The Journal of Environment & Development
Volume 17 Number 4, December 2008 343-355
© 2008 Sage Publications
10.1177/1070496508326432
hosted at
Cách tiếp cận từ dưới lên
về chính sách biến đổi khí hậu địa phương và vùng
(From the Bottom Up
Local and Subnational Climate Change Politics)
Miranda A. Schreurs
Đại học Tự do Beclin (Free University of Berlin)
Bài viết này giới thiệu một vấn đề đặc biệt liên quan đến các chính sách biến đổi
khí hậu toàn cầu, vùng trong phạm vi quốc gia (trong trường hợp của Liên minh châu Âu
là trong hoặc ngoài quốc gia). Trong khi nhận biết những hạn chế mà các chính quyền địa
phương phải đối mặt, bài viết cũng thảo luận về tầm quan trọng của việc tập trung sự chú
ý đến các chính sách và chương trình khí hậu của chính quyền cấp tỉnh, thủ đô và chính
quyền các địa phương nơi mà các chính sách và chương trình về biến đổi khí hậu được
thực thi. Bốn trường hợp được nghiên cứu điển hình, bao gồm: California trong phạm vi
nước Mỹ, CHLB Đức trong phạm vi Liên minh châu Âu, tỉnh và thủ đô (Tokyo và
Kyoto) trong phạm vi nước Nhật, tỉnh và huyện trong phạm vi Trung Quốc. Bài viết cũng
tập trung vào thảo luận về một số lính vực như tại sao chính quyền địa phương lại được
chọn để ban hành các chương trình hành động, các cách chính quyền địa phương có thể
ảnh hưởng đến các chính sách của Nhà nước, vai trò của các mạng lưới quốc tế trong việc
phổ biến các ý tưởng chính sách đối với chính quyền địa phương và những trở ngại gây
cản trở sự thay đổi ở các cấp địa phương.
Từ khoá: Chính quyền địa phương; Biến đổi khí hậu; California; Đức; Trung Quốc, Nhật
gia khi nằm trong EU, nhưng cũng có thể được coi là trên cấp quốc gia vì có liên quan
đến các nước khác vượt quá phạm vi của một quốc gia. Ngày càng có nhiều nhiều học giả
nghiên cứu cho thấy trên thực tế ở cấp liên bang của nước Mỹ đã chậm hơn Liên minh
châu Âu và Nhật Bản trong việc đề ra các chính sách và mục tiêu về biến đổi khí hậu. So
sánh ở cấp bang và địa phương cũng chỉ rõ sự chậm trễ tương tự như vậy ở các nước châu
Âu, Nhật Bản và Mỹ (Schreurs, Selin, & VanDeveer).
California, Oregon, Washington, New England và một số các bang khác của Mỹ;
Tokyo và Kyoto (Nhật), tương tự như ở các nước Đức, Anh, Hà Lan, Thụy Điển và Đan
Mạch đã đi tiên phong trong nghiên cứu chương trình sử dụng hiệu quả năng lượng, xây
dựng các chính sách sử dụng năng lượng tái tạo và mục tiêu giảm thiểu biến đổi khí hậu.
Trong giai đoạn 1990-2004, California đã duy trì mức tăng phát thải khí CO
2
là 8% mặc
dù dân số có mức tăng cao hơn trong cùng thời gian đó. New York giữ mức phát thải
tăng 3% và Pennsylvania ở mức 5%. Mặc dù bức tranh này còn rất khiêm tốn so với kỳ
vọng giảm thiểu phát thải khí nhà kính ở Đức, Anh, Thụy Điển tương ứng là 18,7%;
15,7% và 7,4% trong thời gian 1990-2005. Tuy nhiên mục tiêu này cũng còn tốt hơn xu
hướng phát thải khí CO
2
ở Italia (tăng 12%), Áo (tăng 18%) và Na Uy (tăng 8%). Một số
nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp hay North Carolina, Missouri và Arizona
đang gặp khó khăn trong việc giảm thiểu phát thải khí nhà kính hơn là họ làm các nhà
lãnh đạo trong châu Âu. Theo tổ chức môi trường Châu Âu (European Environment
Agency, 2007), trong thời gian 1990-2005 Tây ban Nha đã tăng lượng phát thải CO
2
52,3%, Bồ Đào Nha tăng 40,4% và Hy Lạp tăng 25,4% mặc dù các nước này có lượng
phát thải bình quân trên đầu người tương đối thấp so với các nước khác trong vùng.
