Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020
1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
“ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH
TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TỈNH HẢI DƯƠNG ĐẾN NĂM 2020
.”
a.
Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020
Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020
3
Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020
4
A. MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết điều chỉnh quy hoạch
Hải Dương là địa phương nằm trong vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ, có vị
trí địa lý thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế, trong đó có du lịch với các tỉnh
trong vùng đồng bằng Bắc bộ đặc biệt là các trung tâm động lực của vùng như Hà
Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh qua hệ thống tuyến giao thông quan trọng là quốc lộ 5,
quốc lộ 18, quốc lộ 10 và hệ thống sông Thái Bình, sông Kinh Thầy.
Là một tỉnh đồng bằng có diện tích không lớn với 1.655,98 km
2
song với bề
dày lịch sử phát triển và những đặc điểm về địa lý, Hải Dương có tiềm năng tài
triển du lịch; tính cạnh tranh trong phát triển du lịch giữa các điểm đến du lịch, trong
đó có Hải Dương diễn ra ngày một gay gắt hơn.
Đứng trước những vấn đề đặt ra trên đây và để du lịch phát triển thực sự trở
thành ngành kinh tế quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh, theo đó “Đến năm 2020, Hải Dương trở thành một tỉnh có nền kinh tế
phát triển, trong đó công nghiệp và dịch vụ có tỷ trọng lớn trong có cấu kinh tế, có
nền văn hóa - xã hội tiên tiến” cần thiết là phải điều chỉnh Quy hoạch 2004 nhằm
xem xét đánh giá có hệ thống hơn tiềm năng và vị trí của ngành du lịch, xác định
những định hướng phát triển phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh cũng như xu
hướng phát triển kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế, đảm bảo sự phát triển du
lịch bền vững về lâu dài.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ điều chỉnh
Mục tiêu:
Điều chỉnh Quy hoạch 2004 trên quan điểm phát triển du lịch bền vững đáp
ứng những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương đặt ra tại Quy hoạch phát
triển kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 - 2020 và Chiến lược phát triển
du lịch Việt Nam giai đoạn mới đến năm 2020 gắn liền với bối cảnh hội nhập của du
lịch với khu vực và quốc tế.
Nhiệm vụ điều chỉnh:
Căn cứ vào mục tiêu, những nhiệm vụ chủ yếu của Điều chỉnh Quy hoạch
phát triển du lịch Hải Dương đến năm 2020 bao gồm :
- Đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu phát triển du lịch được đưa ra
tại Quy hoạch 2004 đã được UBND tỉnh Hải Dương phê duyệt tại Quyết
định số 1433/QĐ-UBND ngày 16/4/2004; xác định những kết quả đạt
được, những hạn chế, và những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng.
- Xác định vị trí, vai trò, lợi thế, những cơ hội và thách thức của du lịch Hải
- Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch Hải Dương trong giai đoạn 2011 - 2020.
Nguyên tắc điều chỉnh:
- Phù hợp với chủ trương, chính sách phát triển du lịch; với Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2020.
- Phù hợp với Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt
Nam đến năm 2020.
- Kế thừa Quy hoạch 2004 và các quy hoạch chuyên ngành có liên quan
- Góp phần bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống của địa phương, khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch tạo
ra các sản phẩm du lịch đặc thù để nâng cao khả năng cạnh tranh của du
lịch Hải Dương.
- Góp phần bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
3. Căn cứ điều chỉnh quy hoạch
3.1 Căn cứ pháp lý
a) Luật Du lịch 2005 ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005.
b) Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật du lịch;
Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020
7
c) Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 của Chính phủ về lập, phê
duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội.
d) Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ sửa đổi bổ
sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 của
Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội
Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020
8
d) Quyết định số 197/QĐ-TCDL ngày 5/6/2002 của Tổng cục trưởng TCDL
phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Vùng du lịch Bắc bộ đến
năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
e) Quyết định số 201/QĐ-TCDL ngày 5/6/2002 của Tổng cục trưởng TCDL
phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Trung tâm du lịch Hà Nội
và phụ cận đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
f) Quyết định số 4940/2005/QĐ-UBND ngày 28/10/2005 của UBND tỉnh
Hải Dương phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Hải Dương giai đoạn 2006 -2020;
g) Quyết định số 1433/QĐ-UBND ngày 16/4/2004 của UBND tỉnh Hải
Dương phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương
đến năm 2020;
h) Các quy hoạch ngành, lĩnh vực khác liên quan.
i) Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2009
j) Xu hướng phát triển du lịch khu vực và thế giới, thực tiễn và nhu cầu phát
triển du lịch Việt Nam.
