MỤC LỤC
Danh mục bảng biểu.
Bảng 1.1: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm.
Bảng 2.1 Chỉ tiêu dự toán năm 2008.
Bảng 2.2 Chỉ tiêu dự toán năm 2009.
Bảng 2.3 Chỉ tiêu dự toán năm 2010.
Bảng 2.4 Chỉ tiêu dự toán năm 2011.
Bảng 2.5 Chỉ tiêu dự toán năm 2012.
Bảng 2.6 Chỉ tiêu dự toán năm 2013.
Danh mục hình vẽ.
Hình 1.1 Lạm phát do cầu kéo.
Hình 1.2 Lạm phát do chi phí đẩy.
Hình 1.3 Tiền bù đắp thâm hụt Ngân sách Nhà nước từ năm 1984-1990.
Hình 2.1 CPI năm 2008(%).
Hình 2.2 CPI năm 2009(%).
Hình 2.3 CPI năm 2010(%).
Hình 2.4 CPI năm 2011(%)
Hình 2.5 CPI năm 2012(%)
Hình 2.6 CPI năm 2013(%)
Danh mục các từ viết tắt.
NSNN - Ngân sách Nhà nước.
CPI – Chỉ số giá tiêu dùng.
NHNN – Ngân hàng Nhà nước.
Lời mở đầu
Lạm phát ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề mang tính thời sự hết sức nóng bỏng,
được sự quan tâm đặc biệt của tất cả mọi người.Bởi vì,lạm phát liên quan đến nhiều vấn
đề quan trọng như tài chính,tiền tệ,ngân hàng,liên quan đến điều hành nhiều bộ ngành,
liên
quan trực tiếp đến đời sống của người dân Kể từ năm 2004 đến nay,lạm phát đã trở
thành một hiện tượng kinh niên tức là ở mức cao trên 8%.Trong những năm gần đây
nhất,tình trạng lạm phát ở nước ta luôn ở mức rất cao.Thực sự,tình trạng lạm phát ở
tế vĩ mô.
- Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về Ngân sách Nhà nước hằng năm
như sau:
Bảng1 : Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm.
Tổng thu Tổng chi
A. Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí).
B. Thu về vốn (bán tài sản nhà nước).
D. Chi thường xuyên.
E. Chi đầu tư.
F. Cho vay thuần (= cho vay mới - thu
nợ gốc).
C. Bù đắp thâm hụt
- Viện trợ.
- Lấy từ nguồn dự trữ.
- Vay thuần (= vay mới – trả nợ gốc).
SVTH: Ngô Tấn Phú_12NH_Khoa Kinh Tế Page 4/43
Nguyên tắc cân bằng ngân sách là: A + B +C = D + E + F
Công thức tính bội chi ngân sách của nhà nước trong một năm như sau :
Bội chi Ngân sách Nhà nước = Tổng chi - Tổng thu = (D + E + F) - (A + B) = C
(khoản bù đắp thâm hụt).
Nguyên nhân của bội chi ngân sách nhà nước .
- Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi Ngân sách Nhà nước :
+ Do tác động của chu kỳ kinh doanh .
Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên
nhằm giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội
chi ngân sách nhà nước tăng lên. Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ
tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi ngân
sách nhà nước. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội
chi chu kỳ.
+ Do tác động cơ cấu thu chi của Nhà nước
viện trợ
nước
ngoài, ngoại giao, chính
trị,
Chi giáo dục y
tế
Chi xây dựng hạ
tầng
Chi
khác
- Căn cứ vào tính chất kinh tế, Chi NSNN được chia ra
thành:
Chi thường xuyên: đây là nhóm chi phát sinh thường xuyên, cần thiết cho
hoạt động
của
các đơn vị khu vực công. Nó bao gồm các khoản chi lương, chi
nghiệp vụ, chi quản lý cho
các
hoạt
động:
• Sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, y
tế, văn
hoá,
nghệ thuật, thể dục thể
thao.