Tương tự như vậy, trong thời gian 1990-2004, Arizona đã tăng lượng phát thải khí nhà
kính 54%, Florida tăng 37%, North California tăng 36% (Environment California
cho những nghiên cứu so sánh về trường hợp của Đức và California được thực hiện bới
các tác giả Helmut Weidner, Lutz Mez, Daniel Mazmanian, John Jurewitz, và Hal Nelson
trở nên đặc biệt hấp dẫn. Cả California và Đức đều có vai trò quan trọng đối với việc xây
dựng các chương trình hành động và các chính sách về biến đổi khí hậu và đều có sự xem
xét tham khảo quá trình xây dựng chính sách của nhau.
Khác với Đức hay California, Nhật Bản có một hệ thống nhất thể của Chính phủ,
nghĩa là việc xây dựng các chính sách thuộc về Chính phủ ở Tokyo (Nagata-cho, Tokyo).
Noriko Sugiyama và Tsuneo Takeuchi đã bày tỏ sự không tán đồng với thể chế này vì
cho rằng chính quyền địa phương mới là cơ sở thực thi các các chính sách được đưa ra
bởi các cơ quan Trung ương. Mặc dù cũng có trường hợp chính quyền địa phương không
thực hiện các chính sách môi trường khi Chính phủ trung ương trực tiếp chỉ đạo. Tuy
nhiên trên thực tế, với truyền thống và kinh nghiệm lâu đời các chính quyền địa phương
cũng đã hành động làm đổi mới chính sách môi trường ở Nhật Bản. Ví dụ như trường
hợp của Tokyo và Kyoto, họ đã đưa ra một chương trình biến đổi khí hậu tiến bộ vượt xa
hơn chương trình của quốc gia. Rõ ràng, ý nghĩa của vấn đề này đã cho thấy vai trò
những nhà lãnh đạo khí hậu với các sáng kiến địa phương đã được đề cao hơn như vai trò
của bang California trong phạm vi nước Mỹ, nước Đức trong phạm vi Liên minh châu
Âu, Tokyo và Kyoto trong phạm vi nước Nhật.
Rất khó để so sánh trực tiếp trường hợp của Trung Quốc với California, Đức,
Tokyo và Kyoto. Tuy nhiên đây sẽ là lý do cho việc phân tích cụ thể hơn về chính sách
biến đổi khí hậu được xây dựng tại các địa phương ở Trung Quốc. Do có quy mô lớn và
sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, Trung Quốc đang trở thành nước phát thải khí CO
2
lớn nhất thế giới và được đặc biệt chú ý trong nghiên cứu. Theo Qi Ye, Ma Li, Zang
Huanbo và Li Huimin, chính sách biến đổi khí hậu ở Trung Quốc phần lớn được quyết
định bởi Đảng Cộng sản Trung Quốc và chính quyền Nhà nước ở Bắc Kinh. Tuy nhiên
3
trong thời gian gần đây đã có sự thay đổi lớn về các hành động làm giảm thiểu biến đổi
trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Năm 1947, Los Angeles là nơi đầu tiên ở Mỹ thành lập
vùng kiểm soát ô nhiễm không khí. Năm 1959, Phòng y tế cộng đồng bang California đã
lần đầu tiên thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí cho xe có động cơ
với các chỉ số về bụi tổng số, các chất quang oxy hóa, SO
2
, NO
2
và CO. Năm 1966,
California một lần nữa đi trước Chính phủ Liên bang trong việc giới thiệu các tiêu chuẩn
khí thải ở ống xả của xe cơ giới với các chỉ số về hydrocarbon và CO (California
Environmental Protection Agency, Air Resources Board, 2008).
Ở Nhật Bản, Chính quyền thủ đô Tokyo đã đi trước Chính phủ trong việc thiết
lập nhiều chính sách kiểm soát ô nhiễm. Ví dụ như các quy định về ngăn ngừa và kiểm
soát ô nhiễm các nhà máy (1949), tiếng ồn (1954), khói và muội (1955). Đặc biệt vào
năm 1969, sắc lệnh kiểm soát ô nhiễm môi trường thủ đô Tokyo đã được thông qua dưới
sự lãnh đạo của Thị trưởng Ryoukichi Minobe. Sắc lệnh này nhấn mạnh rằng mọi người
đều có quyền được sống trong môi trường trong sạch và an toàn; bảo vệ môi trường
không có vị trí thứ hai so với tăng trưởng kinh tế. Sắc lệnh cũng thiết lập các hình phạt
cho các trường hợp vi phạm. Chính phủ Nhật Bản cũng đã nhiều lần đề cao vai trò đi đầu
4
của Chính quyền Tokyo (Barrett & Therivel, 1990, p. 75; Reed, 1986, p. 19; 49-50;
Schreurs, 2002, p. 41).
