1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THỊ THU
SO SÁNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - KỸ THUẬT
CỦA CÁC MÔ HÌNH NUÔI THÂM CANH
TÔM SÚ (Penaeus monodon)
VÀ TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei)
Ở TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Th.s. NGUYỄN THANH LONG
2009
3LỜI CẢM TẠ Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Thanh Long đã hết lòng chỉ bảo,
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ tại Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Long An, Chi cục Thủy sản Long An, Trại sản xuất giống Bình Cách,Trạm khuyến
ngư Vùng Hạ và người dân địa phương tại Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước và Cần
2
chiếm 14,74±8,65%/tổng diện tích nuôi trồng thủy sản và tôm chân trắng là
1.131,58±1.565,27 m
2
chiếm 10,87±11,49%/tổng diện tích khu nuôi
Tổng diện tích mặt nước nuôi trung bình/hộ đối với mô hình tôm sú là 4.446±2.272
m
2
và mô hình tôm chân trắng là 6.694±5.877 m
2
. Mật độ thả của vụ 1 là 25,00±7,44
con/m
2
và vụ 2 là 24,38±7,30 con/m
2
đối với mô hình tôm sú thâm canh và mô hình
tôm thẻ chân trắng thâm canh có mật độ nuôi trung bình là 72,00±47,09 con/m
2
ở vụ
1 và vụ 2 là 71,08±40,00 con/m
2
. Tỷ lệ sống trung bình của tôm sú ở vụ 1 đạt
4
57,06±16,82% và vụ 2 là 58,00±17,09%, tôm chân trắng đạt 72,70±14,83% ở vụ 1 và
vụ 2 là 72,70±23,24%. Lợi nhuận mà mô hình nuôi tôm sú mang lại là
110,749±137,651 triệu/ha/năm đạt tỷ suất lợi nhuận là gấp 0.36 lần, tôm thẻ chân
trắng với lợi nhuận là 98,056±139,265 triệu/ha/năm đạt tỷ suất 0,27±0,39 lần.
Nhìn chung, hai mô hình nếu xét về mặt thống kê thì đều mang lại lợi nhuận như
2.3 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở Long An 6
2.3.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản chung của Long An 6
2.3.2 Giới thiệu chung về tỉnh Long An 7
2.4 Đặc điểm sinh học của tôm sú và tôm thẻ chân trắng 11
2.4.1 Tôm sú 11
2.4.2 Tôm thẻ chân trắng 12
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 14
3.2 Phương pháp nghiên cứu 14
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu 14
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 14
Số liệu thứ cấp 14
3.2.3 Số mẫu khảo sát 16
3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 16
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng hiện này ở tỉnh Long An 17
4.1.1 Tình hình nuôi tôm sú 17
4.1.2 Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng 19
4.2 Tình hình chung của nông hộ 19
6
4.2.1 Trình độ văn hóa 19
4.2.2 Lao động 21
4.2.3 Loại hình tổ chức nuôi trồng thủy sản 22
4.2.4 Kinh nghiệm nuôi 22
4.3 Khía cạnh kỹ thuật của các mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng
thâm canh 23
4.3.1 Thiết kế công trình ao nuôi 23
4.3.2 Các thông số kỹ thuật 25
4.3.2.1 Thời điểm thả giống và thời gian thu hoạch 25
Bảng 4.2: Tổng số ngày lao động/vụ của các hộ nuôi tôm (Ngày/vụ) 22
Bảng 4.3: Kinh nghiệm nuôi tôm của nông hộ (năm) 22