4. Các sản phẩm dự án điều chỉnh quy hoạch
a) Báo cáo tổng hợp và báo cáo tóm tắt Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát
triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020;
b) Hệ thống các bản đồ : (1) Bản đồ vị trí tỉnh Hải Dương trong hệ thống
tuyến, điểm du lịch vùng du lịch Bắc Bộ tỷ lệ 1/1.000.000; (2) Bản đồ
hiện trạng tổng hợp du lịch tỉnh Hải Dương tỷ lệ 1/100.000; (3) Bản đồ
định hướng tổ chức không gian và tuyến, điểm du lịch tỉnh Hải Dương tỷ
lệ 1/100.000
2000 – 2003; cơ sở hạ tầng kỹ thuật và môi trường; và tài nguyên du lịch
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tỉnh Hải Dương giai đoạn 1997 -
2003 trên cơ sở phân tích những chỉ tiêu chuyên ngành cơ bản : khách du lịch,thu
nhập du lịch,cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, lao động trong du lịch, đầu tư
du lịch và hiện trạng tổ chức quản lý, hoạt động marketing du lịch.
- Định hướng phát triển du lịch Hải Dương giai đoạn đến năm 2020 bao gồm:
Dự báo các chỉ tiêu phát triển ngành :
Chỉ tiêu phát triển du lịch Đơn vị 2005 2010 2020
Khách du lịch Ngàn lượt
- Quốc tế (lưu trú) 50,0
100,0
250,0
- Nội địa (lưu trú) 200,0
350,0
650,0
- Khách không lưu trú 500,0
600,0
700,0
24,065
67,633
Tỷ lệ GDP du lịch trong tổng GDP % 1,56
2,27
3,00
Nhu cầu đầu tư Triệu USD 12,800
47,324
127,573
Nguồn : Quy hoạch 2004
Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020
10
Định hướng phát triển sản phẩm du lịch bao gồm : (i) lễ hội đền Kiếp Bạc và
Côn Sơn; (ii) sân Golf Ngôi sao Chí Linh; (iii) nghỉ dưỡng-tham quan-lễ hội
An Phụ - Kính Chủ; (iv) du lịch đường sông (sông Hương, Hải Dương - Vạn
Kiếp); (v) sản phẩm lưu niệm-hàng thủ công mỹ nghệ đặc sắc địa phương,
(vi) sản phẩm làng nghề; (vii) miệt vườn Thanh Hà.
Quy hoạch theo lãnh thổ gồm : (i) định hướng phát triển du lịch theo lãnh thổ;
(ii) Quy hoạch phát triển các cơ sở lưu trú; (iii) quy hoạch các điểm dừng
11
- Chưa làm rõ được những lợi thế so sánh của tiềm năng du lịch Hải Dương
so với các địa phương khác, đặc biệt là các địa phương phụ cận trong vùng đồng
bằng sông Hồng. Đây là một vấn đề quan trọng làm căn cứ cho việc xác định những
định hướng phát triển riêng, tạo sự khác biệt của du lịch Hải Dương và qua đó tạo
được sức hấp dẫn và nâng cao tính cạnh tranh của điểm đến du lịch Hải Dương trong
mối quan hệ phát triển du lịch vùng.
- Mặc dù đã đề cập đến định hướng sản phẩm du lịch, tuy nhiên hệ thống sản
phẩm du lịch, đặc biệt là những sản phẩm du lịch đặc thù của Hải Dương còn chưa
xác định được cụ thể. Đây có thể là một trong những nguyên nhân quan trọng làm
cho du lịch Hải Dương chưa tạo được sự bứt phá được đứng từ góc độ sản phẩm du
lịch và điều này cũng có những ảnh hưởng đến phát triển du lịch sau khi Quy hoạch
2004 được phê duyệt.
- Định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch Hải Dương còn nhiều nội dung trùng
và chưa rõ, đặc biệt đối với định hướng phát triển 02 không gian trọng điểm du lịch;
hệ thống tuyến, điểm du lịch chính của Hải Dương.