Thực ra, sự quan tâm chú ý của chính quyền địa phương xây dựng chính sách môi
trường không phải là một vấn đề mới. Thành phố Freiburg của Đức, nơi chịu ảnh hưởng
mạnh bởi Đảng Xanh (Green Party, đã nhận được gần 25% phiếu bầu vào năm 2002) đã
nổi tiếng thế giới như là một trong những thành phố thân thiện sinh thái nhất trên thế giới
(Cliffe, 2005). Thành phố đã từ chối nguồn năng lượng điện hạt nhân trong thập niên
1970 và tự tìm cách để cân bằng năng lượng tiêu thụ. Thành phố đã dẫn đầu nước Đức
trong việc sử dụng các năng lượng tái tạo, khuyến khích sử dụng các phương tiện giao
phương cho một tương lai bền vững với sự tham gia của hơn 200 địa phương từ 43 quốc
gia. Hiện nay ICLEI đã liên kết với hơn 900 chính quyền địa phương có một lợi ích
chung trong việc xây dựng năng lực phát triển bền vững thông qua việc chia sẻ kiến thức,
đào tạo và các chương trình liên kết khác. ICLEI đã phát triển Chương trình bảo vệ khí
hậu nhằm trợ giúp các thành phố xây dựng chính sách thích ứng và thực hiện các biện
pháp kiểm soát chất lượng nhằm giảm lượng phát thải khí nhà kính và các chất ô nhiễm
không khí. Quá trình này được vận hành thông qua việc thực thi chương trình năm điểm
5
bao gồm: xây dựng cơ sở kiểm kê và dự báo phát thải, thiết lập một hệ thông tiêu chuẩn
hữu ích, lựa chọn mục tiêu giảm thiểu sự phát thải, phát triển kế hoạch hành động địa
phương để đáp ứng các mục tiêu, thực hiện chính sách giám sát và thẩm định kết quả.
Các chương trình này đang được thực hiện tại Mỹ, Nhật Bản, Mexico, Mỹ Latin, châu
Âu, Úc, New Zealand, Nam Phi, Nam Á và Đông Nam Á
(
Một ví dụ khác là sáng kiến khí hậu Clinton (CCI). CCI được sáng lập vào năm
2006 bởi quỹ William Clinton (William J. Clinton Foundation). CCI đã đạt được những
thỏa thuận từ các nhà sản xuất về các sản phẩm hiệu quả năng lượng, giảm giá thành các
thiết bị, lắp đặt các thiết bị tiết kiệm năng lượng trong các tòa nhà ở thành phố. Chương
trình đã được thực hiện có hiệu quả ở trường American Colleges, và University of
Presidents Climate Commitment thông qua việc lắp đặt các thiết bị có hiệu quả sử dụng
năng lượng cao trong các tòa nhà ở các khu vực trường học
( Hơn thế nữa, CCI cũng có mối quan hệ
đối tác với nhóm các nhà lãnh đạo khí hậu của C40 (40 thành phố lớn nhất thế giới ở
nhiều nước khác nhau, ví dụ như Chicago, Houston, Los Angeles, New York,
Philadelphia, Berlin, Tokyo, Thượng Hải, Bắc Kinh), đã cam kết tăng cường nỗ lực để
giảm bớt lượng khí thải làm nóng lên khí hậu toàn cầu. Ngoài ra, tính tới tháng 9 năm
2008 đã có thêm 13 thành phố đăng ký là hội viên, bao gồm Austin, New Orleans,
Portland, Salt Lake City, San Francisco, Seattle, Heidelberg. Hội nghị thượng đỉnh khí
hậu các thành phố lớn C40 đã được tổ chức tại Luân Đôn theo lời mời của thị trưởng
kết quả thúc đẩy xây dựng các chương trình, mục tiêu, quy chế, xây dựng các cơ quan
trong khắp cả nước.
