Báo cáo thực tập hợp về Công ty cổ phần Gas Petrolimex - Pdf 11

PHẦN I
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY
1.1 Quá trình hình thành và phát triển.
1.1.1 Tên và địa chỉ Doanh nghiệp:
Tên tiếng việt: Công ty cổ phần Gas Petrolimex
Tên giao dịch: Petrolimex Gas Joint Stock Company.
Địa chỉ: 775 Đường Giải Phóng- Quận Hoàng Mai- Thành phố Hà Nội.
Các Chi nhánh trực thuộc tại các thành phố: Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn,
Cần Thơ.
1.1.2 Thời điểm thành lập, các mốc quan trọng trong quá trình hình thành
phát triển.
Công ty Gas Petrolimex thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam được
thành lập theo quyết định số 1653/ QĐ- BTM của Bộ thương mại ngày
25/12/1998. Sự ra đời của Công ty gắn liền với quá trình phát triển của Tổng
Công ty Xăng dầu Việt Nam.
Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam được thành lập từ năm 1956. Trong thời
gian thành lập đến những năm 80 Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam chỉ đơn
thuần đảm bảo cung cấp xăng dầu cho nền kinh tế nhưng từ năm 86 trở đi cùng
với sự đổi mới của Đảng và Nhà nước, Tổng Công ty Xăng dầu đã không ngừng
đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của mình. Trong thời kỳ này, nhiều ngành
kinh doanh mới được hình thànhtrong đó có ngành kinh doanh gas hoá
lỏng( LPG- Liquefied Petrolium Gas). Việc kinh doanh gas của Công ty bắt đầu
từ tháng 8 năm 1993 do phòng kinh doanh đảm nhận. Là một trong những công
ty đầu tiên cung cấp gas ra thị trường với hướng đi đúng đắn, thời gian đầu việc
kinh doanh ga của công ty rất phát triển, số lượng cung cấp ra thị trường tăng
liên tục từ 8000 tấn (năm 1994) đến 24000 tấn (năm 1995), chiếm 95% thị phần
nội địa.
Sau năm 1995, thị trường có sự tham gia của 17 công ty kinh doanh gas,
trong đó có cả công ty nước ngoài với ưu thế hơn hẳn về vốn nên công ty gặp
nhiều khó khăn, số lượng cung cấp giảm từ 45% xuống 30%. Trước tình hình
đó, Ban lãnh đạo Công ty đã đưa ra áp dụng một số mô hình làm tăng tính chủ

- Chỉ đạo, tổ chức mạng lưới kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường và định
hướng phát triển của Công ty: Xây dựng chất lượng cho ngành hàng, chỉ đạo
thống nhất, quản lý kinh doanh thông qua cơ chế định giá, địa điểm giao nhận
hàng, phân công thị trường, các định mức kinh tế kỹ thuật.
- Chỉ đạo phối hợp với các đơn vị trong công tác đầu tư liên quan đến việc xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại các đơn vị.
- Thực hiện các hoạt động kinh doanh đảm bảo an toàn về lao động, VSMT.
- Đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh
doanh của Công ty, thực hiện đầy đủ quyền lợi, chính sách chế độ về tiền lương,
2
BHXH cho công nhân viên theo Luật lao động và tham gia các hoạt động có ích
cho xã hội.
- Thực hiện kế hoạch nhà kinh tế nhằm sử dụng hợp lý lao động, tài sản vật tư,
tiền vốn, đảm bảo hiệu quả trong kinh doanh, thực hiện đầy đủ các hợp đồng
kinh tế ký kết với bạn hàng, chấp hành pháp lệnh kế toán thống kê, thực hiện
đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, bảo toàn về vốn.
1.2.2. Các loại hàng hoá, dịch vụ chủ yếu Doanh nghiệp đang kinh doanh
Mặt hàng chủ yếu của Công ty là bao gồm: gas, bình gas, gas rời, các phụ
kiện ống dẫn gas, kẹp dây gas và các sản phẩm phụ khác. Đây chính là những
mặt hàng tạo thành một tuyến mặt hàng nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng gas của
khách hàng. Về hình thái sản phẩm được chia làm 3 loại:
- Sản phẩm gas dân dụng: gas bình 4kg, 9kg,12kg, 13kg.
- Sản phẩm gas thương mại: gas bình 48kg
- Sản phẩm gas công nghiệp: gas rời (gas bồn)
1.3 Công nghệ sản xuất của sản phẩm
Do đặc điểm ngành nghề của Công ty là kinh doanh và xuất nhập khẩu gas
nên quy trình công việc không phức tạp và được thực hiện bán tự động.
1.3.1 Quy trình đóng nạp gas:
Áp dụng đối với những bình đạt tiêu chuẩn tức là những bình gas đã được
khẳng định trong khoảng thời gian không quá 5 năm, vỏ bình không bị méo mó,

