc gia, dự án nhà nước do các cơ
quan trung ương thực hiện;
+ Thực hiện chế độ đối với người về hưu, mất sức theo quy định của Bộ Luật Lao động
cho các đối tượng thuộc ngân sách trung ương bảo đảm; hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm xã hội
theo quy định của Chính phủ;
+ Thực hiện các chính sách đối với thương binh, bệnh binh, liệt sỹ, thân nhân liệt sĩ,
gia đình có công với cách mạng và các đối tượng chính sách xã hội khác;
+ Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -
nghề nghiệp thuộc Trung ương theo quy định tại Điều 17 của Nghị định này;
+ Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật.
- Trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay.
- Chi viện trợ cho các Chính phủ và tổ chức nước ngoài.
- Chi cho vay theo quy định của pháp luật.
- Bổ sung Quỹ dự trữ tài chính của Trung ương.
- Bổ sung cho ngân sách địa phương.
- Chi chuyển nguồn từ ngân sách trung ương năm trước sang ngân sách trung
ương năm sau.

pháp luật.
 Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương:
+ Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu quy định tại
Điểm a, Khoản 1 Điều này và thuế giá trị gia tăng thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị
hạch toán toàn ngành quy định tại điểm d Khoản 1 Điều này và thuế thu nhập doanh
nghiệp thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
+ Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, không kể thuế quy định tại Điểm đ
Khoản 1 Điều này;
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hoá, dịch vụ trong nước không kể thuế tiêu thụ đặc
biệt thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
+ Phí xăng, dầu.
1.2. Đặc điểm của bội chi ngân sách nhà nước
• Bội chi của ngân sách nhà nước là bội chi của ngân sách trung ương:
Vấn đề trên được khẳng định bởi các lý do sau:
 Thứ nhất, xuất phát từ nguyên tắc Ngân sách địa phương được
phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý. Tại Khoản
3, Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước 2002 quy định: “Về nguyên tắc, ngân sách địa
phương được cân đối với tổng số chi không vượt quá tổng số thu; trường hợp tỉnh,
7
thành phố trực thuộc trung ương có nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng
thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm, thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5
năm đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, nhưng vượt quá khả năng cân đối
của ngân sách cấp tỉnh năm dự toán, thì được phép huy động vốn trong nước và phải
cân đối ngân sách cấp tỉnh hàng năm để chủ động trả hết nợ khi đến hạn. Mức dư nợ từ
nguồn vốn huy động không vượt quá 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước
hàng năm của ngân sách cấp tỉnh”. Việc quy định như trên nhằm mục đích kiểm soát
các khoản nợ của ngân sách cấp địa phương, tránh hậu quả nặng nề trong hoạt động

Nhà nước: Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng
sẽ làm tăng mức bội chi ngân sách nhà nước. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu
tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt. Mức
bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu.
Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn…),
tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNS.
1.4. Nguyên tắc giải quyết bội chi ngân sách nhà nước
Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc
2
:
• Không sử dụng cho tiêu dùng: Đây được coi là nguyên tắc bất di bất dịch
trong việc giải quyết bội chi nhằm hạn chế các khoản chi từ hoạt động quản lý nhà
nước nói chung. Chi tiêu dùng là khoản chi căn cứ vào mục đích và nội dung, là những
khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai. Từ đặc điểm
của chi tiêu dùng, có thể nhìn nhận chi tiêu dùng giống như các khoản chi thường
xuyên
3
, bao gồm chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn
hóa thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự
nghiệp xã hôi khác;quốc phòng, an ninh, và trật tự an toàn xã hội; các hoạt động sự
nghiệp kinh tế; hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam… Nguyên tắc này được đặt ra
nhằm đảm bảo khả năng giải quyết tình trạng bội chi ngân sách của nhà nước, đảm
bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí các khoản chi tiêu của ngân sách
nhà nước.
• Chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển: Trong quá trình giải quyết bội
chi ngân sách nhà nước, Chính phủ vẫn phải đề cao việc thực hiện tăng trưởng kinh tế
2
Khoản 2, Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước 2002
3
Khoản 2, Điều 3 Luật Ngân sách nhà nước 2002