Bảng 4.4: Thiết kế công trình ao nuôi của hai mô hình TS và TCT 24
Bảng 4.5: Mật độ thả giống và kích cỡ con giống của mô hình TS và TCT 30
Bảng 4.6: Nguồn con giống được thả của mô hình nuôi TS và TCT thâm canh
30
Bảng 4.7: Đánh giá chất lượng con giống TS và TCT ở vụ 1 và vụ 2 31
Bảng 4.8: Tỷ lệ giữa các loại thức ăn dùng trong nuôi tôm 33
Bảng 4.9: Lượng thức ăn cho ăn ở các vụ (kg/ha/vụ) 34
Bảng 4.10: Tình hình thay nước ở các ao nuôi trong vụ 1 và vụ 2 năm 2008 .35
Bảng 4.11: Phương pháp xử lý nước cấp ở các ao nuôi trong các vụ 35
Bảng 4.12: Phương pháp xử lý nước thải ở các ao nuôi 36
Bảng 4.13: Tình hình thu hoạch của hai mô hình tôm sú và tôm thẻ chân trắng
37
Bảng 4.14 : Các thành phần của chi phí cố định của hai mô hình TS và TCT 39
Bảng 4.15: Cơ cấu chi phí cố định (%) của hai mô hình nuôi TS và TCT 39
Bảng 4.16: Các chi phí biến đổi của hai mô hình TS và TCT 40
Bảng 4.17: Cơ cấu chi phí biến đổi của hai mô hình nuôi TS và TCT 41
Bảng 4.18: Giá bán trung bình của TS và TCT ở hai vụ nuôi 42
Bảng 4.19: Hiệu quả kinh tế của hai mô hình nuôi (triệu/ha/vụ) ở vụ 1 43
Bảng 4.20: Hiệu quả kinh tế của hai mô hình nuôi (triệu/ha/vụ) ở vụ 2 43
Bảng 4.21: Hiệu quả kinh tế của hai mô hình nuôi (triệu/ha/năm) 43
Bảng 4.22: Hình thức tiêu thụ sản phẩm của mô hình TS và TCT. 44
Bảng 4.23: Hình thức phân phối sản phẩm của mô hình nuôi TS và TCT 44
Bảng 4.24 Chi phí, thu nhập và lợi nhuận từ các ngành nghề khác của người
nuôi tôm sú 46
Bảng 4.25: Chi phí, thu nhập và lợi nhuận từ các ngành nghề khác của người
nuôi tôm chân trắng 47
Bảng 4.26: Đánh giá về tầm quan trọng của NTTS của hộ nuôi tôm sú 47
Bảng 4.27: Đánh giá về tầm quan trọng của NTTS của hộ nuôi tôm thẻ chân
9
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HT: Hình thức
LĐ: Lao động
MT: Môi trường
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
TS: Tôm sú
TCT: Thẻ hân trắng
nhiều. Vì vậy, dù mới du nhập vào Việt Nam năm 2000 nhưng nó đã trở thành đối
tượng được người nuôi rất háo hức. Hiện nay, hoạt động nuôi thương phẩm tôm thẻ
chân trắng đang diễn ra ở nhiều địa phương như Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Bạc Liêu, Cà
Mau, Long An…
Thẻ chân trắng đúng là một đối tượng nuôi lý tưởng hiện nay nhưng vì đây là một
đối tượng nuôi còn rất mới, đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Long
An nói riêng mới được cho phép nuôi đầu năm 2008, chưa có một quy trình nuôi tôm
hoàn chỉnh và còn nhiều bất cập hơn nữa đây lại là đối tượng dễ mắc những bệnh
tôm sú, ngoài ra còn mắc hội chứng taura gây dịch bênh lớn và có thể nhiễm sang đối
tượng tôm khác làm thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất thủy sản và môi trường tự
nhiên (Bộ thủy sản, 2004). Hiện nay, do những lợi nhuận trước mắt mà việc nhiều hộ
11
nuôi tự phát, không theo quy hoạch làm cho nỗi lo dịch bệnh tấn công sang tôm sú
càng thêm nặng nề đặc biệt là mức độ thâm canh ngày càng cao, rủi ro càng nhiều.