• Chi hành chính: bao gồm các khoản chi lương cho đội ngũ công chức nhà
nước; các
khoản
chi lương cho đội ngũ công chức nhà nước, các khoản chi hàng hoá
để đáp ứng nhu cầu hoạt
ích về
ảnh
hưởng của chính sách Chi NSNN đối với mọi hoạt động của nền kinh tế -
xã hội. Cách phân
loại
này là điều kiện tất yếu giúp cho chính phủ thiết lập các
chương trình chi tiêu và kết hợp hài
hoà
giữa các nhóm chi đầu tư và chi thường
SVTH: Ngô Tấn Phú_12NH_Khoa Kinh Tế Page 6/43
xuyên nhằm nâng cao hiệu quả Chi NSNN
.
- Căn cứ vào quy trình lập ngân sách: Chi NSNN được phân chia ra
thành:
Chi NSNN theo các yếu tố đầu vào: cách phân chia này sẽ dựa vào sự liệt kê
các
khoản
mục mua sắm các phương tiện cần thiết cho hoạt động của các cơ quan,
đơn vị để qua đó
chính
phủ xác lập mức kinh phí tài trợ. Thông thường có các
khoản mục cơ bản như là: chi mua tài
sản
cố định; chi mua tài sản lưu động, chi tiền
lương và các khoản phụ cấp, chi bằng tiền
khác.
Chi NSNN theo các yếu tố đầu ra: mức kinh phí phân bổ cho một cơ quan, đơn
vị
không
căn cứ vào các yếu tố đầu vào mà dựa vào khối lượng công việc kết quả
các
nhà
kinh tế gọi đó là sự “xã hội hoá các rủi ro”. Đáng lý ra mỗi cá nhân trong xã
hội phải cố gắng
đối
phó với mọi rủi ro bằng cách phòng ngừa, lo xa của riêng
mình, nhưng do không đủ khả
năng
hoặc không nhận thức được đầy đủ trách nhiệm,
nên dần dần người ta đã chuyển sang vai của
nhà
nước. Nghĩa là, chính phủ phải
đứng ra bảo hiểm, phụ cấp lương và tái phân phối các gánh
nặng
đó cho toàn thể xã
hội để đảm bảo mức sống tối thiểu cho mỗi công
dân.
- Sự thay đổi quan niệm tổng quát về Ngân sách Nhà nước
Sự thay đổi quan niệm về Ngân sách Nhà nước đã làm thay đổi không nhỏ quy mô
Chi NSNN
.
Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, theo quan điểm của các
SVTH: Ngô Tấn Phú_12NH_Khoa Kinh Tế Page 7/43
nhà kinh tế học cổ
điển
thì mục đích cơ bản nhất của Ngân sách Nhà nước là cung cấp
cho chính phủ đủ tiền để duy trì sự
hoạt
động của bộ máy quản lý hành chính, an ninh,
quân đội. Trái lại, trong nền kinh tế thị trường
hưởng thụ rất nhiều lợi ích mà Chi NSNN mang lại
như chăm sóc y tế, giáo dục, bảo hiểm
xã
hội, các tiện ích từ cơ sở hạ tầng, đó là
còn chưa kể đến những khoản thu nhập mà chính
phủ
chuyển giao cho người
nghèo, góp phần cải thiện cuộc sống xã hội. Nói như vậy không có
nghĩa
là Chi
NSNN không giới hạn. Chính phủ cũng không thể mở rộng quy mô Chi NSNN
đến
100% GDP. Sự thất bại của cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây ở các nước
thuộc khối xã
hội
chủ nghĩa là một minh chứng điển hình. Lý thuyết kinh tế học hiện
đại cho rằng nền kinh tế
muốn
phát triển ổn định cần có sự phối hợp giữa bàn tay
chính phủ và bàn tay thị trường trong quá
trình
tái phân phối thu nhập. Điều đó có
nghĩa là, quy mô Chi NSNN nên có sự giới hạn nhất
định.
Nhưng giới hạn ở quy mô
nào thì cho đến nay các nhà kinh tế cũng chưa đưa ra câu trả lời
chính
xác. Thay vào
đó các nhà kinh tế thường nêu ra sự giới hạn Chi NSNN trên các khía cạnh:
trong
xã hội cho mọi người…
- Chính vì vai trò quan trọng như vậy , các Quốc gia cần có những giải pháp công
việc quản lý nguồn chi Ngân sách Nhà nước.
- Trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, quản lý và sử dụng hợp lý Ngân sách
nhà nước cân đối giữa thu và chi có tác dụng vô cùng quan trọng, sẽ góp phần kiềm
chế lạm phát, chống suy giảm kinh tế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, góp phần ổn định
kinh tế vĩ mô. Nếu muốn việc chi ngân sách nhà nước có hiệu quả và thực hiện được
thì thu ngân sách nhà nước cần phải đạt mức dự toán đề ra để tạo nguồn ngân quỹ cho
việc chi ngân ngân sách nhà nước,chi hiệu quả và tiết kiệm. Ta có thể có những giải
pháp sau:
- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách thu, tăng cường công tác quản
lý thu Ngân sách Nhà nước, tập trung chống thất thu, xử lý nợ đọng thuế, phấn đấu
hoàn thành ở mức cao nhất dự toán thu Ngân sách Nhà nước.
- Rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách thu theo hướng vừa khuyến khích sản
xuất trong nước và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, vừa động viên hợp lý nguồn thu,
chống thất thu ngân sách.
- Tăng cường sự chỉ đạo, điều hành các cấp chính quyền địa phương trong việc phối
hợp với các ngành để nâng cao chất lượng công tác quản lý thu ngân sách.
SVTH: Ngô Tấn Phú_12NH_Khoa Kinh Tế Page 9/43
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, kết hợp thanh tra, kiểm tra thực hiện
pháp luật về giá; kiểm soát việc kê khai thuế, quyết toán thuế của các doanh nghiệp, tổ
chức, cá nhân để thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí và thu khác
vào ngân sách nhà nước.
- Tăng cường kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước, bảo đảm tiết kiệm, chặt chẽ và
hiệu quả.
- Chủ động rà soát, sắp xếp lại các nhiệm vụ chi thường xuyên; cắt giảm hoặc lùi
thời gian thực hiện các nhiệm vụ chi chưa thực sự cấp thiết, các khoản chi mua sắm
trang thiết bị, xe ô tô; hạn chế tối đa tổ chức hội nghị, hội thảo quốc gia, lễ khởi công,
khánh sách nhà nước nói chung và chi thường xuyên nói riêng. Bên cạnh đó phải giảm
bớt chi tiêu thành, công bố quyết định…
người dân trong nước cũng như bạn bè thế giới. Nếu như mà chúng ta không biết cách
quản lí nguồn vốn, nền tài chính cũng như ngân sách quốc gia cho tốt thì dần
dần sẽ gây mất
lòng tin của người dân cũng như của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Họ đầu tư càng ngày càng ít hơn, dẫn đến nước ta đã thiếu vốn để xây dựng đất
nước nay lại càng thiếu hơn, những mục tiêu tốt đẹp mà chúng ta đã đề ra sẽ khó mà
có thể trở thành hiện thực được
1.2 Những vấn đề cơ bản về lạm phát.
1.2.1 Khái niệm về lạm phát.
- Trong kinh tế học, thuật ngữ “lạm phát” được dùng để chỉ sự tăng lên theo thời gian
của mức giá chung hầu hết các hàng hoá và dịch vụ so với thời điểm một năm trước đó.
Như vậy tình trạng lạm phát được đánh giá bằng cách so sánh giá cả của một loại hàng
hoá vào hai thời điểm khác nhau, với giả thiết chất lượng không thay đổi.
- Tỷ lệ lạm phát được tính rộng rãi bằng cách tính tóa sự di chuyển hoặc thay đổi trong
chỉ số giá , thường là chỉ số giá tiêu dung.
