BI THU HOCH
ng dng phõn tớch SWOT trong vic phõn tớch ngnh ngõn hng.
I. ỏnh giỏ tng quan v ngnh
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, trong thời gian qua là một
ngành có sự phát triển phải nói là vợt bậc. Qua gn 20 nm thc hin i mi,
h thng ngõn hng nc ta ó khụng ngng phỏt trin v c s lng v cht
lng. Tớnh n nay, h thng ngõn hng ti VN gm: 5 NHTM Nh nc, 35
NHTM c phn (34NHTMCP ụ th v 1NHTMCP nụng thụn), 5 Ngõn hng
liờn doanh, 35 chi nhỏnh Ngõn hng nc ngoi v 44 vn phũng i din ca
cỏc Ngõn hng nc ngoi ti VN. Ngoi ra, hiện nay cú ớt nht 30 b h s
xin thnh lp ngõn hng mi t cỏc doanh nghip ln VN, cỏc ngõn hng
nc ngoi.
H thng thanh toỏn in t liờn ngõn hng c m rng vi 65
Ngõn hng thnh viờn v 270 chi nhỏnh tham gia, mi ngy thc hin khong
12.000 n 13.000 giao dch vi giỏ tr giao dch bỡnh quõn khong 8.000 t
ng/ngy.
Vic c phn húa cỏc NHTMNN tip tc l mt trng tõm ca ngnh,
nhng khú khn trong quỏ trỡnh c phn húa hai NHTMNN u tiờn ca Vit
Nam ó tng bc c thỏo g, nhng NHTMNN cũn li ó xõy dng ỏn
v l trỡnh c phn húa. Cỏc NHTMCP cng tip tc c c cu li, 8 trong
s 11 NHTMCP nụng thụn ó c phộp chuyn i mụ hỡnh kinh doanh
thnh NHTMCP ụ th. V c bn, cỏc NHTMCP cú cht lng hot ng
khỏ tt, an ton v hiu qu, t l an ton vn ti thiu phự hp vi thụng l
quc t, mt s NHTMCP t mc vn iu l trờn 2000 t ng, cú ngõn
hng t trờn 2.000 t n, v ang c gng t c cam kt v vn trong
chin lc phỏt trin ngnh ngõn hng ca chớnh ph.
Tớnh n 31/12/2007 , tng s vn iu l ca khi NHTMNN t 37.166
t ng chim 50,15% trong tng vn iu l ca ton ngnh ngõn hng, cũn
khi NHTMCP ó t 36.950 t ng t ng chim 49,85% . Cỏc ngõn hng
1
đã đồng loạt tăng vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu và rất
khả năng chịu đựng của cả hai phía đều có hạn. Mặt khác, tốc độ tăng giá tiêu
dùng đã dịu bớt và khả quan nhất trong vòng ba năm qua.
2. Vốn điều lệ tăng nhanh
Chỉ mới một năm trước, mốc vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng còn khá xa với các
ngân hàng cổ phần. Nhưng, chỉ trong vòng năm 2006, mốc này đã bị đẩy lùi
một cách ấn tượng. Và đến nay, có thể đặt ra một mốc mục tiêu mới là 2.000
tỷ đồng vốn điều lệ của các ngân hàng trong năm 2007.
Các ngân hàng buộc phải tăng vốn nhưng cũng nhiều thuận lợi để tăng
vốn. Lợi nhuận cao là một thuận lợi. Thị trường vốn phát triển nhanh cũng là
một yếu tố hỗ trợ. Trong năm 2006, một loạt ngân hàng đã tăng vốn bằng cách
phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu và không có thông tin nào nói về thất bại
bởi đây là một mặt hàng hót nhất trên thị trường.
Một yếu tố khác hỗ trợ, không kém phần quan trọng là nguồn vốn đầu tư
gián tiếp từ các tổ chức tín dụng lớn từ nước ngoài. Techcombank hay
VPBank cũng đã thực sự mở rộng quy mô vốn từ nguồn này.
3. Nợ xấu được cải thiện
Năm 2007, nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã được cải thiện, theo như
những gì được công bố. Ước tính, nợ xấu của các ngân hàng thương mại hiện
nay ở khoảng 3,2%, giảm gần một nửa so với năm 2006 – năm thực hiện phân
loại nợ theo Quyết định 493. Riêng khối ngân hàng cổ phần, nợ xấu chỉ ở
khoảng 1%, nhiều ngân hàng phổ biến dưới mức 1%.
Dù còn nhiều tranh luận liên quan đến tỷ lệ nợ xấu thực của các ngân
hàng thương mại, nhưng sự chuyển biến tích cực là một kết quả cần được
khẳng định. Đáng chú ý là sự chuyển biến này sẽ thực chất hơn khi lộ trình cổ
phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước được triển khai; bản chất hoạt
động của các ngân hàng thương mại quốc doanh được trả về đúng trọn vẹn với
tính chất của một ngân hàng kinh doanh thực sự.
4. Tăng thu hút vốn ngoại
3
Sự đấu tranh của các nhà đầu tư để nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư
mạnh, đặc biệt là trong những tháng cuối năm 2006. Tuy nhiên đây đang là
giai đoạn điều chỉnh mạnh của thị trường.
7. Lên sàn chứng khoán
Sacombank trở thành ngân hàng đầu tiên có mặt trên sàn chứng khoán.
Đây cũng là mốc đầu tiên đánh dầu một dòng vận động mới của khối ngân
hàng cổ phần: lên sàn. Sau Sacombank, ngân hàng được đánh giá là hấp dẫn
đầu tư nhất – ACB – cũng đã chào sàn Hà Nội.
8. Bùng nổ dịch vụ và phát triển công nghệ
"Công nghệ thẻ" ngày càng hiện đại và tiện ích. Các "dịch vụ Internet
Banking, Home Banking, Mobile Banking.." đã trở nên phổ biến và khá thông
dụng. Ngay trong tháng đầu tiên của năm 2007, “cơn sốt” công nghệ phần
mềm T24 của Temenos có khả năng thực hiện tới 1.000 giao dịch/giây, cùng
lúc cho phép tới 210.000 người truy cập và quản trị tới 70 triệu tài khoản đã
được nhiều ngân hàng tiếp cận.
Lượng tiền các ngân hàng đổ vào cho hệ thống công nghệ cũng tập trung
mạnh trong năm 2006. Sacombank đầu tư khoảng 4 triệu USD cho việc ứng
dụng hệ thống Core Banking; VIB Bank cũng mất hàng triệu USD để hoàn
thành dự án hệ thống ngân hàng đa năng SYMBOL do hãng System Access
(Singapore) cung cấp; MB cũng mạnh tay cho dự án ứng dụng công nghệ T24
và đưa Internet vào ứng dụng quản lý hệ thống; EAB không tiếc tiền đề đầu tư
nghiên cứu những chiếc máy ATM thông minh…
III. Định hướng phát triển của chính phủ đối với ngành
Từ năm 2007, hệ thống Ngân hàng Việt Nam bắt đầu thực hiện Đề án
phát triển ngành ngân hàng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
Nhằm triển khai đề án này, NHNN đã xây dựng danh mục và kế hoạch thời
gian thực hiện các đề án, dự án, tập trung vào 6 nhóm nhiệm vụ chủ yếu sau
đây:
1. Hoàn thiện môi trường pháp luật về ngân hàng
5