ráp nhanh, ấn nút kích van đóng nạp và điều chỉnh trọng lượng vỏ bình.
+ Giai đoạn thử rò rỉ: Bình gas sau khi đã đóng nạp theo băng tải đến hệ thống
kiểm tra độ kín bằng thiết bị tự động. Tại đây, người công nhân sẽ dùng nước xà
phòng xịt vào van bình để kiểm tra độ kín, nếu van bình bị hở tức là có khí gas
phụt ra thì người công nhân sẽ ấn nút điều khiển để đưa bình đó ra khỏi băng
chuyền. Những bình gas có rò rỉ đó sẽ được thu hồi lại gas và đưa sang xưởng
sửa chữa và kiểm định bình.
+ Giai đoạn kiểm tra trọng lượng: Qua giai đoạn thử rò rỉ, các bình gas sẽ được
cân kiểm tra trọng lượng xem có đủ hay không. Nếu bình nào đủ thì tự động
theo băng tải sang giai đoạn sau, còn những bình không đủ hay vượt quá khối
lượng từ 0.2kg trở lên sẽ được đưa trở lại giai đoạn nạp để nạp đủ hoặc lấy bớt
gas ra khỏi bình.
+ Giai đoạn niêm phong: Bình gas đủ khối lượng sẽ đi qua thiết bị dập niêm
phong tự động. Tại đây, bình đã đạt tiêu chuẩn đảm bảo tiêu chuẩn an toàn cho
người tiêu dùng. Bình gas sau khi niêm phong sẽ được đưa ra nơi tập kết chờ
xuất xưởng.
* Quy trình công nghệ kiểm định, bảo dưỡng bình gas
Đối với bình gas không đạt tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh cho phép nhưng vẫn
còn có thể sử dụng được sẽ được đưa sang xưởng kiểm định và bảo dưỡng. Trải
qua các giai đoạn sau:
- Rút gas lỏng và gas hơi: Bình gas được thu thập sau quá trình sử dụng đều
được kiểm tra và rút hết gas. Việc rút gas được thực hiện bằng máy tự động,
người lao động chỉ lắp đầu nối của máy vào van bình và kích máy hoạt động.
4
Rút gas
lỏng, gas
hơi
Thử thuỷ
lực
bắn bi

1.5.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Cơ cấu tổ chức của Công ty theo kiểu trực tuyến chức năng. Cơ cấu này đạt
được tính thống nhất trong mệnh lệnh, nâng cao trách nhiệm quản lý. Hệ thống
chỉ huy trực tuyến từ Hội đồng quản trị đến giám đốc, đến chi nhánh, các cửa
hàng trực thuộc và đến các kho. Hệ thống phòng ban chức năng có nhiệm vụ
tham mưu cho các cán bộ trực tuyến.
Các chi nhánh tại các khu vực được phân cấp triệt để, có thể hoàn toàn chủ
động trong việc tổ chức bán hàng, tuyển dụng lao động, phát triển thị trường....
5
1.5.2 Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty
1.5.3 Chức năng và nhiệm vụ cơ bản của các bộ phận
* Hội đồng quản trị
- Do các cổ đông bầu ra.
- Là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty quyết định mọi
vấn đề có liên quan đến quyết định, quyền lợi của Công ty.
* Ban giám đốc
- Nhận vốn, tài sản đất đai, tài nguyên do cấp trên giao.
- Xây dựng các chiến lược phát triển, lập kế hoạch dài hạn và ngắn hạn.
- Tổ chức điều hành hoạt động của Công ty, chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh trước cấp trên.
* Phòng tổ chức hành chính:
- Tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh.
- Bố trí, sắp xếp quản lý lao động, giải quyết các chính sách đối với người lao
động.
- Bảo vệ nội bộ, thanh tra kiểm tra, đảm bảo an ninh trật tự, ATVSLĐ...
6
Hội Đồng Quản Trị
Ban Giám Đốc
Phòng bán
hàng và