Ở cấp thành phố, Hội nghị các Thị trưởng của Mỹ để thỏa thuận về bảo vệ khí hậu
họp tháng 7 năm 2008 đã thu thập tới 850 chữ ký. Các thành phố tham dự đã đồng ý thực
hiện mục tiêu Nghị định thư Kyoto về giảm thiểu sự phát thải khí nhà kính. Bao gồm các
chính sách ngăn chặn sự tăng phát thải, khuyến khích phương tiện giao thông thay thế,
theo đuổi năng lượng sạch và các thiết bị sử dụng năng lượng hiệu quả… Hơn nữa, họ
cũng đã đồng ý hối thúc chính phủ liên bang và các bang áp dụng hệ thống thương mại
khí thải ( agreement.htm). Nhiều bang đã soạn
thảo pháp luật về biến đổi khí hậu. Ví dụ như bang Connecticut (Substitute Bill No. 595,
2004) đã thông qua luật với mục tiêu ổn định mức phát thải khí nhà kính ở mức năm
1990 vào năm 2010 và giảm 10% mức năm 1990 vào năm 2020. Bang Maine đã thông
qua các mục tiêu phát thải khí xuống tương đương năm 2003 (Act to Provide Leadership
in Addressing the Threat of Climate Change, 2003).
Ở cấp vùng, khoảng một nửa trong 50 bang đã tham gia công ước thương mại về
khí thải và biến đổi khí hậu. Tháng 4 năm 2003, Thống đốc bang New York (George
Pataki) đã khởi xướng ý tưởng về chương trình thương mại vùng kéo dài từ Maine đến
Maryland. Cuối năm 2005, một thỏa thuận thực thi các sáng kiến về khí nhà kính trong
vùng đã được hình thành. Các thành viên tham gia thỏa thuận này bao gồm 10 bang:
Connecticut, Delaware, Maine, Maryland, Massachusetts, New Hampshire, New Jersey,
New York, Rhode Island, Vermont. Ngoài ra còn có các Quận Columbia, Pennsylvania,
Ontario, Quebec và các tỉnh miền Đông Canada và New Brunswick tham gia như là quan
sát viên của quá trình này. Ý tưởng của khu vực thương mại đã trợ giúp các bang đáp ứng
mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính đã đề ra ( Các sáng
kiến vùng khác cũng bắt đầu hình thành, bao gồm hiệp định về giảm thiểu phát thải khí
nhà kính vùng Trung-Tây (Midwestern Region), an ninh năng lượng và nền quản lý khí
hậu cho vùng Trung-Tây, sáng kiến khí hậu miền Tây, sáng kiến năng lượng sạch và đa
dạng của các nhà quản lý miền Tây (Pew Center on Global Climate Change, n.d).
Những xu hướng này chắc chắn có đóng góp ít nhất cũng là một phần làm phá sản
chính sách của Chính phủ Liên bang ở Washington D.C. dưới chính quyền của Tổng
tháng 2 năm 2007, Thượng nghị sỹ Thống đốc bang Arnold Schwarzenegger đã lưu ý đến
vai trò quan trọng của các sáng kiến địa phương trong bối cánh chính trị của Mỹ: Với sự
cố gắng của chính quyền bang, giải pháp hành động cho sự nóng lên khí hậu toàn cầu của
California, tiêu chuẩn nhiên liệu các bon thấp và hiệp định 5 bang nhằm vào sự phát thải
cácbon không chỉ tạo nên sự khác biệt trong cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu toàn
cầu mà còn trình diễn sự ủng hộ mạnh mẽ của công chúng cho các hành động có khả
năng tồn tại trong cả nước. Sự cố gằng này gửi một thông điệp mạnh mẽ đến chính phủ
liên bang và toàn thế giới, chúng giúp đất nước nhận ra điều gì cần phải làm để đương
đầu với cuộc khủng hoảng khí hậu và tìm các giải pháp chính trị cho vấn đề này. Hưởng
ứng sự phát triển như vậy, chính quyền địa phương ở các phần khác nhau trên thế giới đã
bắt đầu hình thành các kế hoạch hành động khí hậu riêng của họ. Năm 2003, thành phố
Kyoto đã ra tuyên bố nhằm làm ngừng sự nóng lên toàn cầu: Kyoto, thành phố mà Nghị
định thư Kyoto đã được ra đời sẽ hành động để ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu, sẽ cống
hiến và trợ giúp cho những nỗ lực ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu. Một năm sau đó,
thành phố Kyoto đã trở thành phố tự trị đầu tiên của Nhật Bản ban hành sắc lệnh về biện
pháp đối phó sự nóng lên của khí hậu toàn cầu, bao gồm cả mục tiêu giảm thiểu đáng kể
sự phát thải khí nhà kính. Thị trưởng thành phố Kyoto, Ngài Matsumoto đã đi đầu trong
việc khởi xướng tổ chức Hội đồng Thị trưởng trên thế giới về biến đổi khí hậu tại
Montreal tháng 12 năm 2005.