Do đó, một câu hỏi đặt ra giữa tôm sú và tôm thẻ chân trắng thì loài nào sẽ mang lại
hiệu quả cả về kỹ thuật và kinh tế lâu dài hơn? Vì vậy, để đưa nghề nuôi tôm biển ở
tỉnh Long An phát triển theo hướng lành mạnh, nhanh chóng và bền vững thì cần có
một sự quy hoạch vùng nuôi giữa hai loài hợp lý. Trước yêu cầu trên thì cấp thiết cần
có một sự điều tra, nghiên cứu và so sánh về hiện trạng kỹ thuật các mô hình thâm
canh của hai loài và hiệu quả kinh tế - xã hội mà các mô hình thâm canh đem lại ở
địa phương để làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch, quản lý và làm cho tôm thẻ
chân trắng cùng với tôm sú trở thành một đối tượng nuôi lâu dài ở Long An nói riêng
và Việt Nam nói chung. Chính vì vậy mà đề tài “So sánh một số chỉ tiêu kinh tế -
kỹ thuật của các mô hình nuôi thâm canh tôm sú (Penaeus monodon) và tôm thẻ
chân trắng (Penaeus vannamei) ở tỉnh Long An” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát, đánh giá và so sánh một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của mô
hình nuôi thâm canh tôm sú - tôm thẻ chân trắng nhằm cung cấp thông tin làm cơ sở
cho việc quản lý nghề nuôi trồng thủy sản ven biển ở tỉnh Long An.
thâm canh ngày càng cao. Điều đó đồng nghĩa với rủi ro ngày càng nhiều và khó
khắc phục.
2.1.2 Tôm thẻ chân trắng
Tôm thẻ chân trắng là loài tôm được nuôi phổ biển nhất ở Tây bán cầu. Sản lượng
của loài tôm này chiếm hơn 70% (1992) và có thời kỳ chiếm tới 90% (1998) các loài
tôm he Nam Mỹ. Các nước có sản lượng cao trên thế giới như là Equado, Mêhicô,
Panama, Belize… Nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở các nước này ngày càng phát
triển, sản lượng cũng tăng lên nhanh chóng, chỉ tính riêng Equado, là nước đứng đầu
về sản lượng trên thế giới thì từ năm 1991 đã đạt 103 nghìn tấn đến năm 1998 là 120
nghìn tấn chiếm 70% sản lượng châu Mỹ, năm 1999 đạt 130 nghìn tấn (Bộ Thủy sản,
2004). Tôm thẻ chân trắng chủ yếu được xuất khẩu vào thị trường Mỹ, EU và Nhật
Bản. Nhưng qua năm 2000, nghề nuôi tôm thẻ chân trắng bị tổn thất nặng nề do đại
dịch đốm trắng phát triển. Sản lượng bị thiệt hại rất lớn chỉ còn chiếm 11% tổng sản
lượng tôm trên thế giới. Equado có sản lượng tôm còn khoảng 100 nghìn tấn, Pa-na-
13
ma từ 10 nghìn tấn (1999) xuống còn 7 nghìn tấn. Việc khắc phục hậu quả là khó
khăn và tốn kém. Tuy nhiên, những thành công của các chương trình nghiên cứu tạo
đàn tôm giống sạch bệnh và cải thiện chất lượng duy truyền ở các nước châu Mỹ đã
mở ra hy vọng cho việc duy trì và phát triển nghề nuôi tôm thẻ chân trắng nói riêng
và nghề nuôi tôm biển nói chung ở tất cả các vùng sinh thái trên thế giới (Bộ Thủy
sản, 2004). Ngoài các nước Nam Mỹ, tôm thẻ chân trắng cũng được nuôi ở Đông Á
và Đông Nam Á như Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Malayxia, Thái Lan… và
cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Năm 2004, Trung Quốc đạt sản lượng 700.000
tấn, Thái Lan 400.000 tấn và Indônêxia là 300.000 tấn (FAO, 2006). Mô hình nuôi
chủ yếu của tôm thẻ chân trắng là bán thâm canh và thâm canh với mật độ rất cao.
Hiện nay, tôm thẻ chân trắng đang là đối tượng được người tiêu dùng ưa chuộng do
giá cả rẻ hơn, màu thịt trắng hơn tôm sú đồng thời trước tình hình khó khăn của tôm
sú nên ngày càng có nhiều khu vực nuôi tôm sú chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng
nên diện tích tôm thẻ chân trắng đang có xu hướng tăng lên.
xã hoặc công ty. Việt Nam đã trở thành một trong những nước đứng đầu về sản
lượng tôm sú trên thế giới. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây do phong trào nuôi tôm tự
phát, thiếu định hướng thì nghề nuôi tôm sú đang gặp rất nhiều khó khăn về dịch
bệnh và thị trường nên diện tích nuôi đang có xu hướng bị thu hẹp.