- Các chỉ số giá khác được sử dụng rộng rãi cho việc tính toán lạm phát giá cả bao gồm:
+ Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo lường sự thay đổi trung bình trong giá nhà sản
xuất trong nước nhận được cho đầu ra của họ. Điều nay khác với chỉ số CPI trong đó
trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thẻ làm cho số tiền nhận của nhà sản xuất khác với
người tiêu dung trả.Ngoài ra còn thường có một sự chậm trễ giữ sự gia tăng chỉ số PPI
và bất kỳ sự gia tăng cuối nào trong chỉ số CPI. Chỉ số giá sản xuất đo áp lực được đưa
SVTH: Ngô Tấn Phú_12NH_Khoa Kinh Tế Page 11/43
vào sản xuất do chi phí nguyên liệu của họ. Điều này có thể “truyền” được cho
người tiêu dung hoặc nó có thể được hấp thụ bởi lợi nhuận, hoặc bù đắp bởi năng
suất ngày càng tăng.Ở Ấn Độ và Hoa Kỳ, một phiên bản cũ của PPI được gọi là chỉ
số giá bán buôn
+ Chỉ số giá hàng hóa, đo lường giá của một lựa chọn các mặt hang. Hiện nay
chỉ số giá hang hóa đước gia quyển bằng tầm quan trong tương đối của các thành phần
đối với chi phí “ tất cả trong” một công nhân .
+ Chỉ số giá cơ bản: vì giá thực phẩm và dầu có thể thay đổi nhanh chóng do sự
hơn này cho khách hang của họ như giá cao hơn, dẫn đến một “vòng luẩn quẩn”.
- Căn cứ vào tác động của lạm phát, lạm phát được chia làm 4 loại :
+ Lạm phát cân bằng và có thể dự đoán được: Là loại lạm phát xảy ra khi giá
cả tất cả các loại hàng hóa đều tăng cùng một tốc độ và có thể dự đoán trước được.
+ Lạm phát không cân bằng và có thể dự đoán: Là loại lạm phát xảy ra khi tất
cả các loại hàng hóa tăng không đều, nhưng có thể dự đoán trước được.
+ Lạm phát cân bằng và không thể dự đoán: Là loại lạm phát xảy ra khi giá cả
các loại hàn hóa tăng đều nhau nhưng bất ngờ và không thể dự đoán trước được.
+ Lạm phát không cân bằng và không thể dự đoán trược: Là loại lạm phát
xảy ra khi giá cả các loại hàng hóa tăng không đều nhau và bất ngờ, không dự đoán
trước được.
1.2.3 Nguyên nhân của lạm phát .
Theo quan điểm của hầu hết các nhà kinh tế lạm phát xuất phát từ các nguyên
nhân chủ yếu sau:
- Lạm phát do cầu kéo: Là loại lạm phát xảy ra do tổng cầu tăng lên, đặc biệt khi sản
lượng đã đạt đến mức sản lượng tiềm năng điều này được thể hiện bởi sự dịch chuyển
sang phải của tổng cầu (trong mô hình AD- AS). Để khắc phục, chính phủ phải thực
hiện các biện pháp thắt chặt chi tiêu, tăng thuế hoặc giảm cung tiền.Một số nguyên
nhân dẫn đến tổng cầu
+ Do bội chi ngân sách Nhà nước thường xuyên và kéo dài.
+Do việc kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông của ngân hàng trung ương
không chặt chẽ làm cho khối lượng tiền trong lưu thông vượt quá Ngoài ra, có thể do
các nguyên nhân về tâm lý, như ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng về chính trị,
quân sự, kinh tế hoặc do thiên tai như: động đất, bão, núi lửa, sụt bùn, lở núi,…làm
SVTH: Ngô Tấn Phú_12NH_Khoa Kinh Tế Page 13/43
cho dân chúng hoang mang đổ xô đi mua vét hàng hóa, làm sức cầu hàng hóa gia tăng
nhanh chóng, kéo giá cả + Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông trong một thời gian.
+ Do chất lượng tín dụng kém, không thu hồi được vốn, làm mất cân đối quan
hệ tiền hàng.
+ Do tiền lương tăng quá cao, tạo sức cầu hàng hóa lớn, vượt quá khả năng
đều dịch chuyển dần lên phía trên với cùng một tốc độ, giá cả sẽ tăng nhưng sản lượng
và việclàm không đổi.
1.2.4 Tác động của lạm phát .
- Tác động của lạm phát tới tăng trưởng kinh tế .
Lạm phát thường tác động ở cả hai mặt: Tích cực khi lạm phát thấp và tiêu cực khi lạm
phát ở mức phi mã hoặc siêu tốc.