Mong muốn được xem như một nhà lãnh đạo có những quyền hạn riêng, chính
quyền thủ đô Tokyo đã thành lập một dự án 10 năm Tokyo không có cacbon vào tháng 6
năm 2007. Kế hoạch này kêu gọi giảm lượng phát thải khí nhà kính ở Tokyo 25% so với
mức phát thải năm 2000 vào năm 2020. Bản kế hoạch cũng lưu ý rằng, mặc dù lượng
phát thải khí CO
2
trên đầu người ở Tokyo đang ở mức thấp hơn 20% đến 30% so với
New York và London, và mặc dù Tokyo là một thành phố sử dụng năng lượng có hiệu
quả hơn so với các thành phố lớn khác trên thế giới. Đây là điều cơ bản để thành phố có
thể đảo ngược xu hướng tăng lượng phát thải CO
2
Đã có nhiều cố gắng của quốc tế tập trung vào việc xây dựng năng lực và cải
thiện môi trường tại các thành phố của Trung Quốc. Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ các
chương trình trợ giúp quản lý năng lượng. Chương trình năng lượng thay thế và bền vững
châu Á đã giúp Thượng Hải phát triển một sơ đồ hệ thống điện xanh, cho phép người tiêu
dùng tự nguyện mua điện từ các nguồn năng lượng tái tạo. Chính phủ Nhật Bản, trong
một phần kế hoạch phát triển mô hình thành phố môi trường Trung Quốc-Nhật Bản năm
1997, đã cung cấp cho ba thành phố Quý Dương, Đại Liên và Trùng Khánh (Guiyang,
Dalian and Chongqing) về kỹ thuật và tài chính để kiểm soát ô nhiễm không khí và mưa
axit. Sự trợ giúp nước ngoài của Nhật Bản cũng tạo điều kiện hỗ trợ các hoạt động trồng
rừng và làm xanh lại đất nước Trung Quốc.
Một cách nhìn so sánh
Các nghiên cứu điển hình được đề cấp đến sau đây nhằm chỉ ra một số phát hiện
quan trọng cần được nghiên cứu thêm trong khung cảnh các địa phương ở phạm vi dưới
cấp quốc gia. Thứ nhất là cấp chính quyền địa phương thường quan tâm đến sự phát triển
một cách độc lập với chính sách về biến đổi khí hậu (hoặc hiệu quả năng lượng và các
chính sách năng lượng tái tạo). Hiện nay đã có sự phổ biến nhanh chóng và rộng rãi các
sáng kiến địa phương, kể cả trường hợp được học hỏi từ những địa phương khác nhờ
những nỗ lực của mạng lưới quốc tế và các chương trình hợp tác song phương.
Một mẫu hình khác là mặc dù theo quan niệm truyền thống được chấp nhận rộng
rãi là các quy định về môi trường sẽ hạn chế sự tăng trưởng kinh tế, nhiều bang vẫn lựa
chọn ưu tiên phát triển các chính sách khí hậu đầy tham vọng một cách cẩn thận để đạt
được những lợi thế trên thị trường của các nhà lãnh đạo (Jänicke & Jacob, 2004). Điều
này đã được áp dụng ở Đức, California, Tokyo và Kyoto.
Thứ ba là tầm quan trọng của lãnh đạo, các hành động tiên phong của chính
quyền địa phương nhằm hướng tới những quyền quyết định ưu tiên cho biến đổi khí hậu.
9
Ví dụ như Thủ tướng Angela Merkel ở Đức, Thị trưởng Shintaro Ishihara ở Tokyo và
Thứ bảy, mặc dù đã có sự quan tâm và hành động rõ ràng của nhiều địa phương
về biến đổi khí hậu, nhưng cũng còn không ít chính quyền địa phương chưa thể hiện sự
nhiệt tình về vấn đề này. Điều này cho thấy một vấn đề quan trọng khác là cần xem xét
đối với những nhà lãnh đạo, ngoài sự lãnh đạo uy tín, cần có những ảnh hưởng đến mục
tiêu và chính sách giảm nhẹ biến đổi khí hậu.
