Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Hữu Phú
LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường,
sự cạnh tranh trong kinh doanh ngày càng trở nên gay gắt. Để đứng vững trên thị
trường, để có được các quyết định kinh doanh đúng đắn, bất cứ một doanh
nghiệp nào cũng đều quan tâm đến tình hình tài chính, nó được đặt lên hàng đầu
vì ổn định tình hình tài chính là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
Xuất phát từ nhu cầu quản lý kinh tế ngày càng cao, các doanh nghiệp đã
có sự quan tâm thích đáng đến công tác phân tích tình hình tài chính. Việc phân
tích tình hình tài chính giúp cho thông tin cung cấp trên các Báo cáo tài chính
thực sự có ý nghĩa với người sử dụng. Qua phân tích họ có căn cứ để đánh giá tốt
hơn tình hình sử dụng vốn cũng như thực trạng hoạt động của doanh nghiệp, xác
định được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ cũng như xu hướng tác động của từng
nhân tố đến kết quả kinh doanh, từ đó các đối tượng quan tâm có thể ra quyết
định tối ưu nhất.
Bên cạnh đó việc phân tích cấu trúc tài chính còn cho ta biết được nguồn
vốn đơn vị đang sử dụng được hình thành từ những nguồn tài trợ nào? Trong
điều kiện như thế nào thì doanh nghiệp cần huy động thêm nguồn vốn cho hoạt
động của mình? Đồng thời, phân tích cấu trúc tài chính sẽ giúp ta đánh giá được
hiệu quả hoạt động cũng như mức rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên và để hiểu sâu hơn trong
thực tiễn, trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Dịch vụ du lịch sinh thái
Phố Hội - Khách sạn Phố Hội, tôi đã chọn đề tài: “ Phân tích cấu trúc tài chính
tại khách sạn Phố Hội ” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Khóa luận gồm ba phần:
Lớp B17KDN3
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Hữu Phú
Phần 1: Cơ sở lý luận về phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp.
Phần 2: Phân tích cấu trúc tài chính tại khách sạn Phố Hội.
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Hữu Phú
này, hiệu ứng đòn bẩy nợ sẽ phát huy tác dụng làm tăng giá trị doanh nghiệp. Vì
vậy, quá trình này sẽ tác động đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp.
1.3.2. Hình thức sở hữu của doanh nghiệp
Các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì bị ràng buộc bởi những quy định
có tính pháp lý về tư cách pháp nhân, điều kiện hoạt động cũng như cơ chế vận
hành và các mục tiêu hoạt động khác nhau. Do đó, điều kiện và khả năng tiếp
cận các nguồn tài trợ từ bên ngoài cũng khác nhau.
Đứng trước một cơ hội phát triển, thì các công ty cổ phần, công ty niêm yết
sẽ dễ dàng huy động nguồn vốn từ bên ngoài như từ thị trường chứng khoán hay
gia tăng NVCSH bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc gia tăng vốn góp
của các thành viên, cổ đông. Nhưng đối với những doanh nghiệp tư nhân thì việc
gia tăng VCSH rất khó khăn, họ phải tự mình đi vay nợ bên ngoài để đầu tư.
Như vậy ứng với mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có cách duy trì một cấu trúc tài
chính hợp lý.
1.3.3. Quy mô hoạt động của doanh nghiệp
Những doanh nghiệp đạt quy mô lớn là kết quả của một quá trình hoạt động
lâu dài, được nhiều người biết đến và tạo được uy tín trên thị trường. Đồng thời
tương ứng với quy mô lớn thì những doanh nghiệp này có một tiềm lực tài chính
mạnh và dồi dào. Nên họ có khả năng huy động được nhiều nguồn vốn trên thị
trường tài chính và gặp nhiều thuận lợi hơn so với các doanh nghiệp khác trong
việc vay nợ.