thậm chí không đầu tư. Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư
4
sách nhà nước/xu-ly-
boi-chi-ngan-sach-nha-nuoc-nham-kiem-che-lam-phat-hien-nay.190.html
10
công, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu
những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết.
• Phát hành tiền mới để bù chi: Việc xử lý bội chi ngân sách nhà nước có
thể thông qua việc nhà nước phát hành thêm tiền và đưa vào lưu thông. Tuy nhiên, giải
pháp này sẽ gây ra lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội
chi ngân sách nhà nước. Đặc biệt, khi nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước là do
thiếu hụt các nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển, gây “tăng trưởng nóng” và
không cân đối với khả năng tài chính của quốc gia.
• Vay trong nước và ngoài nước:
Biện pháp vay trong và ngoài nước là nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước
được quy định cụ thể tại Khoản 2, Điều 4 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP. Thông qua
hoạt động vay, Chính phủ và chính quyền địa phương ghi nhận nợ đối với các trái chủ
về khoản nợ và bảo lãnh của mình cùng các thỏa thuận về lãi suất, hoàn lại Các biện
pháp này được thực hiện qua các hoạt động cụ thể là phát hành trái phiếu. Các loại trái
phiếu được phát hành gồm: Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh và
trái phiếu Chính quyền địa phương.
Theo quy định của Nghị định số 01/2011/NĐ-CP, ba loại trái phiếu kể trên được
phân loại theo phạm vi phát hành trong và ngoài nước như sau:
 Các khoản vay trong nước từ phát hành trái phiếu Chính phủ và các
nguồn tài chính khác trong nước gồm:
o Trái phiếu Chính phủ.
o Trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh.
o Trái phiếu Chính quyền địa phương.
 Các khoản Chính phủ vay nước ngoài được đưa vào cân đối ngân sách:
o Trái phiếu Chính phủ.

. Như vậy, có thể thấy rằng bội chi NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC trong những năm 1991-1995 là rất thấp, được khống chế ở mức chấp
nhận được là 2,63% - việc này đã thể hiện chính sách thắt chặt chi tiêu của Chính phủ
trong thời kỳ trên.
Nhìn chung, thực trang bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn
này đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cụ thể, Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc
đổi mới chính sách quản lý và cân đối ngân sách nhà nước để cải thiện vấn đề khai thác
nguồn thu và phân bổ nguồn lực quốc gia, qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. So
với giai đoạn trước, bội chi ngân sách nhà nước ở giai đoạn này giảm và duy trì ở mức
5
Xem: Lê Quốc Lý, “Bội chi ngân sách nhà nước trong mối quan hệ với lạm phát ở Việt Nam
hiện nay”, Tạp chí Tài Chính số 10/2008
12
chấp nhận được. Tuy vậy, cân đối ngân sách nhà nước trong giai đoạn này vẫn còn
nhiều hạn chế như cải cách thuế vẫn còn nhiều bất cập; hệ thống thuế chồng chéo,
phức tạp gây khó khăn cho công tác hành thu và quản lý thuế; vay bù đắp bội chi ngân
sách nhà nước chỉ chú trọng giải quyết nhu cầu chi; các nguồn thu và nhiệm vụ chi
phân cấp cho chính quyền địa phương không ổn định, hạn chế khả năng chủ động của
ngân sách địa phương khi cân đối ngân sách cấp mình; Nhà nước vẫn chưa xóa bỏ hết
các khoản chi bao cấp dẫn đến lãng phí nguồn lực tài chính của đất nước…
2.2. Thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam giai đoạn từ khi
Luật Ngân sách nhà nước 1996 được ban hành cho đến nay
Với những thay đổi mạnh mẽ trong thời kỳ đầu chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị
trường, nước ta đã đạt được không ít kết quả khả quan. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều
khuyết điểm tồn đọng trong quá trình cân đối ngân sách nhà nước. Lúc này, yêu cầu đặt
ra là cần có một hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh, quy định rỏ ràng hơn nhằm
đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch khi thực hiện cân đối ngân sách nhà nước, thúc
đẩy kinh tế xã hội phát triển bền vững. Vì vậy, ngày 20-03-1996 Quốc hội khóa 9, kỳ
họp thứ 9 đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước và văn bản này có hiệu lực thi hành
từ ngày 01-01-1997. Cùng thời điểm đó, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Ngân