+Có rất nhiều tranh luận xung quanh mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
kinh tế. Các nhà kinh tế theo trường phái lập luận cho rằng lạm phát và tăng trưởng
kinh tế có quan hệ tỷ lệ thuận, nếu có tăng trưởng kinh tế tất có lạm phát. Có thể
khái quát lý thuyết này qua công thức đơn giản sau :
g = GDP
1
/GDP
0
= P
1
xQ
1
/P
0
xQ
o
Trong đó:
g - Tăng trưởng kinh tế.
GDP
1
- tổng sản phẩm quốc nội năm tính toán.
GDP
0
- Tổng sản phẩm quốc nội năm trước năm tính toán.
quá cao dẫn đến làm giảm đầu tư phát triển và có nguy cơ rủi ro cao đối với an toàn của
hệ thống ngân hàng vì lãi suất thực dương cao thì khảnăng kinh doanh có hiệu quả
cao để đủ có lãi và trả được nợ của các doanh nghiệp cho là rất khó khăn.Nguy cơ phá
sản và nợ không trả được cho ngân hàng của các doanh nghiệp là chắc chắn, nên các
ngân hàng cũng nằm trong khả năng phá sản lớn. Trong điều hành chính sách kinh tế
vĩ mô với mục tiêu nền kinh tế tăng trưởng cao, ổn định với tỷ lệ lạm phát ở mức vừa
phải thì phải áp dụng lãi suất thực dương nhưng không quá cao mà ở mức tỷ lệ lãi
suất dương với lạm phát khoảng 20%. Tuy nhiên để điều hành mức này không bị sai
lệch và lạc hậu khi tỉ lệ lạm phát thay đổi thì lãi suất danh nghĩa phải được điều
chỉnh linh hoạt, thường xuyên, có khi một tháng một lần theo chỉ số giá hang tiêu dùng
SVTH: Ngô Tấn Phú_12NH_Khoa Kinh Tế Page 16/43
hàng tháng. Nguyên tắc lãi suất thực dương bằng 20% tỷ lệ lạm phát một cách ổn định
còn lãi suất danh nghĩa thì lên xuống theo mức thay đổi của tỷ lệ lạm phát hàng tháng.
- Tác động làm kém hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực như: làm biến dạng cơ cấu
đầu tư, làm suy yếu thị trường vốn, làm sai lệch tín hiệu của giá, làm phát sinh chi phí
điều chỉnh giá, làm lãng phí thời gian cho việc đối phó với tình trạng mất giá của tiền
tệ, làm giảm sức cạnh tranh với nước ngoài, kích thích người nước ngoài rút vốn về nước.
1.3 Mối quan hệ giữa bội chi Ngân sách Nhà nước và lạm phát .
- Ở Việt Nam trong giai đoạn 1986 – 1990, 59,7% mức thâm hụt ngân sách nhànước
được hệ thống Ngân hàng thanh toán bằng cách phát hành tiền. Số còn lại được bù đắp
bằng các khoản vay nợ và viện trợ của nước ngoài (so với bội chi, khoản vay và viện
trợ năm 1984 là 71,3%, năm 1985 là 40,8%, năm 1986: 38,4%, năm 1987: 32,1%, năm
1988: 32,6%, năm 1989: 24,9%, năm1990 là 46,7%) và một số nhỏ do các khoản thu
từ bán công trái trong nước.
SVTH: Ngô Tấn Phú_12NH_Khoa Kinh Tế Page 17/43
Hình 1.3 Tiền bù đắp thâm hụt Ngân sách Nhà nước từ năm 1984-1990
Nguồn : Báo chinhphu.vn
- Chính phủ tài trợ cho bộ i chi bằng cách đi vay hoặ c in thêm tiền. Chính phủ
cũng có thểtăng nguồn thu củ a mì nh b ằ ng cá ch tăng thuế, vay mượ n
và tă ng lượ ng cung tiề n có quyền lực cao. Nguồn thu của chính phủ
tì m ra nhữ ng kế t quả tương tự như Fischer, Sahay và Vegh khi chia mẫu
thành các nước lạm phát ca o và cá c nước lạm phát thấ p. Nhưng họ cũng
phát hiện ra rằng ở những nước tỉ lệ lạm phát ổn định thì mối quan hệ này yếu
hơn.Ở những nước lạ m phát thấ p và phát triển, mối quan hệ giữ a lạ m phát
và bội chi ngân sách dường như làkhông có.Với những nước phát triển, thuế đúc
tiền là một nguồn quan trọng của thu ngân sách bộ i chi là một phần chủ yếu
gây nên lạm phát.
