1
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: Điều chỉnh hoạch tổng thể
phát triển du lịch tỉnh Lào Cai thời kỳ 2000
- 2010 - định hướng đến năm 2020.”
2
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Phần I: Vị trí, mục tiêu và chiến lược phát triển du lịch Lào Cai
1- Vị trí du lịch Lào Cai trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước
và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
1. Các nhận định tổng quát
2. Vị trí của du lịch Lào Cai trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước
, có 9 huyện và 3 thị xã, dân số gần 600.000 người
gồm nhiều dân tộc anh em chung sống, trong đó có 65% dân số thuộc các
dân tộc ít nưgưòi. Thiên nhiên ưu đãi cho Lào Cai nguồn tiềm năng to lớn về
khí hậu, đất đai, khoáng sản, tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên du lịch, lại có
cửa khẩu quốc tế Lào Cai và cặp cửa khẩu quốc gia khác thuận lợi cho phát
triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng
Lợi thế của Lào Cai là tiềm năng đa dạng, phong phú phục vụ cho
phát triển du lịch: Lào Cai có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, cùng với
nhiều truyền thống như lễ hội xuống đồng, hội múa xoè, hội Xuân Đền
Thượng tại thị xã Lào Cai.v.v Lào Cai còn tập hơp nhiều di tích văn hoá
như quần thể hang động Mường Vi, đền Bảo Hà, khu bãi đá khắc cổ Sapa,
tào lâu đài trên cao nguyên Bắc Hà là những điều kiện và di vật thuện lợi
để phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch văn hoá, sinh thái, nghỉ
dưỡng. Từ Lào Cai khách thập phương có thể đi du lịch sang Trung Quốc,
vào sâu nội địa Việt Nam.
Những tiềm năng giầu có trên tạo điều kiện thuận lợi cho Lào Cai phát
triển một nền kinh tế tổng hợp đa ngành, trong đó du lịch được coi là một
trong những ngành có vai trò đặc biệt quan trọng; góp phần đẩy nhanh tiến
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh
Để đảy mạnh phát triển du lịch theo hướng bền vững, xứng đáng
ngành kinh tế mũin nhọn Tinh uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
tỉnh Lào Cai đã chỉ đạo xây dựng để án phát triển du lịch tỉnh Lào Cai thời
5
kuỳ 1996 - 2010. Cùng với nghị quyết của tỉnh về phát triển du lịch thời kỳ
1995 - 2010, đề án này là cơ sở pháp lý quan trọng và là kim chỉ nam cho sự
phát triển du lịch tỉnh Lào Cai.
Thực tế phát triển trong những năm gần đây cho thấy du lịch Lào Cai
có những bước tiến đáng kể. Tốc độ gia tăng khách du lịch, doanh thu từ du
lịch cũng như sự đóng góp của ngành trong cơ cấu kinh tế của tỉnh ngày
đưa ra các bước đi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phù hợp với điều kiện cụ
thể của tỉnh trong mỗi giai đoạn
4- Đề xuất các dự án ưu tiên làm cơ sở cho việc gọi vốn đầu tư ở trong
và ngoài nước.
5- Giúp các cơ quan hữu quan của tỉnh có cơ sở quản lý các hoạt động
kinh doanh du lịch theo quy hoạch
Trong quá trình xây dựng dự án, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm,
chỉ đạo thường xuyên của các đồng chí lãnh đạo tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân
và uỷ ban nhân dân tỉnh, của Tổng ục Du lịch, sự giúp đỡ nhiệt tình của
cộnh tác có hiệu quả của các cơ quan chức năng ở Trung ương và địa
phương.
Nhân dịp này chúng tôi xin bầy tỏ lòng cảm ơn chân thành đối với sự
giúp đỡ quý báu đó và mong nhận được nhiêù ý kiến đóng góp đê dự án
được hoàn thiện hơn.