2.2.2 Tôm thẻ chân trắng
Tôm thẻ chân trắng là một đối tượng nuôi rất mới ở Việt Nam. Tôm thẻ chân trắng
được nhập lần đầu tiên vào nước ta năm 2000 và được nuôi năm 2001 bởi công ty
Duyên Hải – Bạc Liêu. Tuy nhiên, do đây là đối tượng nuôi mới và trước những diễn
biến dịch bệnh tôm thẻ chân trắng trên thế giới nên việc nuôi đối tượng này chỉ mang
tính chất thử nghiệm ở một số địa phương như Bạc Liêu (Công ty Duyên Hải – Bạc
Liêu – 4/2001), Khánh Hòa (Công ty trách nhiệm hữu hạn Long Sinh – 3/2001), Phú
Yên (Công ty TNHH quốc tế Asia Hawai Ventues – 2002).
Năm 2004, Bộ Thủy sản ra chỉ thị số 01/2004/CT-BTS, ngày 16/1/2004 về việc tăng
cường quản lý tôm chân trắng ở Việt Nam, trong đó nói rõ: “Không tiến hành sản
xuất tôm chân trắng tại các trại sản xuất tôm sú và giống tôm khác; chỉ được phép
nuôi tôm chân trắng tại các khu vực ao, đầm nuôi có sự tách biệt nhằm đảm bảo
không lây lan dịch bệnh cho các đối tương nuôi khác…”; Theo Thứ trưởng Nguyễn
Việt Thắng (2005) “…phát triển tôm chân trắng phải theo quy hoạch, phải có biện
pháp đảm bảo an toàn sinh học” .
Năm 2006 do lo ngại về dịch bệnh của tôm thẻ chân trắng như hội chứng taura có thể
lây nhiễm sang tôm sú và các loài tôm khác, ảnh hưởng tới nghề nuôi tôm sú như ở
các nước Thái Lan, Trung Quốc đã gặp phải nên để đảm bảo tính phát triển bền vững
của nghề nuôi tôm sú, Bộ Thuỷ sản đã ra công văn số 475/TS-NTTS ngày 6/3/2006
không cho các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành
phố Hồ Chí Minh được sản xuất và nuôi tôm thẻ chân trắng nhưng để sử dụng hợp lý
và có hiệu quả môi trường vùng nước nuôi tôm, góp phần đa dạng hoá tôm nuôi
nước lợ đồng thời đảm bảo an ninh sinh thái, bền vững môi trường nên các tỉnh từ
Quảng Ninh đến Bình Thuận có thể đưa tôm thẻ chân trắng vào nuôi bổ sung dưới sự
quản lý chặt chẽ.
Năm 2008, trước tình hình tôm thẻ chân trắng đã và đang phát triển theo hướng tốt,
3
bè nuôi. Tổng sản lượng thu hoạch cá các loại trên 20.000 tấn, tôm
càng xanh với sản lượng trên 420 tấn. Năm 2007, tổng diện tích nuôi là 16.457 hecta
đạt 100,3% so kế hoạch và bằng 98,2% so với năm 2006, trong đó cá ao 3.550 hecta,
cá lồng bè 4.700 m
3
, tôm càng xanh 300 hecta, cua lột 75 hecta, cá ruộng 2.900
hecta. Tổng sản lượng nuôi là 27.588 tấn đạt 88,7% so với kế hoạch và bằng 97,1%
so với năm 2006, trong đó cá ao 15.620 tấn, cá lồng bè 950 tấn, tôm càng xanh 225
tấn, cua lột 390 tấn, cá ruộng 4.800 tấn.
Nhìn chung, phong trào nuôi trồng thủy sản cả 2 vùng phía nam và phía bắc của tỉnh
đang có xu hướng phát triển mạnh. Đặc biệt trong đợt dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn-
xoắn lá nhiều hộ nông dân Cần Đước, Cần Giuộc, Thị xã Tân An chuyển sang nuôi
cá trên ruộng để tránh thiệt hại. Rõ ràng, tuy phong trào nuôi thủy sản còn mang tính
tự phát nhưng là một hướng tích cực nhằm khai thác mặt nước ruộng, quảng canh
cây lúa, giảm bớt rủi ro thiệt hại nếu cứ nối vụ lúa liên tục.