- Lập kế hoạch soạn thảo văn bản và theo dõi việc thực hiện các hợp đồng
* Phòng tài chính kế toán:
- Tổ chức thực hiện, chỉ đạo hướng dẫn các đơn vị trực thuộc Công ty thực hiện
đúng chế độ chế độ kế toán phù hợp với qui định của Nhà nước.
- Kiểm soát tình hình tài chính, quản lý các loại vốn; rà soát các công nợ..
- Cung cấp số liệu cho các phòng ban có liên quan, lập báo cáo theo đúng mẫu
qui định.
* Phòng quản lý kỹ thuật:
- Quản lý kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, chất lượng công trình xây dựng; quản
lý máy móc thiết bị của các đơn vị thuộc Công ty.
- Lập dự án xây dựng mới; cải tạo, mở rộng công trình phục vụ sản xuất kinh
doanh toàn Công ty.
- Dự toán, quyết toán, giám sát thi công các công trình,các hạng mục sửa chữa
lớn.
* Phòng kinh doanh:
- Phòng kinh doanh có chức năng tham mưu giúp Giám đốc tổ chức, quản lý, chỉ
đạo, điều hành hoạt động kinh doanh oàn Công ty.
- Xây dựng chiến lược và mục tiêu kinh doanh toàn Công ty.
- Tìm hiểu, khai thác, thu thập và xử lý thông tin về thị trường.
- Phát triển thị trường, triển khai công tác quảng cáo, tiếp thị.
* Các chi nhánh:
- Chi nhánh là đơn vị trực thuộc Công ty đồng thời là đại diện Công ty tại địa
bàn tỉnh thành phố có trách nhiệm thực hiện mục tiêu kinh doanh cung cấp H ra
thị trường và phát triển thị trường đó.
- Ký kết các hợp đồng kinh tế theo uỷ quyền của Giám đốc Công ty.
- Quản lý hệ thống kho cầu cảng, nhập hàng.
- Tổ chức thực hiện công tác quảng cáo, khuyến mại hoặc tham gia hội chợ theo
kế hoạch và chỉ đạo của Công ty.
- Hỗ trợ về tổ chức dịch vụ và hướng dẫn kỹ thuật sử dụng gas cho các đại lý,
tổng đại lý.

6
),
butan(C
4
H
10
) được hoá lỏng. Để nhận biết mùi của nó, người ta thường trộn
thêm hoá chất trong quá trình xử lý. Gas khi mới khai thác không thể sử dụng
ngay được mà phải được hoá lỏng và đóng trong các bình chịu tải. Hiện nay ở
các nước phát triển, gas là nhiên liệu chính trong sinh hoạt hàng ngày, chiếm
90%. Nó có ưu điểm hơn hẳn so với các nhiên liệu khác về tinh vệ sinh, tiết
kiệm thời gian do hiệu suất toả nhiệt lớn. So với than, củi thì gas có chi phí khá
cao nhưng sử dụng an toàn và sạch hơn còn so với điện thì gas lại an toàn và rẻ
hơn.
Ngoài ra, Công ty còn có thêm dịch vụ taxi chạy bằng gas với chi phí sử
dụng sẽ tiết kiệm được khoảng 30%- 40% so với xe dùng loại chạy xăng. Khí
còn lại có thể chạy thêm được 3- 4km nữa. Đây là một ưu điểm nữa của xe chạy
gas khắc phục nhược điểm của xe chạy xăng là hết nhiên liệu là dừng lại và hạn
chế được ô nhiễm môi trường do xăng gây ra.
2.1.2 Kết quả tiêu thụ qua từng thời kỳ của Công ty
Bảng 1: Số liệu tiêu thụ sản phẩm chủ yếu qua các năm
Nguồn: Phòng kinh doanh
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm2002 Năm 2003 2002/2001 2003/2002
kg % kg % kg % % %
Tổng SL 82.188.161 100 92.240.116 100 119.121.432 100 112,23 129,14
Bình 4-9kg 186.242 0,23 134.207 0,15 135.626 0,11 72,06 101,06
Bình 12kg 6.833.074 8,31 5.220.790 5,66 5.391.804 4,53 76,04 103,28
Bình 13kg 21.652.926 26,35 20.403.513 22,12 21.732.689 18,24 94,23 106,51
Bình 48kg 6.396.392 7,78 8.541.534 9,26 10.956.646 9,20 133,54 128,27
Gas rời 47.119.527 57,33 57.940.072 62,81 80.904.667 67,92 122,96 139,64