nước đã đánh dấu một bước tiến đáng kể trong việc tăng cường năng lực khai thác, huy
động các nguồn lực tài chính thông qua ngân sách nhà nước. Cụ thể, với việc sửa đổi
hệ thống phân cấp ngân sách nhà nước, theo đó trao quyền tự chủ nhiều hơn cho chính
quyền địa phương, nguồn thu ngân sách nhà nước đã được các cấp chính quyền địa
phương quan tâm nhiều hơn so với trước; quy định về ổn định ngân sách địa phương
theo tỷ lệ % phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho
ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3-5 năm đã tạo điều kiện cho các địa phương yên
tâm và tích cực trong việc huy động các nguồn thu trên địa bàn; quy định cho phép địa
phương được huy động các nguồn vốn tín dụng trong nước cho đầu tư với mức tối đa
30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh đã giúp
nhiều địa phương chủ động hơn trong việc huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách để
6
Xem: Lê Quốc Lý, “Phân cấp tài chính cho chính quyền địa phương trong nền kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tê”, Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 12/2008, Trang 8
14
tham gia đầu tư cho các mục tiêu đã đề ra. Kết quả đạt được là ngân sách địa phương
ngày càng được hưởng nhiều nguồn thu hơn như các khoản thu từ thuế tài nguyên môi
trường, các khoản thu điều tiết từ thuế tiêu thụ đặc biệt Đặc biệt, nếu như từ năm
2003 trở về trước, cả nước chỉ có khoảng 5 địa phương có khả năng thu vượt chi và có
điều tiết về ngân sách trung ương, thì sau khi sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách nhà
nước đến năm 2009 đã có 11 địa phương tự đảm bảo được ngân sách chi của mình mà
không cần sự hỗ trợ của ngân sách trung ương. Những kết quả nêu trên đã góp phần
quan trọng vào việc cân đối ngân sách nhà nước.
Trước hết, nhằm làm rõ hơn phần thực trạng bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn
sau khi Luật Ngân sách nhà nước 1996 được ban hành, nhóm chúng tôi xin được phân
tích thực tiễn bội chi ngân sách nhà nước trong một số năm gần đây thông qua các số
liệu về Quyết toán Thu, Chi cân đối ngân sách nhà nước
7
.
STT Chỉ tiêu Quyết toán

Qua bảng thống kê trên, có thể thấy rằng, tình hình bội chi ngân sách nhà nước
trong những năm gần đây xấp xỉ 5% - tỷ lệ này vẫn ở trong mức giới hạn bội chi cho
phép. Sau đây sẽ là đánh giá chi tiết cho từng năm:
• Năm 2008:

STT
Chỉ tiêu
Dự toán
(Tỷ đồng)
A Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước 323,000
1 Thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) 189,300
2 Thu dầu thô 65,600
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu 64,500
4 Thu viện trợ không hoàn lại 3,600
B Thu kết chuyển từ năm trước sang 9,080
C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 398,980
1 Chi đầu tư phát triển 99,730
2 Chi trả nợ và viện trợ 51,200
3
Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh,
quản lý hành chính nhà nước, đảng, đoàn thể
208,850
4 Chi cải cách tiền lương 28,400
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
6 Dự phòng 10,700
D Bội chi ngân sách nhà nước 66,900
Tỷ lệ bội chi so GDP 5%
Nguồn bù đắp bội chi
16
1 Vay trong nước 51,900

A Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước 389,900
1 Thu nội địa 233,000
2 Thu từ dầu thô 63,700
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu 88,200
4 Thu viện trợ không hoàn lại 5,000
B Thu kết chuyển từ năm trước sang 14,100
C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 491,300
1 Chi đầu tư phát triển 112,800
2 Chi trả nợ và viện trợ 58,800
3
Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh, quản lý hành chính
269,300
4 Chi cải cách tiền lương 36,600
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
6 Dự phòng 13,700
D Bội chi ngân sách nhà nước 87,300
Tỷ lệ bội chi so GDP 4.82%
E Nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước 87,300
1 Vay trong nước 71,300
2 Vay ngoài nước 16,000
Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước nước năm 2009
Theo bảng số liệu trên, dự toán thu ngân sách nhà nước: Dự toán tổng thu cân đối
ngân sách nhà nước năm 2009 là 389,900 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 23% GDP; trong đó, từ
thuế, phí và lệ phí là 21,5% GDP. Về cơ cấu thu năm 2009, dự toán thu nội địa chiếm
59,8% tổng thu ngân sách nhà nước, thu dầu thô chiếm 16,3%, thu cân đối từ hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu chiếm 22,6% tổng thu cân đối ngân sách nhà nước. Và dự
toán chi ngân sách nhà nước năm 2009 được xây dựng trên cơ sở cơ cấu lại chi ngân
sách với mục tiêu góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, đảm bảo các nguyên tắc
sau đây:

 Dự phòng ngân sách nhà nước bố trí đạt 2,8% tổng chi ngân sách nhà nước,
trong đó dự phòng NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG bằng 3,5%, đảm bảo dự phòng của
địa phương ở mức 3 - 4%, dự phòng NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG 2,4% tổng chi
ngân sách trung ương - mức bố trí này là rất mỏng so với yêu cầu chủ động phòng
chống thiên tai, dịch bệnh và xử lý các nhiệm vụ đột xuất khác phát sinh trong năm.
19
• Năm 2010:
STT Chỉ tiêu Dự toán
(Tỷ đồng)
A Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước 461,500
1 Thu nội địa 294,700
2 Thu từ dầu thô 66,300
3 Thu từ xuất khẩu, nhập khẩu 95,500
4 Thu viện trợ không hoàn lại 5,000
B Thu kết chuyển từ năm trước sang 1,000
C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 582,200
1 Chi đầu tư phát triển 125,500
2 Chi trả nợ và viện trợ 70,250
3
Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, quản lý hành chính
335,560
4 Chi cải cách tiền lương 35,490
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
6 Dự phòng 15,300
D Bội chi ngân sách nhà nước 119,700
Tỷ lệ bội chi so GDP 6.20%
E Nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước 119,700
1 Vay trong nước 98,700
2 Vay ngoài nước 21,000