- Chi ngân sách là một trong những công cụ chính sách quan trọng của Nhà nước
nhằm tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Khi sản lượng của nền kinh tế thấp
dưới mức sản lượng tiềm năng, thì Chính phủ có thể tăng mức chi ngân sách, chấp
nhận bội chi để thúc đẩy hoạt động kinh tế. Vì vậy, bội chi Ngân sách không chỉ diễn
ra phổ biến đối với các nước nghèo, kém phát triển mà xảy ra ngay cả đối với những
nước thuộc nhóm các nền kinh tế phát triển nhất (nhóm OECD). Đối với các nước
đang phát triển, bội chi ngân sách thường để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư cơ sở
hạ tầng ban đầu như: Giao thông, điện, nước Nhiều nước phát triển và đang phát
triển trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng vẫn bội chi ngân sách. Tuy nhiên
chính mức tăng chi tiêu của Chính phủ sẽ kéo theo hiệu ứng tăng giá ở một số các lĩnh
vực hàng hóa và dịch vụ do gia tăng cầu dẫn đến tình trạng lạm phát do cầu kéo, song
song với việc giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng cũng sẽ kéo theo các chi phí sản xuất
tăng dẫn đến lạm phát do chi phí đẩy Mặt khác khi các nhu cầu về đầu tư cơ sở hạ tầng
SVTH: Ngô Tấn Phú_12NH_Khoa Kinh Tế Page 19/43
tăng cao mà ngân sách nhà nước lại thiếu hụt dẫn đến không đủ nguồn vốn đối ứng để
đầu tư cho phát triển. Để bù đắp phần thiếu hụt, Nhà nước có thể sử dụng chính sách
phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông. Tuy nhiên việc tăng chi tiêu của Chính phủ
trong trường hợp này sẽ gây "tăng trưởng nóng" và không cân đối với khả năng tài
chính của quốc gia. Nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội chi
ngân sách nhà nước thì sẽ gây ra tình trạng lạm phát tiền tệ.
SVTH: Ngô Tấn Phú_12NH_Khoa Kinh Tế Page 20/43
Chương II. Mối quan hệ của bội chi Ngân sách nhà nước
và lạm phát giai đoạn 2008- 2013.
- Dự toán chi cân đối Ngân sách Nhà nước Quốc hội quyết định là 398900 tỷ đồng ước
thực hiện cả năm đạt 474280 tỷ đồng vượt 18,9% so với dự toán, tăng 22,3% so với
thực hiện năm 2007. Bội chi ở mức 66900 tỷ đồng , tỷ lệ bội chi so với GDP là 5%.
SVTH: Ngô Tấn Phú_12NH_Khoa Kinh Tế Page 21/43
- Đến ngày 31/12/2008 dự nợ của chính phủ ( bao gồm cả nợ trái phiếu chính phủ)
bằng 33,5% GDP dư nợ ngoài nước của quốc gia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.
- Công tác tài chính ngân sách năm 2008 còn những khó khăn tồn tại :
+ Thu ngân sách tăng nhưng chưa vững chắc chủ yếu là do giá dầu thô và thuế xuất
nhập khẩu. Thu ngân sách những tháng cuối năm có chiều hướng giảm do sản xuất
kinh doanh gặp khó khăn
+ Quản lý chi tiêu ngân sách đã được tăng cường nhưng vẫn còn tình trạng lãng phí,
kém hiệu quả, một số nơi chưa thật sự quán triệt để tiết kiệm chi Ngân sách Nhà nước.