- Mặc dù quan điểm phát triển du lịch có đề cập đến phát triển du lịch bền
vững, tuy nhiên Quy hoạch 2004 còn chưa chỉ ra được những yếu tố cơ bản đã, đang
và sẽ có nguy cơ ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển du lịch của du lịch Hải Dương,
đặc biệt đứng từ góc độ môi trường và sự tham gia của cộng đồng.
Những hạn chế được chỉ ra trên đây về nội dung của Quy hoạch 2004 cần
được làm rõ và bổ sung trong Điều chỉnh Quy hoạch 2004.
II. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
251
303
365
420
499
572
19,7%
- Khách quốc tế 27 26 31 38 51 60 82 100 105 120,5
18,1%
- Khách nội địa 86 96 120 165 200 243 282 320 394 451,5
20,2%
Tỷ lệ so với tổng (%) 31,9
25,8
23,9
28,2
29,5
27,5
- Khách nội địa 126 187 264 285 311 423 629 843 871 883
24,2%
Nguồn: Báo cáo thông kê của Sở TM&DL năm 2001 - 2007; Sở VHTTDL năm 2008-2010
Do đặc điểm, lợi thế về vị trí địa lý, bên cạnh sự tăng trưởng về lượng khách
lưu trú, lượng khách du lịch đến Hải Dương không sử dụng dịch vụ lưu trú (khách đi
theo tour trong vùng mà Hải Dương chỉ là điểm dừng chân tham quan; khách du lịch
lễ hội, khách tham quan trong ngày từ Hà Nội, khách “transit” trên tuyến Hà Nội -
Hải Phòng; Hà Nội - Quảng Ninh) cũng tăng khá nhanh. Đây là một đặc điểm khá
đặc thù của du lịch Hải Dương, góp phần đáng kể vào kết quả kinh doanh du lịch
của địa phương.
1.1 Khách du lịch quốc tế
Lượng khách du lịch quốc tế đến Hải Dương trong giai đoạn 2001 - 2010 có
sự tăng trưởng khá ổn định, năm sau cao hơn năm trước. Năm 2001 toàn tỉnh đã đón
được 27.000 lượt khách quốc tế thì năm 2010 đã tăng lên 120.500 lượt, bất chấp tác
động của khủng hoảng kinh tế thế giới. Như vậy có thể thấy chỉ tiêu về khách du
lịch quốc tế của Quy hoạch 2004 là khá phù hợp với thực tế (Bảng 2).
Bảng 2: Khách du lịch quốc tế đến Hải Dương, giai đoạn 2001 - 2010
Đơn vị: Ngàn lượt khách
Hạng mục 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Khách quốc tế 27,0
26,0
31,0
21,0
21,1
Tổng số 113,0 122,0 151,0 203,0 251,0 303,0 365,0 420,0 499,0 572
Ngày khách TB 1,5
1,7
1,5
1,7
1,8
2,0
2,0
1,8
2,2
2,3
Nguồn: Báo cáo thông kê của Sở TM&DL năm 2001 - 2007; Sở VHTTDL năm 2008-2010
Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020
13
Tỷ lệ lượng khách quốc tế trong tổng số khách du lịch đến Hải Dương khá ổn
định và chiếm trên dưới 20% với tốc độ tăng trưởng trung bình đạt trên 18,5% năm.
tốc độ tăng trưởng tương đối cao (23,51%, chỉ đứng sau Bắc Ninh 25,12%). Nguyên
nhân là do Hải Dương là địa phương có vị trí địa lý thuận lợi, có tiềm năng du lịch
phong phú, trong đó có nhiều tài nguyên có giá trị, đặc biệt là khu di tích lịch sử danh
thắng Côn Sơn - Kiếp Bạc và du lịch được quan tâm phát triển với tư cách là ngành
kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020
14
Theo kết quả điều tra khách năm 2010, khách du lịch quốc tế đến Hải Dương
phần lớn từ Trung Quốc (25%); tiếp đến là Hàn Quốc (19%); Đài Loan (16%), Nhật
Bản (15%). Khách từ thị trường Châu Âu và khu vực Đông Nam Á còn hạn chế.