CĂN CỨ XÂY DỰNG DỰ ÁN
1. Nghị quyết 45/CP ngày 22 tháng 6 năm 1993 của Thủ tướng Chính
phủ về đổi mới quản lý và phát triển ngành Du lịch
7
2- Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt nam thời kỳ 1995 -
2010
3- Quyết định số 307/TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010
4- Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng du lịch Bắc Bộ thời lỳ
1997 - 2010 Tổng cục Du lịch năm 1997
5- Nghị quyết số 03/NQ.TU nmgày 09/5/1995 của Tỉnh uỷ Lào Cai về
phát triển kinh tế du lịch
6- Đề án phát triển du lịch tỉnh Lào Cai thời kỳ 1996 - 2010
1. Các nhận định tổng quát.
1.1. Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới, được thành lập lại từ tháng
10 năm 1991, phía Bắc giáp với Trung Quốc, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái,
phía Tây giáp tỉnh Lai Châu và phía Đông giáp tỉnh Hà Giang.
Tổng diện tích tự nhiên của Lào Cai là 8.049,54 km
2
; chiếm 2,4% tổng
diện tích tự nhiên cả nước. Dân số toàn tỉnh là 600.000 người chiếm 0,78%
tổng dân số cả nước.
Lào Cai nằm ở vị trí thuận lợi của tổ quốc, có hệ thống giao thông
đường bộ, đường sắt khá thuận lợi. Hệ thống đường nội tỉnh khá phát triển
với đường ô tô có thể đi hầu hết các xã. Lào Cai cũng có tiềm năng phát
triển giao thông đường thuỷ với các sông Hồng, sông Chảy, có cửa khẩu
quốc tế thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế và thu hút vốn đầu tư, nhất là vốn
đầu tư nước ngoài.
Lào Cai cũng là tỉnh giàu tiềm năng tự nhiên và nhân văn, địa hình và
khí hậu của Lào Cai đã tạo ra những phong cảnh kỳ vĩ, trong đó phải kể đến
khu du lịch Sapa và đỉnh Fan Si Păng - mái nhà của đất nước. Lào Cai có
truyền thống lịch sử lâu đời và là nơi tập trung của 27 dân tộc khác nhau,
9
chiếm đến 65% tổng số dân của tỉnh và có một nền văn hoá đậm đà bản sắc
dân tộc.
Với vị trí địa lý thuận lợi, với nguồn tiềm năng đa dạng và phong phú,
Lào Cai có điều kiện để phát triển một nền kinh tế tổng hợp nhiều thành
phần, trong đó du lịch là một ngành kinh tế có triển vọng phát triển lớn và
hứa hẹn giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh.
1.2. Việc phát triển du lịch Lào Cai là phù hợp với trào lưu của du lịch
thế giới, với chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, trong đó Lào Cai được
xác định là một điểm du lịch quan trọng trong hệ thống các tuyến điểm du
dịch vụ có mức tăng khá nhất đạt 7,47%/năm. Riêng ngành du lịch khách
sạn mặc dù mới phát triển, quy mô còn nhỏ nhưng đã đạt tốc độ tăng trưởng
khá cao 17,2%/năm.
Sự phát triển của du lịch và các ngành dịch vụ đã góp phần vào việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Nếu như năm 1996, các ngành kinh tế
chính như: ngành Nông, Lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm tỷ trọng 51,17%,
ngành công nghiệp, xây dựng chiếm 21,39%; ngành dịch vụ chiếm 27,43%
thì đến năm 1999 cơ cấu trên đã thay đổi, tỷ trọng ngành Nông, lâm nghiệp,
thuỷ sản còn 49,58%; các ngành công nghiệp, xây dựng chiếm 17,85%, các
ngành dịch vụ tăng lên 32,57%.
Với sự đầu tư xây dựng các khu du lịch, dịch vụ được tăng cường và đa
dạng hoá các sản phẩm du lịch, Lào Cai sẽ thu hút được nhiều hơn nữa
khách du lịch trong và ngoài nước. Từ đó sẽ cải thiện tình hình phát triển và
tăng doanh thu của ngành, đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế quan
trọng của tỉnh. 11
PHẦN II
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT
TRIỂN DU LỊCH TỈNH LÀO CAI
I. Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch thiên nhiên.