Bảng 2.2 Chỉ tiêu dự toán năm 2009 (tỷ đồng)
STT Chỉ tiêu Dự toán
A Tông thu cân đối ngân sách nhà nước 389900
1 Thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) 233000
2 Thu dầu thô 63700
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu 88200
4 Thu viện trợ không hoàn lại 5000
B Thu kết chuyển từ năm trước sang 14100
C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 491300
1 Chi đầu tư phát triển 112800
2 Chi trả nợ và viện trợ 58800
3 Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, quản lý hành chính nhà nước, đảng, đoàn thể
269300
4 Chi cải cách tiền lương 36600
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
6 Dự phòng 13700
D Bội chi ngân sách nhà nước 87300
học công nghệ, đồng thời thực hiện điều chỉnh tiền lương ở mức cao hơn so với lộ
trình đã được duyệt
+ Được xây dựng trong bối cảnh cơ sở dự báo tình hình kinh tế vẫn còn khó khăn, diễn
biến thất thường của thị trường và các biện pháp kiềm chế lạm phát vẫn lien tục thực
hiện, việc điều chỉnh chính sách thuế tạo thuận lợi hơn cho sản xuất kinh doanh nhưng
bước đầu làm giảm thu Ngân sách Nhà nước.
Bội chi Ngân sách Nhà nước ở mức 4,82%GDP ( giảm 3700 tỷ đồng so với tính bội
chi ở mức 5%) để góp phần kiềm chế lạm phát
SVTH: Ngô Tấn Phú_12NH_Khoa Kinh Tế Page 23/43
Bảng 2.3 Chỉ tiêu dự toán năm 2010 (tỷ đồng)
STT Chỉ tiêu Dự toán
A Tông thu cân đối ngân sách nhà nước 461500
1 Thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) 294700
2 Thu dầu thô 66300
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu 95500
4 Thu viện trợ không hoàn lại 5000
B Thu kết chuyển từ năm trước sang 1000
C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 58200
1 Chi đầu tư phát triển 125500
2 Chi trả nợ và viện trợ 70250
3 Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, quản lý hành chính nhà nước, đảng, đoàn thể
335560
4 Chi cải cách tiền lương 35490
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
6 Dự phòng 15300
D Bội chi ngân sách nhà nước 119700
Tỷ lệ bội chi so với GDP 6,2%
E Nguồn bù đắp bội chi 119700
1 Vay trong nước 98700
6 Dự phòng 18400
D Bội chi ngân sách nhà nước 120600
Tỷ lệ bội chi so với GDP 5,3%
E Nguồn bù đắp bội chi 120600
1 Vay trong nước 92600
2 Vay ngoài nước 28000
Nguồn: Báo chinhphu.vn
- Theo báo cáo của Chính phủ, tổng số chi 1.034.244 tỷ đồng. Còn theo Báo cáo thẩm tra
của Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội, chi NSNN năm 2011 đã bảo đảm theo dự
toán, đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, chính trị, an ninh, quốc phòng.
- Chi giáo dục đào tạo và dạy nghề đạt 90,2% dự toán; chi sự nghiệp y tế, dân số và kế
hoạch hóa gia đình đạt 89,1% dự toán; chi sự nghiệp khoa học công nghệ đạt 89,5%
dự toán; chi sự nghiệp kinh tế đạt 91,5% dự toán
- Về bội chi và quản lý nợ công, nhờ tăng thu NSNN nên đã giảm bội chi từ 5,3%
GDP theo Nghị quyết của Quốc hội xuống còn 4,4%, được các đại biểu đánh giá là
một động thái tích cực.
- Tuy nhiên, mặc dù giảm bội chi song các khoản chi ứng trước, nợ tạm ứng, thiếu hụt
nguồn hoàn thuế đã làm cho kết quả giảm bội chi không có nhiều ý nghĩa về tài khoá.
- Trên cơ sở các ý kiến đóng góp, Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội đề nghị
Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội xem xét đưa vào quyết toán năm 2011
với tổng số thu NSNN 962.982 tỷ đồng, tổng số chi NSNN 1.034.244 tỷ đồng, bội chi
SVTH: Ngô Tấn Phú_12NH_Khoa Kinh Tế Page 25/43