Học đi đôi với Hành Cho dù những năm gần đây, nhiều phương pháp dạy học tích cực trong và
ngoài nước được đưa vào các trường học, như phương pháp “bàn tay nặn bột” (Hands-
on), phương pháp Montessori… nhưng việc áp dụng và hiệu quả của phương pháp này
vẫn còn rất nhiều hạn chế.
Nhiều thầy cô giáo vẫn lúng túng trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn,
hướng dẫn học sinh tìm tòi, khám phá lý thuyết qua thực tiễn… Kết quả là, vẫn còn
tình trạng các bậc phụ huynh và học sinh kêu trời vì mớ lý thuyết và bài tập nặng nề
mà thầy cô giáo giao cho.
Và hậu quả sâu xa hơn là, có những học sinh kết quả học tập rất cao nhưng vẫn
ngơ ngác khi bước vào cuộc sống, nhiều thủ khoa vẫn chưa biết việc chọn trường
chọn ngành của mình đã đúng hay chưa…
Trên Diễn đàn edu.net.vn đã có khá nhiều người tranh luận về vấn đề này,
chúng ta hãy cùng đọc và suy ngẫm:
Một thành viên có nickname lalalala viết:
“Giáo dục của ta thiếu liên hệ với thực tế với công việc sau này nên nó mông
lung. Cần phải làm sao mà gắn kết với cuộc sống chứ không phải là một mớ lý thuyết
suông hổn độn chẳng mang lại lợi ích gì chỉ thêm rối rắm chán nản.
Tóm lại, là làm sao việc giáo dục của chúng ta phải có ích cho cuộc sống sau
này. Phải đáp ứng tất cả những kỹ năng cơ bản cần thiết, đồng thời cũng định hướng
phân hóa học sinh.
Ở lứa tuổi càng nhỏ thì càng phải gắn chặt từng khái niệm với sự vật hiện
tượng thực tế. Các kiến thức hiện nay hơi bác học nên học sinh rất khó tiếp thu nhất là
kiến thức về sinh học, địa lý, lịch sử, văn học.
Tại sao chúng ta lại bắt con trẻ nhồi nhét những kiến thức mà kể cả người lớn
cũng đang phải đau đầu đối mặt hàng ngày, trong khi lại không hổ trợ gì cho chúng”.
với hành”, “lý thuyết đi đôi với thực nghiệm” trong sự nghiệp giáo dục.
Từ khi Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân thực hiện biện pháp đổi mới trong thi
cử, chuyển sang hình thức thi trắc nghiệm, lúc ấy cả những người trong ngành và bên
ngoài ngành giáo dục mới vỡ lẽ ra một tồn tại mà chúng ta đã nghi ngờ từ lâu nhưng
chưa có dịp kiểm chứng “các học sinh phổ thông học vì điểm”, phương châm của giáo
dục phổ thông là “thi đại học thế nào thì dạy và học như thế”. Hoá ra khẩu hiệu mà
chúng ta vẫn hô hào thực hiện “học đi đôi với hành”, “nhà trường phải gắn liền với xã
hội” vẫn chỉ là mục tiêu xa vời.
…Ước mơ của học sinh Việt Nam khi lớn lên là được học đại học, nhưng đó là
đại học gì thì hầu như không một học sinh nào xác định. Điều đó thể hiện cái mục
đích của việc học của các học trò cho sự nghiệp tương lai thật mơ hồ, cảm tính.
Nhìn ra các nước giàu có, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng học trò ở
các nước tiên tiến không có những ước mơ kiểu chung chung đại khái như trên.
Chúng sẽ ước mơ một cái gì đó hoàn toàn cụ thể dù mới chỉ là những cô cậu học sinh:
“Tôi ước mơ mình sẽ trở thành kỹ sư hàng không”; “Tôi ước mơ trở thành một nhà
kinh tế”…. Liệu các nhà hoạch định tương lai cho giáo dục có bao giờ tỏ ra băn khoăn
về những hiện tượng kiểu như vậy?
Học sinh không biết sử dụng những kiến thức đã được học vào việc gì ngoài
việc để thi đỗ đại học, trong khi đáng lẽ chúng sẽ có thể vận dụng, kế thừa những kiến
thức ấy trong các cấp học cao hơn, ở những lĩnh vực mà mình chủ tâm theo đuổi.
Như vậy, nhìn vào ước mơ của các học sinh sẽ có thể tưởng tượng được các
giáo viên của chúng ta đã giáo dục cho học sinh như thế nào, và cái quan niệm về việc
học của toàn xã hội ta ra sao…
Khi chúng ta làm hay học một cái gì đó mà không có mục đích, nó dễ làm ta
nản lòng và đi chệch hướng. Điều này tiếp tục giải thích vì sao lại xảy ra hiện tượng
có những học trò giỏi thời phổ thông, nhưng sẵn sàng trở thành một sinh viên học kém
khi học đại học; những thủ khoa đại học lại không phải là những người tài trong xã
hội
Chúng ta phải xác định xem học để làm gì và mỗi người nên tư duy về cái gì để
phù hợp với sở trường và công việc cá nhân? Xã hội học tập nhưng là học cái gì để