1.3.4. Đặc điểm cấu trúc tài sản của doanh nghiệp
Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp có hai bộ phận: TSNH và TSDH. Doanh
nghiệp nào có nhiều TSDH thì rủi ro xảy ra càng nhiều vì có đòn bẩy kinh doanh
lớn. Mặt khác, TSDH thường được dùng làm vật thế chấp khi đi vay nợ nhằm
Lớp B17KDN3
4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Hữu Phú
chính hoặc đầu tư và huy động vốn.
Tùy theo mỗi chủ thể kinh tế mà phân tích cấu trúc tài chính có ý nghĩa
khác nhau.
2.1. Đối với bản thân doanh nghiệp
Đối với bản thân doanh nghiệp thì việc phân tích cấu trúc tài chính nhằm
giúp doanh nghiệp thấy được tình hình đầu tư và huy động vốn, từ đó có thể dự
đoán được hiệu quả hoặc rủi ro tài chính có thể xảy ra. Vì vậy doanh nghiệp có
thể giữ nguyên cấu trúc như cũ hoặc thay đổi cho phù hợp với chiến lược phát
triển của mình.
Khi phân tích cấu trúc tài sản nhà quản lý có thể điều chỉnh tỷ trọng từng
loại tài sản. Tùy theo doanh nghiệp, tùy theo chính sách phát triển của doanh
nghiệp mà có thể tăng hay cắt giảm hàng tồn kho, nên đầu tư vào loại tài sản
nào, thời điểm nào là hợp lý,
Phân tích cấu trúc nguồn vốn, nhà quản trị có thể thấy được tình hình tài
chính của doanh nghiệp ổn định, tự chủ và cân bằng không, từ đó có thể điều
chỉnh cấu trúc nguồn vốn theo mong muốn của mình. Trong điều kiện kinh
doanh thuận lợi nếu như doanh nghiệp muốn đạt hiệu quả tài chính cao thì tỷ
suất nợ cao nhưng hiệu quả cao luôn gắn với rủi ro cao. Ngược lại doanh nghiệp
muốn đảm bảo an toàn thì tỷ suất nợ thấp. Khi tỷ suất nợ cao doanh nghiệp có
hai cái lợi đó là: thuế thu nhập doanh nghiệp đánh trên lợi nhuận sau khi trừ chi
Lớp B17KDN3
6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Hữu Phú
phí lãi vay và thường thì chi phí lãi vay doanh nghiệp phải trả cho các tổ chức tín
dụng nhỏ hơn cổ tức phải chia cho các cổ đông.
2.2. Đối với chủ thể kinh tế khác
Một ngân hàng trước khi quyết định cho doanh nghiệp vay hay không thì
ngân hàng xem khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Cụ thể là các tỷ số của
các chỉ tiêu tỷ suất nợ, đòn bẩy tài chính, hệ số khả năng thanh toán. Do đó một
doanh nghiệp muốn huy động được vốn vay từ các tổ chức khác thì phải đảm
Giá trị tài sản loại i là giá trị thuần của các khoản mục tài sản trên Bảng cân
đối kế toán: Khoản phải thu, TSCĐ, đầu tư tài chính,
Tổng tài sản là số tổng cộng phần tài sản có Mã số 270 ( MS 270 ) trên Bảng cân
đối kế toán.
Ta có thể nghiên cứu một số chỉ tiêu cơ bản sau:
3.1.1.1. Tỷ trọng tài sản cố định
Công thức tỷ trọng TSCĐ được thiết lập như sau:
Giá trị còn lại TSCĐ
Tỷ trọng TSCĐ = * 100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu trên thể hiện cơ cấu giá trị tài sản cố định trong tổng tài sản, phản
ánh mức độ tập trung vốn hoạt động của doanh nghiệp. Giá trị của chỉ tiêu này
tùy thuộc vào đặc điểm từng lĩnh vực kinh doanh. Do đó để đánh giá tính hợp lý
trong đầu tư TSCĐ cần xem số liệu bình quân ngành. Tùy vào mục đích phân
Lớp B17KDN3
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Hữu Phú
tích mà chỉ tiêu này có lấy số liệu của khoản mục chi phí sản xuất kinh doanh dở
dang hay không ( MS 230 ), tử số của công thức trên sẽ lấy số liệu từ Mã số 220
( bao gồm MS221, MS224, MS227, MS230 ).