THU CHUYỂN NGUỒN NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG
NĂM 2010 CHUYỂN SANG NĂM 2011
10,000
C TỔNG CHI CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 725,600
1 Chi đầu tư phát triển 152,000
2 Chi trả nợ và viện trợ 86,000
3 Chi thường xuyên 442,100
4 Chi cải cách tiền lương 27,000
21
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
6 Dự phòng 18,400
D BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 120,600
Tỷ lệ bội chi so GDP 5.3%
E NGUỒN BÙ ĐẮP BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 120,600
1 Vay trong nước 92,600
2 Vay ngoài nước 28,000
Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2011
Theo thông tin từ Bộ Tài Chính, sau khi thảo luận đánh giá thực hiện ngân sách
nhà nước năm 2010, dự toán ngân sách nhà nước năm 2011 với các Bộ, cơ quan Trung
ương và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, dự toán ngân sách nhà nước năm
2011 như sau:
 Dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2011: 595,000 tỷ đồng, tăng 12.7% so
với ước thực hiện năm 2010
o Thu nội địa từ hoạt động sản xuất - kinh doanh (không kể thu tiền sử dụng
đất): 352,000 tỷ đồng, tăng 19.3% so ước thực hiện năm 2010. Trong đó, dự toán thu
từ khu vực kinh tế quốc doanh tăng 19.9%; thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tăng 19.8%; thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh tăng
22.2%; thu thuế thu nhập cá nhân tăng 23.7% so với ước thực hiện năm 2010.
o Thu tiền sử dụng đất: 30,000 tỷ đồng. Trong đó 11 địa phương thu trên 5,000
tỷ đồng, tăng 01 địa phương so với ước thực hiện năm 2010 (Khánh Hoà); 29 địa

tổng chi ngân sách nhà nước để từ 01-5-2011 thực hiện điều chỉnh tiền lương tối thiểu
từ 730,000 đồng/tháng lên mức 830,000 đồng/tháng (tăng 13.7%), lương hưu và trợ
cấp ưu đãi người có công tăng bằng tốc độ tăng lương tối thiểu; thực hiện chế độ phụ
23
cấp công vụ với mức 10%; thực hiện phụ cấp thâm niên ngành giáo dục theo Nghị
quyết của Quốc hội.
o Dự toán chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương: 100 tỷ đồng.
o Dự phòng ngân sách nhà nước: Bố trí 18,400 tỷ đồng, bằng 2.6% tổng
chi ngân sách nhà nước.
 Để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và khả năng trả nợ trong năm
tới, Chính phủ đã trình Quốc hội quyết định mức bội chi ngân sách nhà nước năm 2011
là 120,600 tỷ đồng, bằng 5.3% GDP.
Năm 2011, tình hình kinh tế nước ta diễn ra trong bối cảnh đầy biến động. Mặc
dù còn có những yếu kém, bất cập trong quản lý, điều hành, nhưng với sự nỗ lực phấn
đấu vượt bậc, nền kinh tế nước ta đã ứng phó có kết quả với diễn biến phức tạp của
tình hình, đạt được nhiều thành tựu quan trọng; đặc biệt là về tài chính, tiền tệ. Cụ thể,
tổng thu ngân sách nhà nước năm 2011 ước tính đạt 674.5 nghìn tỷ đồng, bằng 113.4%
dự toán năm và tăng 20.6% so với năm 2010 (vượt mục tiêu đề ra trong Nghị quyết số
11 của Chính phủ là tăng 7-8%). Tổng chi ngân sách nhà nước năm 2011 ước tính 796
nghìn tỷ đồng. Bội chi ngân sách nhà nước bằng 4.9% GDP (thấp hơn kế hoạch đề ra,
là 5.3%). Tổng phương tiện thanh toán năm 2011 ước tính tăng 10% so với tháng
12/2010 (kế hoạch là 15-16%); tổng dư nợ tín dụng tăng 12% (kế hoạch là dưới 20%).
• Năm 2012:
STT Chỉ tiêu Dự toán
(Tỷ đồng)
A TỔNG THU CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 740.500
1 Thu nội địa 494.600
2 Thu từ dầu thô 87.000
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 153.900
4 Thu viện trợ 5.000

chính trị, xung đột khu vực, tranh chấp lãnh thổ sẽ trở thành rào cản cho sự phát triển
ấy. Trong bối cảnh đó, ở nước ta, các giải pháp, chính sách về kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô đã bước đầu phát huy hiệu quả; điển hình là bội chi ngân sách nhà
25

Trích đoạn Phát hành tiền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status