Mục đích của phần lớn khách du lịch quốc tế đến Hải Dương là công vụ,
khách tham dự hội nghị, hội thảo (MICE). Lượng khách đến với mục đích thuần túy
du lịch còn rất hạn chế.
1.2 Khách du lịch nội địa
Khách du lịch nội địa vẫn là lượng khách chủ yếu của tỉnh, trung bình hàng
năm chiếm trên dưới 80% tổng lượng khách du lịch đến Hải Dương. Ngoài Côn Sơn
- Kiếp Bạc là nơi tập trung thu hút khách, các điểm di tích cũng thu hút khách nội
địa đến ngày một nhiều hơn vì điều kiện đi lại khá thuận tiện, gần Hà Nội (Bảng 4).
Bảng 4: Khách du lịch nội địa đến Hải Dương, giai đoạn 2001 - 2010
Đơn vị: Ngàn lượt khách
Hạng mục 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Khách nội địa 86
79,0
78,9
Tổng số 113,0 122,0 151,0 203,0 251,0 303,0 365,0 420,0 499 572
Ngày khách TB 1,1
1,2
1,1
1,2
1,3
1,3
1,2
1,3
1,5
1,8
Nguồn: Báo cáo thông kê của Sở TM&DL năm 2001 - 2007; Sở VHTTDL năm 2008-2010
Nguyên nhân một phần do nhu cầu tham quan nghỉ dưỡng của người dân
trong cả nước, đặc biệt là từ các thành phố lớn như Hà Nội ngày càng cao; bên cạnh
đó là việc ngành du lịch Hải Dương đã chú trọng phát triển du lịch văn hóa - lễ hội,
du lịch tham quan và đặc biệt là du lịch nông thôn phù hợp với nhu cầu khách du
lịch trong nước. Điều đó có cũng nghĩa rằng, trong tương lai gần thị trường khách
2.860,0
Hải Dương 86,0 96,0 120,0 165,0 200,0 243,0 282,0 320,0
394,0
Hưng Yên 11,5 12,26 14,95 17,41 18,06 23,06 28,5 29,0
30,1
Vĩnh Phúc 500,0 579,3 655,6 707,6 836,0 912,0 1.080,5 1.266,5
1.320,5
Bắc Ninh 29,2 35,7 38,5 46,14 52,11 60,0 69,12 68,0
70,1
Toàn vùng 5.629,0 6.444,5 7.540,8 8.655,1 10.165,6 11.334,4 13.257,4 12.317,3
13.225,2
Ghi chú: * Số liệu của Hà Nội đã bao gồm cả tỉnh Hà Tây cũ
Nguồn: Viện NCPT Du lịch và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Dương.
Kết quả so sánh cho thấy nếu Hải Dương không chú trọng phát triển các sản
phẩm du lịch mà chỉ dựa trên những lợi thế sẵn có thì trong những năm tới vẫn tiếp tục
có sự tụt hậu về thu hút khách du lịch nói chung, khách du lịch nội địa nói riêng.
Nhận xét chung :
- Mặc dù lượng khách du lịch đến Hải Dương tăng cao nhưng chất lượng
nguồn khách hạn chế. Khách quốc tế còn ít, khách du lịch thuần tuý chủ yếu là đi
theo tour chỉ dừng chân mua sắm, khách lưu trú phần lớn là khách thương mại, tìm
kiếm cơ hội đầu tư kết hợp với du lịch và khách công vụ của các doanh nghiệp đầu
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
Tăng
trưởng
Tổng thu nhập du lịch 120
140
167
256
335
0,8 1,9 5,1 7,0 15,0 14,0 25,0 13,0 20 20,9 43,69%
Chi tiêu TB (Nghìn đồng) 339
297
265
286
353
327
300 279 320 331
Nguồn: Báo cáo thống kê của Sở TM&DL năm 2001-2007, Sở VHTTDL năm 2008-2010
Kết quả điều tra, thống kê cho thấy có sự thay đổi về cơ cấu chi tiêu của
khách theo hướng giảm dần tỷ lệ doanh thu từ lưu trú và ăn uống; tăng dần doanh
thu từ lữ hành - vận chuyển, doanh thu bán hàng, doanh thu các dịch vụ bổ sung
khác; với sự thay đổi cơ cấu chi tiêu này sẽ là điều kiện tốt để gia tăng tổng thu nhập
của các hoạt động du lịch. Tuy nhiên do mức chi tiêu bình quân của khách còn thấp
và có xu hướng giảm nên thu nhập du lịch chung còn hạn chế. Để tăng thu nhập du
lịch thời gian tới, du lịch Hải Dương cần chú trọng các giải pháp thu hút khách du
lịch có khả năng chi tiêu cao và tăng cường các dịch vụ bổ sung bên cạnh phát triển
các sản phẩm du lịch hấp dẫn có khả năng cạnh tranh cao.