Mặt khác khi phân tích cần chú ý tới một số vấn đề sau:
- Đặc điểm từng lĩnh vực kinh doanh.
- Chính sách và chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp. Trong giai đoạn
đầu tư phát triển thì tỷ trọng TSCĐ cao, ngược lại trong giai đoạn
suy thoái phải thanh lý tài sản thì tỷ số chỉ tiêu này thấp.
- Do được tính theo giá trị còn lại của TSCĐ nên phương pháp khấu
hao có thể ảnh hưởng đến giá trị của chỉ tiêu này.
- TSCĐ được phản ánh theo giá gốc và việc đánh giá lại TSCĐ
thường phải theo quy định của Nhà nước, nên chỉ tiêu này có thể
không phản ánh đúng giá trị thực của TSCĐ.
khả năng tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho công ty càng nhiều.
Đầu tư tài chính là một hình thức để khơi thông nguồn vốn dư thừa, góp
phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi nền
kinh tế nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường với các chính sách
khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước cũng như việc hình thành thị trường
chứng khoán ở Việt Nam đã tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư tài chính có
khuynh hướng gia tăng và ngày càng phổ biến.
Với một doanh nghiệp có tỷ trọng đầu tư tài chính cao chứng tỏ tình hình
tình hình tài chính của doanh nghiệp đó tốt, đồng thời nó còn thể hiện mức độ
Lớp B17KDN3
10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Hữu Phú
liên kết tài chính giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp và tổ chức khác, nhất
là cơ hội của các hoạt động tăng trưởng bên ngoài. Những doanh nghiệp có quy
mô lớn thì giá trị của chỉ tiêu này thường cao.
Việc đầu tư tài chính ở các doanh nghiệp phải theo đúng quy định về tài
chính áp dụng cho loại hình doanh nghiệp đó. Khi đánh giá tỷ trọng đầu tư tài
chính cần phải căn cứ vào mục tiêu và hình thức đầu tư cũng như xác định các
nguồn vốn hợp lý tham gia vào quá trình đầu tư của doanh nghiệp. Tỷ trọng loại
tài sản này còn phụ thuộc vào nhu cầu đầu tư cũng như khả năng sinh lời và rủi
ro các hình thức đầu tư.
Đầu tư tài chính bao gồm: Đầu tư chứng khoán, đầu tư góp vốn liên doanh,
đầu tư bất động sản và các khoản đầu tư khác. Ta có thể tách đầu tư tài chính
thành đầu tư tài chính ngắn hạn và đầu tư tài chính dài hạn hoặc tách theo tư
cách chủ sở hữu và đầu tư với tư cách chủ nợ.
3.1.1.3. Tỷ trọng hàng tồn kho
Hàng tồn kho là một bộ phận tài trợ cho quá trình sản xuất và tiêu thụ của
doanh nghiệp được tiến hành liên tục. Dự trữ hàng tồn kho hợp lý là mục tiêu
của nhiều doanh nghiệp, vì dự trữ quá nhiều sẽ gây ứ đọng vốn, gia tăng chi phí
bảo quản và dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp, ngược lại dự trữ quá ít sẽ gây
nghiệp.
Lớp B17KDN3
12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Hữu Phú
3.1.1.4. Tỷ trọng khoản phải thu khách hàng
Giá trị các khoản phải thu khách hàng
Tỷ trọng khoản phải thu KH = * 100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết giá trị khoản phải thu khách hàng chiếm bao nhiêu
phần trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Các khoản phải thu khách hàng
bao gồm phải thu khách hàng ngắn hạn ở MS 131 trừ đi các khoản dự phòng
phải thu khách hàng ngắn hạn khó đòi và phải thu khách hàng dài hạn ở MS 211
trừ đi các khoản dự phòng phải thu khách hàng dài hạn khó đòi.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các khoản phải thu của doanh nghiệp càng
lớn, điều đó chứng tỏ khách hàng mua chịu sản phẩm, hàng hóa của doanh
nghiệp càng nhiều hay vốn của doanh nghiệp đang bị khách hàng chiếm dụng.
