Mở Đầu
Sau khi mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam – Hoa Kỳ được nối lại
vào đầu những năm 1990 thì quan hệ kinh tế giữa hai nước đã tiến triển một
cách tích cực . khi tổng thống của nước Mỹ Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ lệnh
cấm vận kinh tế vào tháng 2/1998 thì mối quan hệ giữa hai nước mới có
những tiến triển thực sự.
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ không chỉ có tác dụng quan
hệ giữa hai nước mà còn mở rộng quan hệ Việt Nam với nhiều nước khác.
Khi hiệu lực thương mại có hiệu lực thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
vào thị trường Hoa Kỳ đã tăng một cách đáng kể. Trong đó ngành xuất khẩu
thuỷ sản đóng một phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế xã hội của
nước ta. Tuy nhiên, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ vẫn còn
tồn tại nhiều khó khăn và thách thức chính vì vậy em đã chọn đề tài “Thực
trạng và các biện pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
vào thị trường Hoa Kỳ”
B.Nội Dung
I.Những yêu cầu của thị trường HOA KỲ đối với thuỷ sản nhập khẩu
Căn cứ theo luật bảo vệ người tiêu dùng và dán mắc thực phẩm
(FALCPA) ban hành tháng 8/2004. cục an toàn thực phẩm HOA KỲ (FDA)
yêu cầu các nhà sản xuất ( cả trong và ngoài nước ) kể từ ngày 1/1/2006 phải
ghi rõ bằng Tiếng Anh, đơn giản dễ hiểu trên nhãn các loại thực phẩm trong
đó có thực phẩm về thuỷ sản đang lưu thông tại thị trường HOA KỲ. Những
loại thuỷ sản đã được ghi nhãn mác phải an toàn vệ sinh, không mang độc tố
có ảnh hưởng đến người tiêu dùng đối với những thuỷ sản nhập khẩu từ nước
ngoài vào thị trường HOA KỲ.
Đối với Việt Nam, trước mắt là các cơ sở chế biến mặt hàng hải sản,
sản phẩm của mình vào MỸ phải quan tâm xây dựng hệ thống HACCP tại cơ
sở của mình. Sau đó phải đăng kí kiểm tra để được cấp chứng nhận của trung
tâm kiểm tra để được cấp chứng nhận của trung tâm kiểm tra chất lượng và an
toàn vệ sinh thuộc bộ thuỷ sản (NAFIQACEM). Là cơ quan nhà nước của ta
được uỷ quyền kiểm tra và chứng nhận nếu đạt yêu cầu HACCP.
cá ngừ. Năm 1995 thị trường này nhập khẩu 130000 tấn cá ngừ nguyên liệu
trị giá 460 triệu USD để cứu hàng loạt nhà máy đóng hộp cá ngừ khỏi nguy
cơ phá sản.
Cá hồi nguyên con ướp lạnh:Hoa kì đứng thứ hai trên thế giới về khai
thác cá hồi với sản lượng 550 tấn năm 1995, nhưng người tiêu dùng trong
nước rất ưa chuộng cá hồi Đại Tây Dương nuôi nhân tại tại Nauy, canada và
Chilê nên nước này mỗi năm nhập khẩu tới 60000 tấn trị giá 280 triệu USD.
Điệp tươi và ướp lạnh: Hoa Kỳ là nước tiêu thụ điệp thứ ba trên thế
giới sau Trung Quốc và NHật Bản. Năm 2004 sản lượng nhập khẩu 26000
tấn, trị giá 216 triệu USD.
Nhìn chung do thói quen tiêu dùng nên cơ cấu mặt hàng thuỷ sản nhập khẩu
vào mỹ rất đa dạng và phong phú bao gồm nhiều loại thuỷ sản nước mặn và
nước ngọt khác nhau. Do đó sức mua lớn nên khối lượng nhập khẩu vào thị
trường này rất lớn và mức tăng trưởng vẫn duy trì ở mức độ cao.
2.2 Kim ngạch xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam
Bắt đầu từ năm 1994, sau khi Mỹ bỏ lệnh cấm vận với Việt Nam,
những lô hàng đầu tiên của Việt Nam đã có mặt trên thị trường Hoa Kỳ với
doanh số đạt 5,8 triệu USD; sau 5 năm (1999) con số này đã tăng lên gần 20
lần với doanh số đạt 108 triệu USD chiếm 1,3% thị phần nhập khẩu thuỷ sản
của Hoa Kỳ và chiếm 10% giá trị phần trăm xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam. Từ
đó trở đi cho đến tháng 7 năm 2003, mặc dù chưa kí được hiệp định thương
mại Việt-Mỹ, nhưng giá trị xuất khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam vẫn tăng
đều đặn và tăng đột biến vào những năm 1995, 2002 và năm 2003 Hoa kỳ đã
vượt Nhật Bản, trở thành nước nhập khẩu hàng thuỷ sản lớn nhất của Việt
Nam.
Trong các mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Hoa Kỳ, tôm
đông chiếm tỷ lệ cao nhất. theo số liệu thông báo của hải quan Hoa kỳ thì
năm 2001 Việt Nam chỉ đứng thứ hai sau Thái Lan với khối lượng 32000 tấn
và đạt giá trị là 417,8 triiêụ USD. Kế đến là mặt hàng cá tra, cá basa, đứng thứ
ba là cá ngừ và thứ tư là các “sản phẩm khác” bao gồm cá philê đông, cua