1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch thiên nhiên.
1.1. Vị trí địa lý.
Lào Cai có toạ độ địa lý: 103,5
0
- 104,5
0
kinh độ Đông và 21,6
0
dãy núi, khối núi lớn, trong đó có 2 dãy núi chính là Hoàng Liên Sơn và dãy
Con Voi chạy song song với nhau theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Ở phía
tả ngạn sông Hồng là dãy núi Con Voi - dãy núi già nhất Việt Nam và các
khối sơn nguyên phân bậc rõ ràng. Ở phía hữu ngạn sông Hồng là dãy
Hoàng Liên Sơn đồ sộ có nhiều đỉnh cao trong đó có đỉnh Fan Si Păng
(3.143m), Ta Yang Pinh (3.069m), Pu Luông (2.983m), Sa phin (2.897m) …
Địa hình vùng này thuộc khối nâng kiến tạo mạnh, có độ chia cắt sâu lớn và
chia cắt ngang khá mạnh (từ cấp 1,5km/km
2
đến 2,5km/km
2
). Độ dốc địa
hình chủ yếu từ 15
0
- 20
0
(khá lớn). Cấu tạo địa chất chủ yếu bằng đá két
tinh cổ hay đá Macma, Granit, Riolit, Pofirit. Đỉnh núi nhọn, sống núi rõ,
sắc, sường dốc, xẻ những khe sâu, quá trình xâm thực - bóc mòn mạnh.
- Vùng địa hình thấp chủ yếu là các thung lũng dọc sông, suối lớn và
các kiểu địa hình máng trũng có bề mặt dạng đồi, các bồn địa chân núi
Hoàng Liên Sơn như Than Uyên. Bên cạnh thung lũng lớn dọc sông và các
thung lũng nhỏ hẹp bị bao bọc bởi các sơn nguyên, dãy núi.
Địa hình núi cao, chia cắt mạnh, độ dốc lớn ảnh hưởng không nhỏ đến
khả năng phát triển kinh tế - xã hội nhất là nông nghiệp, khai thác khoáng
sản, xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng của Lào Cai song đối với du lịch nói
lại đưa lại những giá trị nhất định, tạo nên tiềm năng du lịch tự nhiên như
những vách núi đá, đỉnh núi hiểm trở thuận lợi cho du lịch thể thao leo núi,
chinh phục các đỉnh núi cao, những hang động, thung lũng … đáp ứng nhu
cầu tham quan, nghiên cứu của du khách và trên nền địa hình ấy là thảm
- năm, mang lại
một chế độ nhiệt và ánh sáng dồi dào. Tuy nhiên do đặc điểm địa hình nên
ảnh hưởng của bức xạ đến sự phân hoá nhiệt độ không nhiều. Địa hình núi
cao đã tạo nên sự phân hoá nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa … theo đai cao một
cách rõ rệt.
Ở vùng núi cao, nhiệt độ trung bình từ 15
0
C đến 20
0
C, lượng mưa trung
bình từ 1.800 đến 2000mm/năm, ở vùng thấp, nhiệt độ trung bình 23
0
C đến
25
0
C, lượng mưa bình quân khoảng 1.400 - 1.700mm/năm. Nhiệt độ tối cao
quan sát được ở Sapa (1.500m) chỉ lên tới 33
0
C và nhiệt độ tối thấp là - 2
0
C. 14
Bảng 2: So sánh đặc trưng khí hậu Lào Cai với các chỉ tiêu nhiệt đới
Yếu tố Nhiệt đới
tiêu chuẩn
TX Lào
Cai
Bắc Hà - M.
Nhìn chung Lào Cai có nhiều tiểu vùng khí hậu tốt, nhất là từ những
vùng có độ cao từ 1.000m trở lên, thời tiết mát mẻ trong mùa hè (đặc biệt là
ở Sapa, Bắc Hà), mùa đông ít lạnh hơn so với những nơi cùng vĩ độ ở sườn
Đông dãy Hoàng Liên Sơn (khoảng 2
0
C) do vậy rất thích hợp cho du lịch
nghỉ dưỡng, phục hồi sức khoẻ.