đối với khách hàng, nâng cao hiệu quả tiêu thụ.
Thị trường miền Nam là nơi đóng góp nhiều nhất vào tổng doanh thu của
Công ty, chiếm khoảng 47% mặc dù thị phần của Công ty ở thị trường này có
15%. Đây là nơi có nhu cầu rất lớn về sử dụng gas do lượng dân đông và thu
nhập bình quân cao nhất so với hai miền Bắc và miền Trung. Do đó, Công ty
luôn tìm cách để giữ vững và phát triển thị phần, tăng doanh thu ở khu vực này.
Trái với thị trường miền Nam là thị trường miền Trung. Mặc dù ở thị trường
này, Công ty chiếm được 32% thị phần nhưng tỷ trọng đóng góp vào doanh thu
10
của Công ty chỉ chiếm 18%. Và nguyên nhân do đây là khu vực có nền kinh tế
kém phát triển nhất trong cả nước, bình quân thu nhập trên đầu người còn rất
thấp. Tuy nhiên, trong tương lai, nền kinh tế ở đây sẽ phát triển mạnh và khi đó
nhu cầu về gas sẽ tăng lên. Đây chính là thị trường tiềm năng trong tương lai của
Công ty.
Đối với thị trường miền Bắc, Công ty đang phải tập trung cạnh tranh gay gắt
đối với các hãng lớn. Sản phẩm chủ yếu của Công ty ở thị trường này là gas
công nghiệp. Đây là, thị trường khá lớn mạng lại lợi nhuận khá nhiều cho Công
ty do giảm được chi phí trung gian.
Bảng 2 Cơ cấu mặt hàng theo thị trường tiêu thụ
Nguồn: Phòng kinh doanh
Mặt hàng
MiềnB
ắc
Miền
Trung
Miền
Nam Tổng
kg % kg % kg % kg %
Gas bình 10.295.596 26,4 5.350.312 25,77 22.570.857 38,02 38.216.765 32,08
Gas rời 28.704.762 73,6 15.412.553 74,23 36.787.352 61,98 80.904.667 67,92