Hầu hết các doanh nghiệp đều mong muốn chỉ tiêu này càng thấp càng tốt.
Bởi vậy doanh nghiệp cần có biện pháp thúc đẩy quá trình thu hồi các khoản nợ
của khách hàng. Để đánh giá mức độ hợp lý của chỉ tiêu này người ta thường
dựa vào các căn cứ sau:
- Quy mô hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: quy mô càng lớn
thì khoản phải thu càng cao.
- Phương thức bán hàng của doanh nghiệp: nếu doanh nghiệp bán lẻ,
bán hàng thu tiền ngay thì tỷ trọng khoản khoản phải thu khách
hàng thấp, ngược lại nếu doanh nghiệp bán buôn thì tỷ trọng khoản
phải thu sẽ cao.
- Chính sách tín dụng bán hàng của doanh nghiệp: được thể hiện qua
thời hạn tín dụng và mức tín dụng cho phép đối với từng khách
hàng. Nếu doanh nghiệp có kỳ hạn tín dụng dài, số dư nợ định mức
Lớp B17KDN3
Năm N N + 1 N + 2
Chênh lệch năm N +1 / N Chênh lệch năm N +2 / N +1
+- Mức +- % +- Mức +- %
A. TSNH
& ĐTNH
1. Tiền
2. Đầu tư
ngắn hạn
3.2. Phân tích cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp
Cấu trúc nguồn vốn thể hiện cấu trúc tài trợ của doanh nghiệp, liên quan tới
nhiều khía cạnh khác nhau trong công tác quản trị tài chính. Việc huy động vốn
một mặt vừa đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, đảm bảo sự an toàn
trong tài chính, mặt khác liên quan đến hiệu quả và rộng hơn là rủi ro của doanh
nghiệp.
Phân biệt các nguồn tài trợ
a) Nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu
- Đối với nợ phải trả: đây là nguồn vốn do doanh nghiệp đi vay,
doanh nghiệp phải cam kết với các chủ nợ số nợ gốc và các khoản
chi phí sử dụng vốn theo thời hạn đã quy định. Khi doanh nghiệp bị
giải thể các chủ nợ có quyền ưu tiên nhận tài sản trước.
- Đối với nguồn vốn chủ sở hữu: thể hiện phần tài trợ của người chủ
sở hữu đối với toàn bộ tài sản của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
không phải cam kết thanh toán đối với chủ sở hữu.
Lớp B17KDN3
15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Hữu Phú
b) Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời
- Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn doanh nghiệp được sử dụng
thường xuyên, lâu dài để tài trợ cho hoạt động kinh doanh, có thời
hiện mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào các chủ nợ càng lớn, tính tự chủ
của doanh nghiệp càng thấp và khả năng tiếp nhận các khoản nợ vay càng khó
một khi doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các khoản nợ và hiệu quả hoạt
động kém. Tỷ suất nợ ngắn hạn càng cao thì áp lực thanh toán của doanh nghiệp
trong năm càng cao, rủi ro càng lớn. Tỷ suất nợ dài hạn ít chịu áp lực thanh toán
hơn so với tỷ suất nợ ngắn hạn nhưng chi phí sử dụng vốn cao hơn.
3.2.1.2. Tỷ suất tự tài trợ
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tự tài trợ = * 100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Nguồn
vốn chủ sở hữu được lấy từ MS 410 trên BCĐKT. Vì vốn chủ sở hữu thể hiện
phần tài trợ của chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, nguồn vốn
này thể hiện năng lực vốn có của chủ sở hữu trong tài trợ hoạt động kinh doanh.
Tỷ suất tự tài trợ càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có tính độc lập cao về tài
chính và ít bị sức ép của các chủ nợ, doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp nhận các
khoản tín dụng từ bên ngoài.