Nếu xem xét thu nhập du lịch Hải Dương trong mối tương quan với các địa
phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (Bảng 7) thì có thể thấy do lượng
Quảng Ninh 339,0
561,8
711,5
882,6
1.034,0
1.265,0
1.632,9
1.950,5 2.305,4
Hải Phòng 283,0
363,6
404,0
470,0
540,0
721,0
1.023,7
1.452,8 1.570,2
428,0
525,0
594,3 650,5
Bắc Ninh 25,4
28,1
33,2
40,0
45,0
55,1
64,5
70,0 75,8
Toàn vùng 4.037,7
4.672,2
6.400,6
7.533,0
8.618,0
8.440
9.359
10.437
11.515
1219510,3 %
Du lịch (SS) 50
52
58
69
77
92
109
114
370
464
551Tỷ lệ (%) 1,04 0,93 1,1 1,31 1,4
1,5 1,6 1,6
1,8 1,8 Nguồn Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2010. Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020
18
Như vậy có thể thấy mục tiêu đóng góp GDP du lịch được xác định tại Quy
hoạch 2004 theo đó đến năm 2010 GDP du lịch sẽ chiếm khoảng 2,3% tổng GDP của
tỉnh đã không đạt được. Một trong những nguyên nhân được xem là quan trọng hạn chế
tỷ lệ GDP du lịch trong tổng GDP của tỉnh là do mức đầu tư từ ngân sách cho sự
nghiệp du lịch Hải Dương còn quá thấp so với các ngành kinh tế khác và chỉ chiếm
0,19% tổng đầu tư ngân sách địa phương. Chính vì vậy nếu xét từ tỷ trọng đầu tư với
tỷ trọng tổng sản phẩm thì hoạt động du lịch của Hải Dương thời gian qua vẫn có thể
được xem là khá có hiệu quả.
40
56
62
68
73
83
102
132
133
16,75%
Tổng số phòng 650 810 950 1.099 1.240 1.540 1.820 1.953 2.574 2.637
16,83%
Tổng số giường 1.050 1.215 1.520 1.648 2.144 2.700 2.985 3.202 4.138 4.235
19,1%
Nguồn: Báo cáo thông kê của Sở TM&DL năm 2001 - 2007; Sở VHTTDL năm 2008-2010
- CSLT đạt tiêu chuẩn 1 sao 07 5,3 212 8,0
- CSLT đạt tiêu chuẩn 57 42,8 844 32,0
- CSLT chưa xếp hạng 60 46,4 1.122 42,5
Nguồn: Sở Văn hoá Thể thao - Du lịch Hải Dương.
Chất lượng cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương nhìn chung còn
kém và chỉ đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu của khách du lịch. Trang thiết bị ở
một số khách sạn đã cũ không đồng bộ cần nâng cấp. Một số phòng nghỉ ở các
khách sạn tư nhân còn hẹp, bài trí thiết kế nội ngoại thất không hợp lý, vệ sinh chưa
đảm bảo theo yêu cầu. Ngoài dịch vụ lưu trú và ăn uống, ở một số khách sạn hiện
nay phát triển thêm các dịch vụ mới như massage, karaoke, bể bơi
3.2 Cơ sở vui chơi giải trí
Các cơ sở vui chơi giải trí- thể thao, dịch vụ phục vụ khách du lịch ở Hải
Dương nhìn chung còn rất hạn chế. Ở các khách sạn lớn những dịch vụ bổ sung
Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020
20
thường chỉ bao gồm: massage, tennis, bể bơi, phòng karaoke; Công ty cổ phần sân
Golf Chí Linh mới chỉ đưa vào sử dụng sân golf 36 lỗ, hệ thống dịch vụ kèm theo
như câu lạc bộ đêm, trường đua ngựa còn đang trong giai đoạn xây dựng. Gần
đây, tỉnh cũng đã chú trọng quy hoạch một số khu vui chơi giải trí nhưng các dự án
này tập trung chủ yếu ở thành phố Hải Dương; ở các khu du lịch đang thu hút
khách như Côn Sơn - Kiếp Bạc, đảo Cò Chi Lăng Nam, v.v. chưa có các cơ sở vui
chơi giải trí. Sự hạn chế về các cơ sở vui chơi giải trí - thể thao, một mặt đã không
kích thích được khả năng chi tiêu của khách, mặt khác đã hạn chế thời gian lưu trú
của họ. Đây là một nguyên nhân khiến khách du lịch chỉ đi về trong ngày và có
mức chi tiêu thấp.