Thứ tám, mặc dù trong quá khứ các quan chức chính phủ liên bang hoặc trong các
nước, chẳng hạn như nước Đức đã miễn cưỡng tổ chức các cuộc họp với những người
không phải là đối tác đồng cấp với họ ở cấp chính quyền quốc gia, ít nhất một số trường
hợp cũng đã được thay đổi. Các quan chức chính phủ Đức và chính phủ Anh đã gặp gỡ
và ký kết các hiệp định tương ứng với các thống đốc bang Florida và California.
Thứ chín, nhiều kế hoạch chính sách biến đổi khí hậu cần gắn liền với các ưu tiên
khác, chẳng hạn kế hoạch về hiệu quả năng lượng. Quản lý biến đổi khí hậu địa phương
thường được cấu trúc với sự trợ giúp các hành động đa mục tiêu (ví dụ như hiệu quả năng
lượng ở Trung Quốc hoặc tạo việc làm thông qua các lắp đặt các thiết bị mới ở các tòa
nhà trong các thành phố của Đức).
10
Cuối cùng, có rất nhiều ví dụ cụ thể về chính quyền địa phương đang có sự
chuyển động nhanh hơn và có ảnh hưởng lớn hơn đến quyết định của chính quyền trung
ương. Điều này dẫn đến kết luận quan trọng là hành động của chính quyền địa phương có
thể có tác động mạnh mẽ vượt xa quyền lực thi hành pháp lý của địa phương. Dù sao,
nhiều nghiên cứu có hệ thống về ảnh hưởng của chính sách quản lý địa phương về giảm
thiểu phát thải khí nhà kính vẫn cần tiếp tục được làm rõ.
Tài liệu tham khảo
Act to Provide Leadership in Addressing the Threat of Climate Change, Chap. 237, H.P.
622-LD. 845
Ann., Sec. 1. 38 MRSA c. 3-A (September 13, 2003).
Barrett, B. F. D., & Therivel, R. (1990). Environmental policy and impact assessment in
European Environment Agency. (2007). Greenhouse gas emission trends and projections
in Europe 2007: Tracking progress towards Kyoto targets (EEA Report No. 5). Retrieved
11
September 10, 2008, from
/>_projections_in_Europe_2007.pdf
Harrison, K., & Sundstrom, L. M. (Eds.). (2007). The comparative politics of climate
change [Special issue]. Global Environmental Politics, 7(4).
Jänicke, M., & Jacob, K. (2004). Lead markets for environmental innovations: A new
role for the nation state. Global Environmental Politics, 4(1), 29-46.
Kulish, N. (2008, August 6). Germany city wonders how green is too green. New York
Times, p. A8.
Linstroth, T., & Bell, R. (2007). Local action: The new paradigm in climate change
action. Burlington: University of Vermont Press.
Lundqvist, L. J., & Biel, A. (Eds.). (2007). From Kyoto to the town hall: Making
international and national climate policy work at the local level. London: Earthscan.
Miller, V. (2007, April 23). EU legislation (Standard Note SN/IA/2888 to the House of
Commons). London: House of Commons.
Morgenstern, R. D., & Pizer,W. A. (2007). Reality check: The nature and performance of
voluntary environmental programs in the United States, Europe, and Japan. Washington,
DC: RFF Press.
Pew Center on Global Climate Change. (n.d.). Regional initiatives. Retrieved September
10, 2008, from
354 The Journal of Environment & Development
Purvis, A. (2008, March 23). Is this the greenest city in the world? The Observer.
Retrieved September
10, 2008, from
Rabe, B. G. (2004). Statehouse and greenhouse: The emerging politics of American
from Rio. New York: Author.
Vogel, D. (1995). Trading up: Consumer and environmental regulation in a global
economy. Cambridge, MA: Harvard University Press.
The World Bank, Asia Sustainable and Alternative Energy Program. (n.d.). China:
Developing a green electricity scheme for Shanghai. Retrieved September 10, 2008, from
Miranda A. Schreurs is director of the Environmental Policy Research Centre and
professor of comparative politics at the Free University of Berlin. Her research deals with
comparative environmental politics in Europe, East Asia, and the United States.
Schreurs / Local and Subnational Climate Change Politics 355