lẻ trên cơ sở giá trần, theo quy định của Nhà nước và căn cứ vào tình hình giá cả
trên thị trường.
Để cạnh tranh với các hãng kinh doanh gas và thúc đẩy, giữ vững thị trường
Công ty đã đưa ra một số chính sách giá bán như sau:
- Giảm giá đối với khách hàng mới, các khách hàng thuộc hội tham gia hợp tác
với Công ty như: Hiệp hội Gốm sứ xây dựng Việt Nam, ...
- Đối với thị trường, Công ty có các chính sách thâm nhập thị trường thông qua
chính sách giá bán hoặc các dịch vụ kỹ thuật, hỗ trợ bán hàng...
- Giảm giá bán gas theo số lượng mua hàng trong tháng đối với những khách
hàng tổng đại lý, đại lý, bán buôn...
Với các chính sách giá này, Công ty đã dần nâng cao được sức cạnh tranh
của mình trên thị trường LPG Việt Nam.
2.1.5 Hệ thống phân phối sản phẩm
Công ty cổ phần Gas có thị trường trải rộng khắp toàn quốc, vì vậy lựa chọn
kênh phân phối tiêu thụ và tổ chức phân phối sản phẩm đóng vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc đưa sản phẩm tới người tiêu dùng. Lựa chọn kênh bán
hàng hợp lý và tổ chức phân phối tốt sẽ đảm bảo cho sản phẩm đáp ứng được
yêu cầu về giá, số lượng, chất lượng, thời gian, địa điểm cho người tiêu dùng,
nâng cao hiệu quả tiêu thụ của Công ty.
Hiện nay, Công ty sử dụng các kênh bán hàng sau:
* Kênh bán hàng trực tiếp( không cấp): Công ty → khách hàng
Đây là kênh bán hàng tương đối lớn, Công ty kí hợp đồng trực tiếp với các
khách hàng như: bán buôn, bán tái xuất sang Campuchia....với mặt hàng chủ yếu
là gas bồn và gas bình 48kg. Bán hàng trực tiếp giúp Công ty có được mối quan
hệ thường xuyên với khách hàng, đảm bảo các thông tin chính xác và kịp thời.
12
Ngoài ra, còn đảm bảo được khả năng cạnh tranh cao hơn vì không bị san sẻ lợi
nhuận → giá bàn phù hợp hơn.
*Kênh bán hàng gián tiếp( từ một cấp trở nên)
- Kênh 1: Công ty → Bán buôn → Cửa hàng bán lẻ → Khách hàng

cũng chiếm tỷ trọng tương đối, các hình thức khác chiếm tỷ trọng không đáng
kể.
13
- Năm 2002, tổng sản lượng bán ra của Công ty đạt 92.240.116kg tăng
10.051.955 với tỷ lệ 12,23% so với năm 2001. Trong đó:
+ Sản lượng bán lẻ đạt 3.892.532kg chiếm tỷ trọng 4,22% tăng 1.727.391kg với
tỷ lệ 79,78 % so với năm 2001.
+ Bán buôn đạt 38.418.008kg chiếm 41,65% tăng 1.776.179kg so với năm 2001
tỷ lên tăng là 4,85%.
+ Sản lượng bán đại lý đạt 24.417.996kg chiếm 26,47% tăng 4.863.298kgso với
năm 2001 tỷ lệ tăng 24,87%.
+ Bán qua các Công ty xăng dầu đạt 19.554.904kg chiếm 21,20% tăng
2.449.567kg so với năm 2001 với tỷ lệ 14,66%.
+ Sản lượng bán qua việc đóng bình cho các hãng khác đạt 3.486.676kg chiếm
3,77% so với năm 2001 giảm 884.480kg với tỷ lệ giảm 20,23%.
+ Bán tái xuất sang Campuchia chiếm tỷ trọng 2,67% đạt 2.470.000kg tăng
70.000kg với tỷ lệ tăng 2,92%
Nhìn chung, Công ty đã thực hiện khá tốt tình hình tiêu thụ hàng hoá. Đây là
kết quả của chính sách đầu tư bán hàng đúng hướng, tiếp thị, bám sát khách
hàng góp phần đưa Gas Petrolimex lên vị trí số một về thị phần gas tiêu thụ
trong cả nước. Tuy nhiên, ta thấy tỷ lệ bán buôn tăng không đáng kể( 4,85%).
Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu là do thị trường gas bán buôn của Công
ty được thiết lập ổn định từ năm 2001. Do đó, Công ty cần tìm kiếm thêm các
thị trường tiềm năng còn bỏ ngỏ để nâng cao sản lượng gas bán buôn.
Bên cạnh đó, sản lượng bán lẻ tăng đáng kể( 79,78%), điều đó cho thấy
Công ty đã có những chính sách đúng đắn để phát triển thị trường gas bán lẻ của
mình.
Năm 2002, Công ty đã vấp phải một số khó khăn trong lĩnh vực đóng bình
cho hãng khác do sự tham gia của Petro Việt Nam vào thị trường, sự lớn mạnh
của Shell Gas và chính sách mở của Nhà nước đối với khu vực kinh tế ngoài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status