3.2.1.3. Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu
Lớp B17KDN3
17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Hữu Phú
Nợ phải trả
Tỷ suất nợ trên vốn CSH = * 100%
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu hay còn gọi là đòn bẩy nợ (đòn bẩy tài
chính). Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu gánh được bao nhiêu
đồng nợ, chỉ tiêu này càng cao thì tính tự chủ của doanh nghiệp càng thấp nhưng
đem lại hiệu quả sử dụng vốn cao, ngược lại chỉ tiêu này càng thấp thì ít có khả
năng bị rủi ro nhưng chi phí sử dụng vốn lớn nên hiệu quả tài chính thấp. Nợ
phải trả được lấy từ MS 300, Nguồn vốn chủ sở hữu được lấy từ MS 410 trên
Tỷ trọng NVTX càng cao thì có sự ổn định tương đối trong một thời gian
nhất định ( trên 1 năm ) đối với nguồn vốn đang sử dụng và doanh nghiệp chưa
chịu áp lực thanh toán nguồn tài trợ này trong ngắn hạn. Ngược lại khi chỉ tiêu
này thấp cho thấy nguồn tài trợ của doanh nghiệp phần lớn là nợ ngắn hạn, áp
lực thanh toán các khoản nợ vay rất lớn. Để đánh giá chính xác hơn ta cần xem
tỷ suất NVCSH / NVTX, tỷ suất này càng cao thì áp lực thanh toán càng thấp,
tính ổn định cao. Tùy theo loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh mà mỗi
doanh nghiệp có tỷ lệ NVTX và NXTT khác nhau. Đối với doanh nghiệp có yêu
cầu đầu tư về tài sản cố định lớn nhất là doanh nghịêp sản xuất thì tỷ trọng
NVTX cao.
NVCSH
Lớp B17KDN3
19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Hữu Phú
Tỷ trọng NVCSH trên NVTX = * 100%
NVTX
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng NVTX có bao nhiêu đồng được tài trợ
bằng NVCSH. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ năng lực tự chủ về tài chính của
doanh nghiệp rất lớn, phần lớn nguồn vốn sử dụng trong kinh doanh có tính ổn
định lâu dài do được tài trợ bởi NVCSH, do đó áp lực trong thanh toán được hạn
chế rất nhiều. Như vậy, thông qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá khả năng độc
lập về tài chính và mức độ ổn định của nguồn tài trợ phục vụ cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Như vậy bằng các chỉ tiêu phản ánh tính tự chủ và tính ổn định của nguồn
vốn, việc phân tích cấu trúc nguồn vốn sẽ cung cấp rất nhiều thông tin cho nhà
quản trị và nhà tài trợ:
- Về phía nhà tài trợ: các chỉ tiêu trên là cơ sở cho các quyết định
trong việc có nên tiếp tục đảm bảo tín dụng cho khách hàng nhưng
vẫn giảm thiểu các rủi ro phát sinh do không thanh toán được nợ.
- Về phía nhà quản trị: việc đối chiếu các tỷ suất liên quan đến nợ của
giữa tài sản và nguồn vốn thông qua các phương thức, chính sách tài trợ TSDH
và TSNH, khả năng thanh toán của doanh nghiệp với các chủ nợ. Việc nghiên
cứu cân bằng tài chính sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện những nguyên nhân của
sự mất cân bằng tài chính từ đó có những biện pháp khắc phục và duy trì một
trạng thái cân bằng tốt để việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, đảm bảo
Lớp B17KDN3
21
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Hữu Phú
một khả năng thanh toán an toàn. Ngoài ra việc phân tích cân bằng tài chính còn
là cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn chính sách tài chính cho phù hợp.