21
Đối với Hải Dương, lực lượng lao động trong ngành du lịch cũng tăng và
chiếm tỷ trọng khá lớn trong lực lượng lao động của tỉnh. Theo số liệu thống kê của
Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hải Dương, năm 2004 lực lượng lao động trong
ngành du lịch của Tỉnh là trên 1.400 người, năm 2010 tăng lên 3.750 người; tốc độ
tăng trưởng trung bình lao động trong giai đoạn 2004-2010 là 19,12% (Bảng 11).
Tuy vậy, so với các tỉnh phụ cận, số lượng lao động trong ngành du lịch của Hải
Dương còn tương đối ít.
Bảng 11: Lao động trong ngành du lịch Hải Dương giai đoạn 2001-2010
Đơn vị tính: Người
Năm
Trình độ
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2010
Tăng
trưởng
(%)
ĐH và trên đại học 80 114 145 150
250 305 364
487 515 26,2
Trung cấp & CĐ 340 500 615 650
750 792 890
đã có những chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ lao động
trong ngành. Lao động đã qua đào tạo ở mức đại học và trên đại học đã chiếm tới
13% trong tổng số lao động, trong khi đó ở một số tỉnh lân cận thì con số này còn rất
thấp. Tuy nhiên số lao động chưa qua đào tạo nghiệp vụ còn cao, trình độ nghiệp vụ
sơ cấp chiếm số lượng lớn, trình độ ngoại ngữ còn rất thấp chưa đáp ứng đủ nhu cầu
về chất lượng lao động mà các khu, điểm du lịch, các doanh nghiệp du lịch đặt ra.
Nếu nghiên cứu về nhu cầu lao động để đáp ứng cho yêu cầu phát triển du
lịch thì lao động trong ngành du lịch Hải Dương đang thiếu cả về số lượng và chất
lượng.
Chỉ phân tích riêng trong năm 2010, thực trạng lao động trong ngành du lịch
cho thấy, chất lượng lao động trong quản lý và kinh doanh là chưa đáp ứng được yêu
cầu. Trình độ đại học ở các chuyên ngành tỷ lệ đạt chưa cao so với tổng lao động
(13,7%). Lực lượng lao động đào tạo ở lĩnh vực khác không phải trong lĩnh vực du
lịch đào tạo còn khá lớn chiếm đến 44,2% trong tổng số lao động. Lao động chưa
Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020
22
qua đào tạo cũng đã hạn chế đi rất nhiều: nếu như năm 2001 số lao động này chiếm
đến 25,7% nhưng đến năm 2010 con số này chỉ còn 7,3%. Do phần lớn lực lượng
lao động của tỉnh chưa được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ du lịch vì vậy sẽ ảnh
hưởng nhiều đến hoạt động của ngành.
Thực tế tại các cơ sở lưu trú du lịch đã và đang sử dụng phần lớn lao động
chưa đạt tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ. Để từng bước giải quyết thiếu hụt về lao
động có nghiệp vụ, hàng năm Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với
trường Trung học chuyên nghiệp, Trường Cao đẳng nghiệp vụ du lịch Hà Nội tổ
chức các lớp tập tuấn nghiệp vụ. Tuy nhiên số lao động được đào tạo vẫn còn hạn
23
gian mà lượng khách du lịch đến Côn Sơn - Kiếp Bạc nhiều nhất. Theo thống kê của
Ban quản lý khu di tích Côn Sơn- Kiếp Bạc tốc độ tăng trưởng khách giai đoạn 2001
– 2010 khoảng 20%, năm 2010 đạt trên 1 triệu lượt khách.
Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất phục vụ du lịch ở Côn Sơn chưa
được hiện đại song tương đối thuận lợi và đầy đủ. Các loại hình dịch vụ: kinh
doanh khách sạn, nhà nghỉ, vận chuyển, ăn uống, mua sắm phát triển và mở rộng.
Tuy nhiên, quy mô của các loại hình dịch vụ còn nhỏ lẻ thiếu sự liên kết; dịch vụ
vui chơi giải trí còn hạn chế Đánh giá chung thì khu Côn Sơn- Kiếp Bạc có giá trị
văn hoá lịch sử cao và cảnh quan đẹp, nhưng còn thiếu các sản phẩm du lịch chất
lượng cao nên mức độ hấp dẫn khách còn thấp.
- Khu An Phụ - Kính Chủ: Hiện đang được khai thác ở dạng tự nhiên đón
khách đến với mục đích tâm linh tham quan đền, chùa là chính. Ở đây chưa có hệ
thống cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ du lịch nên mặc dù hấp dẫn về cảnh quan
nhưng chất lượng sản phẩm du lịch thấp, chưa đồng bộ, chưa thu hút được khách
du lịch thuần tuý.
- Khu du lịch thành phố Hải Dương: Chủ yếu phục vụ các loại du lịch MICE,
kết hợp với tham quan di tích lịch sử, bảo tàng, làng nghề truyền thống, v.v. Cơ sở
vật chất kỹ thuật và dịch vụ khá đầy đủ.
- Điểm du lịch sinh thái đảo Cò Chi Lăng Nam: tại khu vực này vào lúc bình
minh và hoàng hôn diễn ra cảnh "giao ca" khá sinh động giữa cò và vạc (sáng cò bay
đi kiếm ăn, vạc bay về nghỉ, đến chiều cò trở về và vạc bay đi) nên khách thường
tham quan vào buổi chiều tối và sáng sớm và có nhu cầu nghỉ lại. Hạn chế chủ yếu ở
đây là chưa có cơ sở lưu trú nên lượng khách đến với điểm du lịch này còn ít, chủ
yếu là khách địa phương có thể đi về trong ngày.
Dương còn chưa hấp dẫn nên chủ yếu khách chỉ dừng chân trên các tuyến quốc lộ 18
và quốc lộ 5A để ăn uống và mua sắm.
5.2. Hệ thống sản phẩm du lịch
Cho đến nay Hải Dương mới chỉ phát triển được một số loại sản phẩm du lịch
chính sau :
- Du lịch tham quan : các điểm di tích lịch sử văn hóa, tiêu biểu là khu di tích
Côn Sơn, Kiếp Bạc, Phượng Hoàng, Văn Miếu Mao Điền, đền Khúc Thừa Dụ, v.v. ;
tham quan các điểm danh thắng cảnh quan như Côn Sơn, An Phụ, Kính Chủ, v.v. ;
tham quan các làng nghề như làng gốm Chu Đậu (Nam Sách), làng chạm khắc đá
Kính Chủ (Kinh Môn), làng chạm khắc gỗ Đông Giao (Cẩm Giàng), phường rối
nước Thanh Hải, v.v. ;
- Du lịch lễ hội : các lễ hội tiêu biểu như Lễ đàn Mông Sơn thí thực (lễ hội
Côn Sơn); hội quân, hội hoa đăng trên sông Lục Đầu (lễ hội đền Kiếp Bạc); hội bơi
chải (lễ hội Đền Quát - Gia Lộc; Đình Cậy - Bình Giang), hội đánh gậy (lễ hội Đền
Cuối, Gia Lộc), v.v.
- Du lịch thể thao, giải trí : sân golf Ngôi Sao Chí Linh (Chí Linh)
- Du lịch sinh thái : đảo Cò Chi Lăng Nam (Thanh Miện)
Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hải Dương đến năm 2020
25
- Du lịch công vụ, hội nghị - hội thảo (MICE) : TP. Hải Dương
Như vậy có thể thấy hệ thống sản phẩm du lịch của Hải Dương còn chưa
hoàn chỉnh, thiếu những sản phẩm du lịch có khả năng thu hút khách du lịch thuần
túy mà Hải Dương có khả năng phát triển như du lịch nghỉ dưỡng, du lịch dưỡng