2.3.2 Giới thiệu chung về tỉnh Long An
Vị trí địa lý
Tỉnh Long An là cửa ngõ của Đồng bằng sông Cửu Long, nối liền giữa Đông Nam
Bộ và Tây Nam Bộ. Long An phía Đông giáp với thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh;
phía Bắc giáp Campuchia, giáp với Đồng Tháp về phía Tây và phía Nam giáp tỉnh
Tiền Giang.
16
Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 4.491,221 km
2
, chiếm tỷ lệ 1,3% so với diện tích
cả nước và bằng 8,74% diện tích của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Địa hình đơn giản, bằng phẳng nhưng có xu thế thấp dâng từ phía Bắc – Đông Bắc
xuống Nam – Tây Nam và bị chia cắt bởi hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ
Tây.
Địa chất – thổ nhưỡng: bao gồm nhiều nhóm đất chính sau:
- Nhóm đất phù sa cổ: phân bổ ở hai địa hình cao 2 - 6 m so với mặt biển, bao gồm
các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa và Vĩnh Hưng. Do địa hình cao thấp
khác nhau nên chịu tác động của quá trình rửa trôi và xói mòn
17
- Nhóm đất phù sa ngọt: đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, phân bổ chủ yếu ở các
huyện, thị như Tân Thạnh, thị xã Tân An, Tân Trụ, Cần Đước, Châu Thành, Bến
Lức, Mộc Hóa.
- Nhóm đất phù sa nhiễm mặn: phân bố ở các huyện Cần Đước, Cần Giuộc, Châu
Thành, Tân Trụ. Đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, thường bị nhiễm mặn trong
mùa khô.
- Nhóm đất phèn: phần lớn nằm trong vùng Đồng Tháp Mười và kẹp giữa 2 dòng
sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây. Đất giàu chất hữu cơ, nồng độ độc tố trong đất
cao, đất mất cân đối nghiêm trọng NPK.
- Nhóm đất phèn nhiễm mặn: phần lớn phân bổ trong vùng hạ tỉnh Long An và bị
nhiễm mặn trong mùa khô.
- Nhóm đất than bùn: phân bổ ở phía Nam huyện Đức Huệ, giáp với huyện Thạnh
Hóa.
Thủy triều
Long An chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông qua cửa
sông Soài Rạp. Thời gian 1 ngày triều là 24 giờ 50 phút, một chu kỳ triều là 13-14
ngày. Vùng chịu ảnh hưởng của triều nhiều nhất là các huyện phía Nam quốc lộ 1A,
đây là nơi ảnh hưởng mặn từ 4 - 6 tháng trong năm.
Triều biển Đông tại cửa sông Soài Rạp có biên độ lớn từ 3,5 - 3,9 m, đã xâm nhập
vào sâu trong nội địa với cường độ triều mạnh nhất là mùa khô khi nước bổ sung đầu
nguồn cho 2 sông Vàm Cỏ rất ít. Biên độ triều cực đại trong tháng từ 217 - 235 cm
và thời gian dài hơn. Nguyên nhân là do hoạt động mạnh của triều, gió chướng,
lượng nước thượng nguồn ít nhất là khai thác nước mặt quá nhiều trong mùa khô.
Trước đây, sông Vàm Cỏ Tây mặn thường xâm nhập trên Tuyên Nhơn khoảng 5 km,
kể từ năm 1993 đến nay đã lên đến Vĩnh Hưng. Mặn xâm nhập bắt đầu từ tháng 1
đến tháng 6 với mức 2 – 4 gam/lít. Sông Vàm Cỏ Đông do ảnh hưởng của hồ Dầu
Tiếng độ mặn giảm dần.
Ngoài ra, do trái đất có xu hướng nóng dần lên, tạo điều kiện cho mặt nước biển nâng
dần lên, đẩy quá trình xâm nhập mặn sâu vào nội địa.