Dãy núi Hoàng Liên Sơn chạy dài chia đôi lãnh thổ và là một bức chắn
ngăn ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc đối với sường Tây và ở đây quy luật
đai cao thể hiên rõ hơn bất cứ nơi nào. Ở đây ta gặp những thời tiết đặc biệt
như trên đỉnh Hoàng Liên Sơn có tuyết rơi, từ đai cao 400m - 900m hiện
tượng sương muối và mưa đá xảy ra khá thường xuyên, các loại gió địa 15
phương như gió Than Uyên với tốc độ cực mạnh tới 35m/s hay gió "Ô Quy
Hồ" với đặc trưng rất khô, thổi theo từng đợt, có thể làm nhiệt độ tăng lên
một cách bất thường (6 - 7
0
C) còn độ ẩm không khí lại giảm đột ngột (chỉ
còn dưới 30%) … Những hiện tượng thời tiết này ảnh hưởng không nhỏ đến
hoạt động kinh tế, sinh thái và sức khoẻ của người dân và cần được chú ý
trong quy hoạch, tổ chức hoạt động du lịch.
1.4. Thuỷ văn.
Đặc điểm địa hình và khí hậu đã tạo cho Lào Cai hệ thống sông suối
khá dày đặc và lượng nước chảy phong phú. Trên địa bàn tỉnh có hai con
sông suối bắt nguồn từ vùng núi cao của tỉnh đổ vào hai con sông này. Địa
hình cao, độ chia cắt lớn, lượng mưa phong phú là những yếu tố tạo cho
dòng chảy ở đây khá phát triển, nhưng nhìn chung các sông suối ở đây
lên là rừng kín thường xanh ẩm á nhiệt đới với đặc điểm rừng thưa, ít tầng,
hệ thực vật lá kim phát triển. Từ độ 2.500m trở lên hầu như không còn cây
cối nhiều, chỉ có lác đác Trúc núi (Trúc lùn) và gió bụi thổi.
Rừng ở Lào Cai có nhiều loại gỗ quý như Dẻ, De, Pơ mu, Đỗ Quên …
Trong đó có 6 loài thực vật quý hiếm đối với nước ta và thế giới là Bách
xanh, Thiết sam, Thông tre, Thông đỏ, Bách tùng và Dẻ tùng. Trong rừng
còn nhiều loại dược quý hiếm như: Đỗ trọng, Thảo quả, Tô mộc, Sa nhân,
Bạc hà, Tam thấy … và nhiều loại thú như Sơn dương, Cheo, Nai, Hoẵng …
Theo thống kê, Lào Cai có một số loài động vật đặc hữu như Gà lôi tía (ở độ
cao 2000 - 3000m), Khướu đuôi đỏ, trèo cây trán đen, Rắn lục sừng (Fan Si
Păng) … Đây là nguồn giá trị lớn cho phát triển du lịch nhất là du lịch sinh
thái, tham quan, nghiên cứu khoa học.
Theo số liệu điều tra độ che phủ rừng ở các tỉnh miền núi phía Bắc năm
1993, Lào Cai có 158,1 ha diện tích đất có rừng, độ che phủ đạt khoảng
19,6% và nếu so sánh với các tỉnh lân cận như Hà Giang (26,5%), Tuyên
Quang (33,7%), Yên Bái (21,1%), Lào Cai (22,6%) thì độ che phủ rừng ở
Lào Cai còn thấp.
Trong quá trình khai thác lãnh thổ, phát triển kinh tế những năm trước,
do công tác quản lý, kiểm soát còn hạn chế nên nhiều khu rừng đã bị tàn phá
mạnh, diện tích đất rừng giảm sút, thay vào đó là cây bụi, dây leo, đồng thời
các loài thú hoang dã cũng giảm sút nhanh cả về số loài và số lượng làm mất 17
cân bằng sinh thái cho lãnh thổ và gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và
đời sống.