Tùy theo thời gian luân chuyển mà tài sản của doanh nghiệp chia thành hai
bộ phận là TSLĐ và TSCĐ. Do vậy tùy theo từng loại tài sản mà có nguồn vốn
đầu tư hợp lý sao cho vừa đảm bảo an toàn mà có hiệu quả. TSCĐ có thời gian
luân chuyển lâu, có giá trị lớn thường được đầu tư bằng NVTX có thời gian sử
dụng dài, chi phí lớn. TSLĐ có thời gian luân chuyển nhanh, giá trị thấp thường
được đầu tư bằng NVTT có thời gian sử dụng vốn ngắn, chi phí thấp.
Khi phân tích cân bằng tài chính của doanh nghiệp không chỉ xem xét sự
cân bằng giữa tài sản và nguồn tài trợ tương ứng mà còn xem xét sự cân bằng
giữa TSLĐ và các khoản nợ vì TSLĐ dễ hoán chuyển thành tiền làm tăng khả
năng thanh toán của doanh nghiệp. Các chủ nợ thường xuyên xem xét mối tương
quan giữa TSLĐ và nợ với mức quy định nhằm đảm bảo cho khả năng thu hồi
nợ. Như vậy việc phân tích cân bằng tài chính nhằm giúp cho doanh nghiệp có
khả năng thanh toán an toàn và có sự lựa chọn chính sách tài trợ thích hợp để
việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, an toàn.
4.1. Vốn lưu động ròng
4.1.1. Khái niệm vốn lưu động ròng
Vốn lưu động ròng là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ TSNH tại thời điểm lập
Báo cáo tài chính.
Vốn lưu động ròng là phần còn lại của TSNH sau khi trừ đi nợ ngắn hạn:
VLĐR = Tài sản ngắn hạn ( MS 100 ) – Nợ ngắn hạn ( MS 310 )
hạn chịu áp lực thanh toán trong năm. Vì vậy, trường hợp này dễ dẫn đến rủi ro
Lớp B17KDN3
23
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Hữu Phú
phá sản doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp phải có những điều chỉnh để tạo ra
một cân bằng mới theo hướng bền vững.
Tuy nhiên để đánh giá chính xác tình hình cân bằng tài chính của doanh
nghiệp ta không thể dựa vào một năm mà phải nhiều năm liên tục, vì VLĐR của
doanh nghiệp âm có thể do trong năm đó doanh nghiệp đầu tư mới cho tương lai,
tăng cường TSCĐ để phát triển sản xuất.
- Trường hợp 2: VLĐR = 0:
Cân bằng tài chính tốt hơn trường hợp 1. NVTX vừa đủ cho nhu cầu tài trợ
TSDH, doanh nghiệp không phải sử dụng NVTT. Sự cân bằng này chỉ mang tính
chất tạm thời trong năm báo cáo, nó có nguy cơ bị phá vỡ khi doanh nghiệp gia
tăng đầu tư. Một khi tốc độ tăng của NVTX chậm hơn tốc độ tăng của TSDH thì
cân bằng tài chính rơi vào trường hợp 1.
- Trường hợp 3: VLĐR > 0:
Cân bằng tài chính trong trường hợp này được đánh giá tốt. NVTX không
những đủ tài trợ cho TSDH và đầu tư dài hạn mà còn tài trợ một phần cho TSLĐ
và đầu tư ngắn hạn.
Theo nguyên tắc chung khi phân tích tài chính doanh nghiệp chúng ta phải
dựa vào số liệu của các chỉ tiêu qua nhiều kỳ thì mới thấy được bản chất và xu
hướng của doanh nghiệp, hoặc phải dựa vào số liệu trung bình ngành thì mới so
sánh được, mới có một cơ sở để kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp,
cần phải kết hợp với việc đánh giá các nguyên nhân ảnh hưởng tới sự thay đổi
của chỉ tiêu. Do đó khi phân tích cân bằng tài chính nếu VLĐR liên tục âm hoặc
liên tục dương qua nhiều năm thì có thể khẳng định cân bằng tài chính xấu hay
tốt và VLĐR âm hay dương thì có thể trong năm đó doanh nghiệp tăng đầu tư
mua sắm TSCĐ hoặc doanh nghiệp đang trong giai đoạn suy thoái, thanh lý
Lớp B17KDN3