Việc xâm nhập mặn đã làm biến đổi hệ sinh thái vùng vốn ổn định nhiều năm trước
đây và kết quả là ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Để hạn chế quá
trình này cần tránh khai thác quá mức trong mùa khô và đầu tư các công trình thủy
lợi cần tính toán tác động của xâm nhập mặn ảnh hưởng đến hệ sinh thái chung.
Môi trương sinh thái
Môi trường tự nhiên là tài nguyên quý giá cho mọi hoạt động của đời sống sinh vật.
Do đó, việc khai thác và bảo vệ môi trường tự nhiên hợp lý sẽ giúp cho xã hội phát
triển ổn định và bền vững. Trong quá trình đô thị hóa, thâm canh nông nghiệp… tình
trạng ô nhiễm môi trường có chiều hướng ngày càng phổ biến và nghiêm trọng làm
cho chất lượng môi trường ngày càng suy giảm.
Về chất lượng nguồn nước: trên các lưu vực sông – kênh thì hàm lượng nitrat,
chất hữu cơ, nồng độ dư lượng thuốc, vi sinh vật… đạt chuẩn cho phép. Cần
Giuộc trong nhiều năm qua nhận nước thải từ thành phố Hồ Chí Minh nên mức ô
nhiễm rất cao
Về môi trường đất: qua kết quả phân tích mẫu, nồng độ chất độc hại như Cu, Pb,
Cd…có trong bùn và đất tương đối thấp và nằm trong giới hạn cho phép.
19
Về sinh vật: với đặc thù tự nhiên gồm nhiều hệ sinh thái đất ngập nước: nước lợ,
nước mặn, nước ngọt, nhiễm phèn nguồn tài nguyên sinh vật của tỉnh được đánh
giá rất phong phú và đa dạng. Trong những năm qua dưới tác động của con người,
các thành tựu trong việc khai thác, sử dụng phục vụ cho sản xuất đã đem lại nhiều
sống ở cửa sông hay rừng ngập mặn, độ sâu 2 – 90 m, độ mặn 3 - 45
0
/
00
,
pH: 7,5 –
8,5, t
0
= 25 – 30
0
C.
Dinh dưỡng: là loài ăn tạp, ăn đáy thiên về động vật. Thức ăn của tôm bao gồm giáp
xác, các mảnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ, côn trùng… (Phạm Văn Tình, 2003;
Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004). Tôm sú có nhu cầu đạm rất cao
(45% - 40%) nên thức ăn thường có giá cao hơn các loại thức ăn của các loại tôm
khác. Tôm thường ăn vào ban đêm (2/3 khẩu phần ăn của ngày) và ăn lẫn nhau đặc
biệt là khi nguồn thức ăn bị thiếu. Vào những tháng cuối của thu hoạch thì nên cho
tôm ăn thêm những loại thức ăn tươi sống như mực, nhuyễn thể… để tôm chắc thịt
và và có độ bóng nhất định. Khi tôm lột xác thì giảm ăn.
Tốc độ tăng trưởng: nhanh, đạt 21 – 33 gam trong 80 – 225 ngày.
Vòng đời: ấu trùng (6 giai đoạn Nauplius, 3 giai đoạn Protozoa và 3 giai đoạn Mysis)
– hậu ấu trùng - ấu niên – trưởng thành. Thời kỳ ấu trùng tôm sống ở cửa sông sau đó
thì di cư ra vùng biển.
Lột xác và sự tăng trưởng: Tôm sú thuộc giống tôm he nên cần có sự lột xác để tăng
trưởng. Sau khi lột xác, trọng lượng cơ thể và kích thước tăng lên nhất định. Tiến
trình lột xác của tôm trải qua các giai đoạn: tiền lột xác – lột xác – hậu lột xác. Chu
kỳ lột xác của tôm con sẽ nhanh hơn tôm trưởng thành (Nguyễn Khắc Hường, 2003).
Chu kỳ lột xác ở giai đoạn tôm con thường là 1 ngày ở giai đoạn hậu ấu trùng và khi
tôm càng lớn thường là 14 – 16 ngày lột xác 1 lần khi tôm đạt 25 gam trở lên (Phạm
Văn Tình, 2003). Tôm lột xác tốt khi có thức ăn đầy đủ, đều đặn để cung cấp các
Đặc điểm sinh học
Tập tính sinh sống: Tôm thẻ chân trắng là loài sống đáy bùn, độ sâu khoảng 0 - 72 m.