1.6. Tài nguyên du lịch tự nhiên.
Đặc điểm điều kiện tự nhiên đã tạo cho Lào Cai một tiềm năng du lịch
thiên nhiên vô cùng phong phú, tạo điều kiện thuận lợi phát triển nhiều loại
hình du lịch, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch thể thao
Ý nghĩa Nhiệt độ
TB năm
(
0
C)
Nhiệt độ trung
bình tháng
nóng nhất (
0
C)
Biên độ năm
của niệt độ
TB (
0
C)
Lượng
mưa năm
(mm)
Thích nghi 18-24 24-27 <6 1250-1900
Khác thích nghi 24-27 27-29 6-8 1900-2550
Nóng 27-29 29-32 8-14 >2550
Rất nóng 29-32 32-35 14-19 <1250
Không thích nghi >32 >35 >19 <650
Sapa 15,3 19,9 5 1400
- Địa hình núi đã đưa lại cho Lào Cai nhiều hang động đẹp có giá trị
cho phát triển du lịch trong đó điển hình là Động Mường Vi - còn gọi là
Động Thuỷ Tiên, là một quần thể hang động lớn thuộc xã Mường Vi - huyện
Hoàng Liên Sơn đã có tới hơn 330 loài. Đây thực sự là tiềm năng lớn cho du
lịch sinh thái của Lào Cai.
2. Đặc điểm dân cư, kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn.
2.1. Dân cư, dân tộc.
2.1.1. Dân cư.
Tính đến thời điểm điều tra dân số toàn quốc lần thứ 2 (01/4/1999), Lào
Cai có 594.637 người (chỉ bằng khoảng gần 0,8% so với dân số cả nước).
Hệ thống tổ chức hành chính của Lào Cai bao gồm: 2 thị xã (Lào Cai và
Cam Đường), 9 huyện (Sapa, Mường Khương, Bát Xát, Bắc Hà, Bảo Yên, 21
Bảo Thắng, Simaica, Văn Bàn, Than Uyên) với tổng số 180 đơn vị phường,
xã và thị trấn trong đó có rất nhiều xã vùng cao kinh tế khó khăn.
2.1.2. Dân tộc.
Lào Cai là vùng đất có nhiều dân tộc người cùng sinh sống, đó là dân
tộc Kinh, Mường, Dao, H'Mông, Nùng, Giáy, Tày, Phù Lá, La Ha, Hà Nhì,
Sán Chay, Sán Dìu, Hoa … Trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới
65% dân số toàn tỉnh, người Việt (Kinh) chỉ chiếm 35%. Lào Cai là nơi có
mặt các cư dân của 3 (trên tổng số 4) ngữ hệ lớn nhất Việt Nam. Đó là các
ngữ hệ Nam á với tộc người Việt, Mường, Kháng, H'mông, Dao, La Chi,
Ngữ hệ Hán - Tạng với các tộc người: Hoa, Hà Nhì, Phù Lá. Ngữ hệ Thái
với tộc người Tày, Nùng, Giáy, Lự, Lào, Bố Y …
Mỗi dân tộc có một tập quán sinh hoạt riêng tạo nên sự phong phú đa
dạng của văn hoá Lào Cai, được thể hiện qua cấu trúc nhà ở, trang phục,
nghệ thuật ca múa nhạc, văn hoá dân gian, tín ngưỡng …
Người Việt, người Hoa, người H'mông sống trong những ngôi nhà nền
đất, dân tộc Dao sống trong những kiểu nhà nửa sàn nửa đất. Người Tày,
Thái, Kháng, La Ha … lại sống theo kiểu nhà sàn. Trong mỗi loại nhà lại
còn phân ra những kiểu dáng khác nhau ví dụ như đối với nhà sàn thì nhà
44,17% mức trung bình của cả nước. Cơ cấu kinh tế theo GDP hiện nay là
Nông - lâm - công nghiệp - dịch vụ.
Cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu
của sản xuất nhưng mới chỉ tập trung ở các vùng thấp còn ở các vùng xa,
vùng sâu, vùng cao còn rất khó khăn. Hiện nay 10/10 huyện, thị xã, 57 xã
phường đã có lưới điện quốc gia, tỷ lệ số hộ được dùng điện lưới quốc gia
chiếm 47% tổng số hộ. Ở các xã vùng cao nhân dân dùng máy thuỷ điện nhỏ
phục vụ sinh hoạt. Các vấn đề y tế, văn hoá giáo dục cũng được đầu tư phát 23
triển nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và tạo thuận lợi
cho phát triển du lịch.
2.3. Tài nguyên du lịch nhân văn.
Tài nguyên du lịch nhân văn là những giá trị văn hoá vật chất cũng như
tinh thần do bàn tay và khối óc của người dân Lào Cai sáng tạo trong cuộc
sống. Các tài nguyên này bao gồm những di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc
nghệ thuật, những sản phẩm thủ công và các nghề thủ công truyền thống,
những giá trị văn hoá phi vật thể như văn nghệ dân gian, lễ hội, ẩm thực …
thể hiện bản sắc văn hoá của Lào Cai, là lực thu hút khách du lịch, đặc biệt
là khách du lịch quốc tế nghiên cứu, tham quan, tìm hiểu.
2.3.1. Di tích văn hoá - lịch sử.
Lịch sử hình thành và phát triển đã tạo ra cho Lào Cai tiềm năng về các
di tích lịch sử - văn hoá phong phú có giá trị cho nghiên cứu khoa học, lịch
sử, văn hoá và phát triển du lịch.
* Di tích lịch sử.
- Đền Bảo Hà: Thờ ông Hoàng Bẩy, một anh hùng miền sơn cước đánh
giặc phương Bắc bảo vệ bản làng đã hiển thánh được thờ ở điện thờ đạo mẫu
Việt Nam. Đền Bảo Hà xây dựng vào thế kỷ 17, được triều đình nhà Lê
phong tặng "Trấn an hiển liệt". Hàng năm cứ mỗi mùa xuân đến và ngày lễ
(lưới cày, lưới cuốc, rìu, thuổng …), đồ dùng sinh hoạt (thạp đồng, bình âu,
bát đĩa …), vũ khí ( giáo, dao găm, chông …) và nhiều loại nhạc khí như
chuông voi và đặc biệt là trống đồng các loại, một hiện vật tiêu biểu của nền
văn hoá Đông Sơn.
Bãi đá cổ Sapa là một khu di tích khảo cổ quan trọng có giá trị văn hoá
lịch sử lớn. Khu di tích này đã được các nhà khảo cổ chứng minh nó đã có từ
lâu đời và là một di sản của người Việt cổ. Di tích bãi đá cổ rộng khoảng 25
8km
2
, bao gồm những tảng đá với nhiều lớp chạm khắc cổ nằm trong thung
lũng Mường Hoa, rải rác xen giữa những thửa ruộng bậc thang của đồng bào
các dân tộc thiểu số ở đây. Các lớp chạm khắc trên đá bao gồm nhiều loại
hình khác nhau như tranh vẽ tả thực, hoa văn trang trí, trong đó đáng chú ý
nhất là các hình vẽ người, nhà sàn và các dấu hiệu có thể là một hình thức
phôi thai của chữ viết đến nay vẫn chưa giải mã được. Trong di tích bãi đá
cổ này đáng chú ý nhất là tảng đá vợ, đá chồng sự tích về mối tình chung
thuỷ của đôi trai gái cho dù bị hoá đá cũng vẫn hướng về nhau hay đàn hổ đá
và tấm bia trên có khắc chữ mà theo truyền thuyết đó chính là những câu
thần chú của nhóm thợ đá để tiêu diệt đàn hổ đến quấy phá dân làng … Năm
1925 lần đầu tiên khu di tích này được nghiên cứu tim hiểu và hiện nay nó
thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và đang đề nghị UNESCO
công nhận là di sản văn hoá thế giới.
2.3.2. Lễ hội truyền thống.
Trong các tài nguyên du lịch nhân văn, lễ hội truyền thống là tài nguyên
có giá trị phục vụ du lịch rất lớn. Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá
đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc. Lễ hội là một hình thức
sinh hoạt tập thể của người dân sau những ngày lao động vất vả, là dịp để