Đây là loài rất rộng muối, tôm có thể sống được là 5 – 50
0
/
00
, nhưng thích hợp ở độ
mặn 28 - 34
0
/
00
, pH = 7,7 – 8,3, t
0
= 25 – 32
0
C.
Dinh dưỡng: là loài ăn tạp (Thái Bá Hồ, Ngô Trọng Lư, 2003; Bộ Thủy Sản, 2004),
ăn cả thực vật và động vật ở các dạng phiêu sinh, ăn chất hữu cơ…Đối với thức ăn
công nghiệp thì cần độ đạm tương tối thấp khoảng 35% nên giá thức ăn thường thấp
hơn tôm sú. Tốc độ sinh trưởng nhanh: sau 180 ngày thả tôm bột chúng có thể đạt 40
g/con.
Vòng đời: ấu trùng (6 giai đoạn Nauplius, 3 giai đoạn Protozoa và 3 giai đoạn Mysis)
– hậu ấu trùng - ấu niên – trưởng thành. Thời kỳ ấu trùng tôm sống ở cửa sông sau đó
thì di cư ra vùng ven biển gần bờ.
Lột xác: cũng giống như tôm sú thì tôm thẻ chân trắng cũng cần lột lớp vỏ cũ để tăng
trưởng.
Sinh sản: 10 tháng tuổi thì tôm đạt tuổi thành thục (Nguyễn Khắc Hường, 2003).
Tôm thẻ chân trắng là loài có thelycum hở. Quá trình sinh sản tuân theo thứ tự: lột
xác – thành thục – giao vĩ – đẻ trứng. Tôm trưởng thành di cư ra vùng biển có độ
mặn cao để sinh sản.
Số liệu sơ cấp
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi tôm sú và
tôm thẻ chân trắng thâm canh thông qua bảng phỏng vấn soạn sẵn (phương pháp
định ngạch theo địa bàn nghiên cứu). Các nhóm biến chính thu thập số liệu sơ cấp
THÔNG TIN CHUNG VỀ NÔNG HỘ
KHÍA CẠNH KỸ THUẬT
23
Kết cấu mô hình NTTS
Tổng diện tích mặt nước nuôi (m
2
)
Tên loài nuôi (ghi tên loài)
Thời điểm thả giống (tháng ……)
Thời điểm thu hoạch (tháng ……)
Quản lý ao
Số lần sên vét (lần/năm)
Chế độ thay nước (số lần/số ngày)
Mật độ thả (con/m
2
)
Kích cỡ con giống thả loài 1 (g/con)
Tổng lượng thức ăn sử dụng (KG)
Thu hoạch
Phương pháp thu
canh cải tiến, số hộ nuôi theo hình thức thâm canh ít đồng thời do khó khăn về
chi phí, thời gian, địa bàn và đặc biệt là phương tiện đi lại nên số mẫu thu
được là 19 mẫu. Còn tôm sú thâm canh thu đúng với kế hoạch đề ra là 33 mẫu.
Tổng số mẫu thu được là 52 mẫu.
3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- So sánh thống kê các chỉ tiêu
+ Kỹ thuật nuôi:
o Mật độ thả
o Năng suất
o FCR
o Kích cỡ giống và thu hoạch
o Thời gian nuôi
o Tỷ lệ sống
+ Kinh tế:
o Chi phí cố định
o Chi phí biến đổi
o Lợi nhuận
o Lợi nhuận trên chi phí
Số liệu thu được sẽ được kiểm tra, bổ sung và mã hoá trước khi nhập vào máy
tính. Số liệu được thống kê mô tả và so sánh thống kê. Phần mềm Excell for
Windows để nhập số liệu, xử lý thống kê và tính các giá trị trung bình, độ lệch
chuẩn, giá trị tối đa và tối thiểu… và SPSS để so sánh thống kê một số chỉ tiêu kinh
tế và kỹ thuật giữa hai mô hình. Văn bản báo cáo được thực hiện trên Microsoft
word.
25
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng hiện này ở tỉnh Long An
4.1.1 Tình hình nuôi tôm sú